LUẬN VĂN:
Vai trò kinh tế của nhà nước trong
nền KTTT định hướng XHCN ở
nước ta hiện nay
Lời mở đầu
Sự chuyển đổi nền kinh tế thị trường (KTTT) theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước là xu hướng tất yếu của mọi xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện
nay khi mà nền kinh tế các nước phát triển trên thế giới đã đạt tới đỉnh cao và xu
hướng vận động phát triển của thế giới đang tiến vào thế kỷ văn minh trí tuệ thì sự
chuyển đổi KTTT theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước là tất yếu khách
Chính vì những điều đó, trong bài viết này em xin đề cập với "vai trò kinh tế
của nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay".
I/ Các lý thuyết về vai trò kinh tế của Nhà nước
1. Lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin về vai trò kinh tế của Nhà nước
Chủ nghĩa Mác Lê nin xem xét nền kinh tế dưới góc độ vĩ mô từ hiện tượng
đến bản chất. Chủ nghĩa Mác Lê nin cho rằng trong một nền kinh tế thì cần phải có
sự can thiệp của Nhà nước. Một nền kinh tế khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường có
rất nhiều khuyết tật. Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế nhằm hạn chế tối đa những
khuyết tật và phát huy cao độ những mặt tích cực của kinh tế phát triển. Theo Mác
nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì nền kinh tế không hoạt động bình
thường được, nó sẽ trở nên rối ren mất cân đối một cách nghiêm trọng.
Dưới chủ nghĩa Mác, Nhà nước không những chỉ có vai trò quản lý kinh tế mà
còn có vai trò điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô đảm bảo sự phát triển ổn định về nền
kinh tế, chống lạm phát và khuynh hướng tạo ra sự cân đối giữa các ngành nghề và
duy trì sự cân bằng đó Nhà nước kết nối giữa hai ngành nghề, cân đối giữa cung và
cầu, điều tiết sự lưu thông hàng hoá và tiền tệ.
Nhà nước đảm bảo tính hiệu quả cho sự phát triển, Nhà nước dùng các chính
sách tiền tệ, tài chính, tài khoá và các biện pháp đưa Khoa học kỹ thuật công nghệ
vào nền kinh tế thúc đẩy sự nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Với công cụ là hệ
thống luật pháp, Nhà nước sử dụng nhằm điều chỉnh nền kinh tế phát triển đúng
hướng, bảo đảm sự ổn định ngăn chặn những hiện tượng xấu không đáng có.
Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin là đúng đắn nhất.Trong bất kỳ
một quốc gia nào đều nhất thiết phải có sự tham gia điều tiết của Nhà nước. Nhà
nước điều chỉnh và duy trì xã hội thích nghi với những điều kiện mới và tạo ra những
điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế. Việt Nam ta theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin đã và đang xây dựng củng cố vai trò Nhà nước CHXHCNVN trong nền kinh
tế.
nhưng chủ nghĩa duy vật ở ông còn mang tính chất tự phát máy móc chưa biết phép
biện chứng duy vật ông thừa nhận các quy luật kinh tế khách quan và tư tưởng tự do
kinh tế. Ông đưa ra lý thuyết "Bàn tay vô hình" và nguyên lý "nhà nước không can
thiệp" vào hoạt động nền kinh tế. Theo ông "Bàn tay vô hình" chính là quy luật kinh
tế khách quan tự phát hoạt động chi phối hoạt động của con người. Hệ thống các quy
luật kinh tế khách quan đó còn gọi là "Trật tự tự nhiên". Theo ông nền kinh tế phải
phát triển trên cơ sở tự do kinh tế sự vận động của thị trường do quan hệ cung cầu
và sự biến đổi tự phát của giá cả hàng hoá trên thị trường. Smith cho rằng chế độ xã
hội mà trong đó tồn tại sản xuất và trao đổi hàng hoá là một chế độ bình thường, nền
kinh tế bình thường là nền kinh tế phát triển trên cơ sở tự do cạnh tranh. Theo ông
chế độ bình thường được xây dựng trên cơ sở "trật tư tự nhiên". Chế độ không bình
thường là sản phẩm của sự dốt nát.
