Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng xã hội XHCN ở nước ta hiện nay - Pdf 28

W e b s i t e : h t t p : / / w w w . d o c s . v n E m a i l : l i e n h e @ d o c s . v n T e l : 0 9 1 8 . 7 7 5 . 3 6 8
mục lục
Trang
đặt vấn đề
1
Nội dung
2
1. Cơ sở lý luận
2
1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và quan điểm toàn diện
2
1.1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến-
2
1.1.2. Quan điểm toàn diện 4
1.2. Quan điểm toàn diện trong phân tích hình thái kinh tế- xã hội-
6
2. Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng xã hội xã hội
chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay
10
2.1. Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất ở nớc ta
11
2.1.1. Sự phát triển của lực lợng sản xuất
11
2.1.2. Xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất-
15
2.2. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng trong quá trình xây dựng xã hội xã hội
chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay
19
2.3. Mối liên hệ giữa sự phát triển kinh tế- xã hội của nớc ta với các nớc trong khu

xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Qua tiểu luận này tôi mong đây sẽ là một tài liệu tham khảo cho những ai
muốn quan tâm đến vấn đề tôi vừa nghiên cứu.
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài là rất rộng, không tránh khỏi những hạn
chế. Kính mong các thầy cô giáo đóng góp ý kiến cho bài viết đợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
2
Nội dung
1. Cơ sở lý luận
1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và quan điểm toàn diện
1.1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Quan điểm siêu hình xem xét các sự vật, hiện tợng trên thế giới tách rời
nhau, cái nào riêng cái nào riêng cái ấy, cái này bên cạnh cái kia, hết cái này đến
cái khác; giữa chúng không có sự phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, hoặc nếu có thì
chỉ là sự quy định lẫn nhau một cách giản đơn bên ngoài.
Ngợc lại, phép biện chứng duy vật xem xét mọi sự vật, hiện tợng là những
biểu hiện cụ thể của thế giới vật chất, thống nhất ở tính vật chất vốn có, nên chúng
luôn liên hệ chằng chịt lẫn nhau. Khái niệm liên hệ phản ánh sự phụ thuộc, ràng
buộc lẫn nhau, làm điều kiện, tiền đề cho nhau và quy định lẫn nhau của mọi sự
vật, hiện tợng. Khái niệm liên hệ còn phản ánh sự tác động qua lại của chúng.
Đó là kiểu liên hệ đặc biệt mà trong đó các sự vật, hiện tợng là đối tợng biến đổi
của nhau một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; nhờ đó, mà sự vận động, biến hóa của
thế giới đợc thực hiện thờng xuyên, liên tục.
Không những các sự vật, hiện tợng liên hệ với nhau mà các yếu tố, các bộ
phận cấu thành sự vật hiện tợng cũng liên hệ hữu cơ với nhau; không những các
giai độan trong một quá trình mà cả các qua trình trớc và qua trình sau trong sự
vận động, phát triển của thế giới nói chung và của từng sự vật, hiện tợng nói riêng
cũng luôn luôn liên hệ vứi nhau: không chỉ trong tự nhiên mà cả trong lĩnh vực đời
sống xã hội và tinh thần mọi sự vật, hiện tợng cũng luôn luôn liên hệ, tác động qua
lại với nhau. Chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ nơi đâu, ở bất cứ thời gian nào,