Nếu Quesnay cho rằng "luật tự nhiên" chỉ trở thành hiện thực trong những điều
kiện thuận lợi thì A.Smith cho rằng "Trật tự tự nhiên" được thể hiện trong mọi xã hội
không phụ thuộc vào điều kiện nào. Theo ông qui luật kinh tế là vô định. Mặc dù
chính sách kinh tế có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự tác động của qui luật kinh tế
nhưng Smith cho rằng sự phát triển bình thường là sự tự điều tiết không cần có sự
can thiệp của Nhà nước vào kinh tế. Theo Ông Nhà nước có những chức năng sau:
- Bảo vệ xã hội chống lại bạo lực và bất công của các dân tộc khác.
- Bảo vệ mọi thành viên trong xã hội tránh khỏi bất công và áp lực của thành
viên khác.
- Đôi khi Nhà nước cũng thể hiện một vào chức năng kinh tế khi những nhiệm
vụ này vượt quá khả năng của những nghiệp riêng biệt như xây dựng kết cấu hạ tầng,
công trình công cộng lớn
Như vậy Smith cho rằng sự hoạt động của "bàn tay vô hình" sẽ đưa nền kinh tế
đến sự cân bằng mà không cần sự can thiệp của Nhà nước và chính phủ cũng không
nên can thiệp làm gì.
mờ nhạt. Các học thuyết của họ áp dụng rộng rãi vào kinh tế, tư tưởng của họ nặng
về mặt lượng và bỏ qua mặt chất. Như vậy họ không thể chỉ ra một cách hoàn chỉnh
các qui luật các phạm trù kinh tế. Họ đưa ra lý thuyết kinh tế tự điều chỉnh vì vậy
quan điểm của họ là không cần đến sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Họ
tin tưởng chắc chắn vào cơ chế thị trường tự phát sẽ đảm bảo thăng bằng cung cầu
đảm bảo cho nền kinh tế phát triển. Như vậy quan điểm của trường phái này có rất
nhiều giới hạn và đựơc gọi là trường phái giới hạn.
4. Lý luận của trường phái Keynes
Vào 30 của thế kỷ 20 khủng hoảng kinh tế diễn ra thường xuyên. Tình trạng
thất nghiệp nghiêm trọng đã làm cho các lý thuyết tự điều chỉnh kinh tế của trường
phái cổ điển tân cổ điển tỏ ra kém hiệu quả. Thực tiễn chứng minh rằng các lý thuyết
kinh tế cho rằng sự hoạt động của các qui luật kinh tế khách quan sẽ tự điều tiết nền
kinh tế và đưa đến sự cân bằng mà không cần đến sự can thiệp của Nhà nước tỏ ra
thiếu tính chất xác đáng. Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất và sự xã
hội hoá lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có sự can thiệp điều chỉnh của Nhà nước đối
với sự phát triển kinh tế. Trước thực tế đó học thuyết "chủ nghĩa tư bản được điều
tiết" của John M. Keynes (1883 - 1946) ra đời.
Đặc trưng nổi bật của Keynes là phương pháp phân tích vĩ mô trong sự phân
tích kinh tế. Keynes cho rằng việc phân tích kinh tế phải xuất phát từ tổng lượng lớn
để nghiên cứu mối liên hệ giữa các tổng lượng và khuynh hướng vận động của
chúng. Keynes đánh giá cao vai trò điều tiết của Nhà nước và xem nhẹ cơ chế tự điều
tiết của thị trường. Keynes không tán đồng quan điểm của trường phái cổ điển và tân
cổ điển về sự cân bằng kinh tế dựa trên cơ sở tự điều tiết của thị trường. Ông cho
rằng khủng hoảng và thất nghiệp do chính sách lỗi thời không can thiệp của Nhà
nước, tự do kinh tế gây ra. Theo ông muốn có cân bằng kinh tế, Nhà nước phải can
thiệp kinh tế thể hiện điều chỉnh kinh tế. Ông cho rằng Nhà nước phải điều tiết ở tầm
vĩ mô mới giải quyết được việc làm tăng thu nhập, khuyến khích đầu tư và giảm tiết
tự điều tiết trong môi trường cạnh tranh. Nổi bật cơ chế thị trường là cơ chế có rất
nhiều ưu điểm:
- Cơ chế thị trường là cơ chế năng động nhạy cảm có khả năng tự động điều tiết
nền sản xuất xã hội tức là sự phân bổ sản xuất vào các khu vực các ngành kinh tế
hay sản xuất cái gì như thế nào đều do thị trường quyết định mà không cần bất cứ sự
điều khiển nào.
- Cơ chế thị trường đáp ứng được những nhu cầu đa dạng phức tạp của người
tiêu dùng, tự động kích thích sự phát triển của sản xuất, tăng cường chuyên môn hoá
sản xuất.
- Cơ chế thị trường mang tính hiệu quả cao: Các doanh nghiệp muốn thu được
lợi nhuận cao thì đòi hỏi phải tiết kiệm chi phí sản xuất, kích thích tiến bộ của
KHKTCN.
- Cơ chế thị trường thúc đẩy sự cạnh tranh làm cho sản phẩm hàng hoá có chất
lượng cao hơn, giá thành các sản phẩm giảm.
Bên cạnh những mặt tích cực trên cơ chế thị trường còn rất nhiều khuyết tật
và mâu thuẫn như sau:
- Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết chạy theo lợi nhuận, các nhà sản xuất,
sản xuất quá nhiều một loại sản phẩm hàng hoá vào đó gây ra ế thừa dẫn đến sự
khủng hoảng lãng phí.
- Cơ chế thị trường gây mất cân bằng xã hội. Tính cạnh tranh của cơ chế làm xã
hội làm xã hội phân hoá giàu nghèo, giai cấp.
- Cơ chế thị trường gây mất ổn định mất cân đối trong sản xuất xã hội. Thực tế
cho thấy cơ chế thị trường là nguyên nhân của các vấn đề lạm phát và thất nghiệp.
- Cơ chế thị trường gây ra các phế thải làm ô nhiễm môi trường.
- Các doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận bất chấp tất cả làm hàng giả lậu thuế
b. Tính tất yếu khách quan của việc chuyển đổi hàng hoá sang KTTT có sự
quản lý của Nhà nước.
các viện trợ vốn và hàng hoá từ nước ngoài. Khi nguồn viện từ nước ngoài giảm và
chấm dứt, nền kinh tế không theo kịp đà rơi vào khủng hoảng sản xuất trì trệ đình
đốn, hàng hoá khan hiếm, giá cả cao dẫn đến lạm phát có thời kỳ lạm phát vượt mức
700% đời sống người lao động ngày càng khó khăn hơn.
Mặt khác cũng trong thời kỳ này nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực
đang phát triển mạnh. Nền kinh tế ở các nước công nghiệp mới phát triển, nghiên
cứu chủ yếu là thành phần kinh tế tư bản tư nhân và Nhà nước chỉ đóng vai trò hướng
dẫn đền kinh tế phát triển thông qua các kế hoạch trung hạn và dài hạn. Nhà nước
không can thiệp trực tiếp mà tạo điều kiện để các doanh nghiệp cạnh tranh tự do trên
thị trường. Chính vì vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước này là rất cao, đời
sống nhân dân nâng lên rõ rệt.
Trước sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng, trước xu hướng phát triển liên tục của
các nước trog khu vực và trên thế giới đặt nền kinh tế nước ta tới sự bức bách phải
đổi mới.
Từ đại hội VI, của Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần và thực hiện chuyển đổi cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế thị trường định hướng
XHCN. Đến đại hội VII, Đảng ta xác định rõ việc chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung sang nền KTTT định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Xem
xét dưới góc độ khoa học, việc chuyển đổi này là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với
thực tế của nước ta, phù hợp với các quy luật kinh tế với xu thế của thời đại.
2. Đặc trưng của nền KTTT ở nước ta hiện nay.
Chuyển nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung hành chính
quan liêu bao cấp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là nội dung bản chất và đặc
điểm khái quát nhất của nước ta trong giai đoạn hiện nay và cả tương lai.
a. Trên thực tế nền KTTT có những đặc trưng cơ bản sau đây:
kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng thiếu.