có mối liên hệ không cơ bản, chỉ đóng vai trò bổ sung. Trong từng giai đoạn phát
triển của sự vật, có mối liên hệ chủ yếu, lại có mối liên hệ thứ yếu. Các sự vật,
hiện tợng trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau; chính sự liên hệ, tác động
qua lại của các giai đoạn kế tiếp nhau ấy quyết định tính liên tục trong quá trình
vận động, biến đổi của chúng. Tùy theo sự tác động của đối tợng mà có mối liên
hệ thuận chiều hay ngợc chiều v.v.. Nh vậy sự liên hệ, tác động qua lại của các sự
4
vật, hiện tợng không những là vô cùng, vô tận mà còn rất phức tạp. Đặc biệt, trong
lĩnh vực xã hội, tính chất phức tạp của sự liên hệ, tác động qua lại đợc nhân lên do
sự đan xen, chồng chéo, chằng chịt lẫn nhau của vô vàn những hoạt động có mục
đích, có ý thức của con ngời. Chính vì thế, mà tạo ra nhiễu loạn, che mờ bản chất
của sự vật, hiện tợng, gây khó khăn cho nhận thức của con ngời. Nhng mặt khác,
tổng hợp các giao điểm của các mối liên hệ xã hội lại tạo thành những khuynh h-
ớng tất yếu; chúng là cơ sở để con ngời nhận thức và vận dụng các quy luật xã hội.
Tùy theo tính chất và vai trò của từng mối liên hệ mà có thể khá quát bằng
những khái niệm khác nhau. Sự khái quát này chỉ có nghĩa tơng đối vì tính chất
muôn vẻ và phức tạp của các mối liên hệ. Do đó, không thể xem xét một mối liên
hệ tách rời khỏi hệ thống của nó, hay không thể tuyệt đối hóa bất kỳ mối liên hệ
nào. Tất cả những hình thức liên hệ cần đợc nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi,
phát triển và chồng chéo lẫn nhau của chúng. Nghiên cứu các hình thức liên hệ
riêng biệt trong từng lĩnh vực là công việc của các ngành khoa học cụ thể khác
nhau, còn những mối liên hệ chung, phổ biến của thế giới là đối tợng của phép
biện chứng duy vật.
1.1.2. Quan điểm toàn diện
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi chủ thể phải có quan điểm toàn
diện khi xem xét các sự vật, hiện tợng. Quan điểm toàn diện là một trong những
nguyên tắc quan trọng nhất của phơng pháp biện chứng Macxit. Theo nguyên tắc
này, để nhận thức đợc đúng đắn sự vật, phải xem xét nó không chỉ ở ngay trong
bản thân nó, mà còn trong sự liên hệ, tác động qua lại với các sự vật, hiện tợng
khác; nghĩa là phải tính đến tổng hòa những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với

vật. Từ chỗ hiểu đợc bản chất của sự vật, phải quy lại, giải thích đợc các mối liên
hệ khác rồi liên kết chúng thành một hệ thống hoàn chỉnh. Chỉ đến khi đó, chủ thể
mới hiểu đợc thấu đáo sự vật.
Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải chống lại cách xem xét phiến diện, siêu
hình, chỉ thấy một mặt mà không thấy nhiều mặt. Cách xem xét nh vậy sẽ không
nhận thức đợc bản chất cảu sự vật một cách đúng đắn.
1.2. Quan điểm toàn diện trong phân tích hình thái kinh tế- xã hội
Hình thái kinh tế- xã hội
6
Hình thái kinh tế- xã hội là phạm trù chỉ một kiểu hệ thống xã hội ở một
giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, có tính xác định về chất, là sự thống nhất
của tất cả các yếu tố, một cơ cấu hoàn chỉnh luôn luôn vận động thông qua sự tác
động biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thợng tầng.
Phạm trù hình thái kinh tế- xã hội đặt cơ sở nguyên tắc phơng pháp luận
khoa học để nghiên cứu tất cả các mặt của xã hội. Chẳng những nó chỉ ra bản chất
của một xã hội cụ thể, phân biệt chế độ xã hội này với chế độ xã hội khác, mà còn
thấy đợc tính lặp lại, tính liên tục của mối liên hệ giữa ngời với ngời trong quá
trình sản xuất và sinh hoạt ở những xã hội khác nhau. Nói cách khác, phạm trù
hình thái kinh tế- xã hội cho phép nghiên cứu xã hội cả về mặt loại hìnhvà về mặt
lịch sử.
Khi nghiên cứu hình thái kinh tế- xã hội, nắm bắt đợc bản chất của một xã
hội, ta sẽ vận dụng nó ngợc trở lại để giải thích, nghiên cứu cho một xã hội hiện
thực, đây là sự vận dụng quan điểm toàn diện vào phân tích hình thái kinh tế- xã
hội.
Hình thái kinh tế- xã hội có kết cấu phức tạp nhng gồm các yếu tố cơ bản
nhất là lực lợng sản xuất, các quan hệ sản xuất và kiến trúc thợng tầng. Ba yếu tố
này có liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó:
Quan hệ sản xuất là bộ xơng, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt hình
thái kinh tế- xã hội này với hình thái kinh tế- xã hội khác. Nó đóng vai trò chi phối

thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển. Khi quan hệ sản xuất không phù hợp với
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất (lạc hậu, lỗi thời hoặc vợt trớc qua xa) sẽ
kìm hãm, cản trở sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giai cấp và chỉ thông qua đấu tranh
giai cấp mới giải quyết đợc mâu thuẫn này. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là quy luật phổ biến trong mọi xã hội, làm
cho xã hội loài ngời phát triển từ thấp đến cao.
Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng:
8
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thợng tầng: Cơ sở hạ tầng nào thì sẽ
sinh ra kiến trúc thợng tầng ấy. Bởi lẽ, quan hệ sản xuất quyết định các quan hệ
xã hội khác. Mâu thuẫn trong đời sống kinh tế, xét đến cùng, quyết định mâu
thuẫn trong lĩnh vực chính trị- t tởng. Cuộc đấu tranh giai cấp trong lĩnh vực t tởng
là biểu hiện của những đối kháng trong đời sống kinh tế. Cơ sở hạ tầng quyết định
sự hình thành, tính chất của kiến trúc thợng tầng. Cơ sở hạ tầng biến đổi, sớm hay
muộn cũng dẫn đến những biến đổi của kiến trúc thợng tầng. Sự quyết định của cơ
sở hạ tầng đối với kiến trúc thợng tầng diẽn ra phức tạp trong qua trình chuyển đổi
từ hình thái kinh tế- xã hội này sang hình thái kinh tế- xã hội khác.
Sự tác động trở lại của kiến trúc thợng tầng đối với cơ sở hạ tầng: Sự tác
động của kiến trúc thợng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện ở chức năng xã hội
của nó. Nghĩa là, kiến trúc thợng tầng thực hiện sự bảo vệ, duy trì, củng cố, phát
triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó; hoặc đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ tầng cũng nh
kiến trúc thợng tầng cũ. Các bộ phận khác nhau của kiến trúc thợng tầng đều tác
động đến cơ sở hạ tầng dới nhiều hình thức khác nhau. Bản thân các yếu tố, các bộ
phận của kiến trúc thợng tầng cũng tác động qua lại lẫn nhau. Sự tác động trở lại
của kiến trúc thợng tầng theo hai hớng, hoặc là kìm hãm, hoặc là thúc đẩy sự phát
triển của cơ sở hạ tầng. Khi kiến trúc thợng tầng tác động cùng chiều với các quy
luật kinh tế khách quan, nó sẽ thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển. Ngợc lại, sẽ kìm
hãm sự phát triển của cơ sở hạ tầng.

đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với
nhân dân tất cả các nớc trên thế giới.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến một cách sâu sắc
toàn diện những mặt, những bộ phận, những yếu tố của xã hội cũ, xây dựng và
củng cố những yếu tố của xã hội mới (xã hội chủ nghĩa). Trong thời kỳ quá độ còn
tồn tại cả những yếu, những bộ phận của xã hội cũ và xã hội mới tác động qua lại,
đan xen vào nhau.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ khi giai cấp vô sản giành đ-
ợc chính quyền cho đến khi xây dựng xong lực lợng vật chất cho xã hội xã hội chủ
nghĩa.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status