- Nền kinh tế một thành phần kinh tế trước kia đang chuyển sang nền kinh tế 5
thành phần với các hình thức sở hữu khác nhau nhưng sự hoạt động này chưa đồng
đều và chưa có đủ điều kiện để phát triển.
- Cơ chế tài chính, tiền tệ, tín dụng, giá cả, tỷ giá từng bước được hình thành và
đổi mới
- Tuy nhiên cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay còn thiếu đồng bộ mang tính
tự phát.
Nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, sự quản lý tỏ ra yếu kém và không có hiệu
quả. Tình trạng quan liêu thiếu hiểu biết thậm chí trì trệ bảo thủ cửa quyền vẫn tồn tại
trước sự đổi mới nền kinh tế. Sự hình thành và vận động của KTTT mang những yếu
tố tự phát, cơ chế vận hành thô sơ tạo điều kiện cho kiểu làm ăn bất chính, tệ tham
nhũng và các mặt tiêu cực của thị trường có cơ hội phát sinh và phát triển.
Mặc dù nền kinh tế thị trường nước ta còn rất nhiều thiếu sót và yếu kém nhất là
trong điều hành vĩ mô "Nạn tham nhũng phổ biến trong bộ máy quản lý nhà nước các
cấp nhưng nhìn chung tính ổn định của nền kinh tế là nhân tố đảm bảo cho những
thành công kế tiếp.
Tuy vậy Đảng và Nhà nước ta cần phải nâng cao vai trò của mình hơn nữa trong
nền KTTT cần phải chuyển từ tác phong chỉ huy mệnh lệnh sang tác phong hỗ trợ tạo
môi trường và điều kiện cho thị trường phát triển, xử lý hài hoà giữa tăng trưởng kinh
tế với cân bằng ổn định, giữa phát triển kinh tế với việc thể hiện các chính sách xã
hội.
c. Để cho nền KTTT nước ta hoạt động một cách có hiệu quả và hoàn chỉnh
thì cần phải hướng nền KTTT tới những điểm sau:
- Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần nhưng nền kinh
tế Nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo. Sự quản lý điều tiết định hướng phát triển nền
KTTT của Nhà nước là thông qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô và vai trò
sự quảnlý của Nhà nước. Tuỳ theo mô hình tổ chức cụ thể ở mỗi nước mà phạm vi và
mức độ can thiệp của Nhà nước. Tuỳ theo mô hình tổ chức cụ thể ở mỗi nước mà
phạm vi và mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế là khác nhau.
Mọi nền kinh tế hiện đại kể cả kinh tế TBCN và XHCN đều đứng trước một
vấn đề nan giải của kinh tế vĩ mô đó là không có một nước nào trong thời gian dài lại
duy trì được tỷ lệ lạm phát thấp mà người lao động có đầy đủ việc làm trong điều
kiện tự do cạnh tranh vấn đề lạm phát và thất nghiệp là khuyết tật của cơ chế thị
trường do vậy cần phải có sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế để kìm chế lạm
phát và thất nghiệp ở tỷ lệ thích hợp tạo môi trường ổn định cho việc tăng trưởng
kinh tế một cách bền vững.
Đối với nước ta khi chuyển nền kinh tế sang nền kinh tế nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường là hoàn toàn cần thiết để khai thác và phát huy tiềm năng
sản xuất trong xã hội - song thực tiễn cho thấy, cùng với việc kích thích sản xuất phát
triển nền KTTT còn rất nhiều khuyết tật, nó là môi trường thuận lợi cho việc nảy sinh
và phát triển của nhiều tệ nạn xã hội. Nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những
mặt tiêu cực của KTTT giữ cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng, Nhà nước cần
thực hiện đầy đủ vai trò của mình trong quản lý kinh tế. Sự quản lý của Nhà nước
nhằm hướng sự phát triển kinh tế theo những mục tiêu phương hướng nhất định hạn
chế mặt tiêu cực và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường thông qua việc xây dựng
các hình thức sở hữu Nhà nước các chương trình khuyến khích đầu tư và tiêu dùng
cùng với việc sử dụng các công cụ kinh tế như tài chính tín dụng tiền tệ để điều tiết
nền kinh tế. Sự phối hợp giữa Chính phủ và thị trường trong một nền kinh tế hỗn hợp
nhằm bảo đảm sự phát triển có hiệu quả với mức tăng trưởng kinh tế nhanh.
Mặt khác nếu để nền KTTT tự do hoạt động không có sự kiểm soát của nhà
nước thì sẽ dẫn đến rất nhiều hậu quả. Nguy cơ khủng hoảng kinh tế là khôn lường.
Thị trường tự do hoạt động, giá cả theo thị trường leo thang, sản xuất tràn lan gây nên
khu vực từ đó mà phát triển tạo ra hướng đi đúng đắn nhất. Kinh nghiệm các nước
láng giềng - các nước công nghệ mới phát triển nghiên cứu cho thấy mặc dù nòng
cốt của nền kinh tế hàng hoá ỏ các quốc gia đó chủ yếu là các xí nghiệp tư nhân của
người bản xứ và người nước ngoài nhưng vai trò can thiệp của Nhà nước vào nền
kinh tế rất được chú trọng và đóng vai trò trong việc hướng dẫn nền kinh tế phát triển
thông qua các kế hoạch trung hạn và dài hạn. ở Nam Triều Tiên, Đài Loan,
Xingapo Nhà nước thể hiện hướng dẫn đầu tư bằng việc trợ cấp cho khu vực các
nền kinh tế mũi nhọn và chú trọng nền kinh tế quốc doanh. Nhà nước tạo điều kiện
cho các xí nghiệp này được tự do cạnh tranh trên thị trường. ở Thuỵ điển có đến 41%
lao động trong khu vực kinh tế quốc doanh và quan điểm của Nhật là sự cân bằng
giữa tự do kinh tế và can thiệp của Nhà nước. Có một điểm chung giữa những quốc
gia này là đều đã và đang rất phát triển nhờ con đường kinh tế đúng đắn của họ. Vai
trò kinh tế của mỗi quốc gia được thể hiện là khác nhau nhưng tựu chung lại đó chính
là nguồn gốc của sự phát triển kinh tế và là động lực để thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng nhanh chóng.
III. Chức năng và công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
1. Chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước.
Nhà nước với tư cách là nhà quản lý điều hành nền KTTT, Nhà nước giữ vai trò
quan trọng trong việc định hướng nền KTTT theo CNXH.
- Nhà nước điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô, Nhà nước tác động tới tổng cung
và tổng cầu của nền kinh tế tạo nên sự cân bằng giữa cung - cầu đảm bảo môi trường
kinh tế thuận lợi và ổn định nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế trong
từng xí nghiệp và trên phạm vi toàn xã hội.
- Nhà nước đảm bảo ổn định chính trị, lấy ổn định chính trị để phát triển kinh
tế. Nhà nước thiết lập khuôn khổ luật pháp đặc biệt là hệ thống pháp luật kinh tế, hệ
thống các chính sách kinh tế xã hội mà trước hết là các chính sách về tài chính tín
dụng ngân hàng tạo điều kiện cần thiết cho các hoạt động kinh tế. Một đất nước
năng lực tập trung và lực lượng dự trữ. Nhà nước kiểm soát và phân phối các nguồn
tài nguyên của đất nước để nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo vệ môi trường sinh
thái. Quản lý và kiểm soát tài sản quốc gia tại các doanh nghiệp nhà nước nhằm bảo
tồn và phát triển và duy trì sự hoạt động liên tục.
- Nhà nước chịu trách nhiệm xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo cho hoạt động
kinh tế bao gồm: cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, phương tiện vận chuyển, thông
tin liên lạc, dự trữ quốc gia ) cơ sở hạ tầng văn hoá xã hội như giáo dục, nghiên cứu
khoa học, bảo vệ môi trường nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế.
- Nhà nước kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng
tương đương và ngân hàng thương mại. Trong đó ngân hàng trung ương làm chức
năng dự trữ vừa làm chức năng điều tiết và kiểm soát lượng tiền được cung ứng
thông qua hệ thống ngân hàng thương mại điều khiển nền kinh tế có thể tránh được
khủng hoảng thất nghiệp và lạm phát.
- Mặt khác Nhà nước thông qua các chính sách ưu đãi thể hiện một số hình thức
hỗ trợ cho các lĩnh vực mà Nhà nước muốn ưu tiên phát triển . Nhà nước có chức
năng phân phối lại thu nhâp bằng các khoản thu từ thuế, phân phối lại của cải xã hội.
- Nhà nước đưa ra những đề tài nghiên cứu khoa học, nhập những tiến bộ của
KHKTCN vào sản xuất nhằm đưa nền kinh tế phát triển nhanh hơn.
- Nhà nước có vai trò điều chỉnh các quan hệ kinh tế, tác động tới quan hệ lao
động và thị trường lao động giới hạn thất nghiệp, sử dụng các khoản chi của chính
phủ để phát triển y tế, giáo dục, lập các quỹ phúc lợi, phân công lại lao động giữa các
ngành nghề và giữa các vùng.
Với tư cách là người đầu tư kinh doanh, Nhà nước trực tiếp tham gia vào việc
kinh doanh trong một số lĩnh vực.
- Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, Nhà nước là
người sở hữu đại biểu và quản lý các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc
doanh.
những trường hợp quan trọng và thật sự cần thiết nhà nước có thể đặt ra giá cho các
sản phẩm quan trọng, kiểm soát việc mua và bán ngoại tệ.
Với tư cách là người lập kế hoạch, Nhà nước tác động một cách trực tiếp vào
phương hướng đầu tư và phát triển kinh tế.
- Nhà nước xác lập những cân đối chung cơ bản trong quá trình phát triển kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Thông qua hệ thống các
phương hướng nhiệm vụ mục tiêu và chỉ tiêu được vạch ra trong các chiến lược kế
hoạch các chương trình phát triển kinh tế xã hội. Việc định hướng trước tạo điều kiện
cho nền kinh tế quốc dân phát triển cân đối nhịp nhàng với tốc độ và hiệu quả cao.
Nhà nước đưa ra các kế hoạch và trên thực tế đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để
các doanh nghiệp dự đoán được xu hướng biến đổi của thị trường mà hành động một
cách có lợi nhuận nhất trong khuôn khổ của thể chế thị trường.
Việc hoạch định và thể hiện các chính sách xã hội, các chương trình điều tiết
thu nhập đảm bảo sự thống nhất hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
hội. Việc hoạch định, xác lập kế hoạch hoá của Nhà nước trong nền kinh tế có những
tác dụng sau:
- Đề ra mục tiêu và những trật tự cho các chính sách kinh tế.
- Phát hiện ra những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục sửa chữa đảm bảo cho
nền kinh tế hoạt động một cách thông suốt.
- Định hướng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Nói tóm lại, Nhà nước có chức năng kinh tế rất lớn, điều hành quản lý ở tầm vĩ
mô nhưng đối với từng nước thì các chức năng đó thể hiện công dụng một cách khác
nhau tuỳ thuộc vào chế độ kinh tế của từng nước, tuỳ thuộc sự phát triển kinh tế của
nước đó ra sao mà sử dụng cho phù hợp.
2. Các công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
Để thể hiện một cách triệt để các chức năng của Nhà nước thì đòi hỏi Nhà nước
phải có hệ thống công cụ quản lý kinh tế. Hệ thống công cụ đó bao gồm hệ thống luật
pháp, các chính sách kinh tế (chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tài
Về phương diện lý luận, pháp luật là yếu tố quan trọng của kiến trúc thượng
tầng, có vai trò chính trị chi phối mạnh mẽ chính sách xã hội. Trước kia, nền kinh tế
nước ta là tập trung quan liêu bao cấp hệ thống pháp luật đưa ra như là mệnh lệnh vì
vậy vai trò của pháp luật đối với kinh tế là rất mờ nhạt. Đến nay khi chuyển nền kinh
tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì vai trò của pháp luật là rất to
lớn và thực sự đã phát huy sức mạnh. Nó không chỉ điều chỉnh quan hệ xã hội nói
chung mà đi sâu hơn pháp luật điều chỉnh quan hệ kinh tế nói riêng. Pháp luật đang
đóng vai trò của phương pháp điều chỉnh chính yếu đối với các quá trình kinh tế. Nó
mở đường cho các quan hệ kinh tế mới phát sinh, củng cố các quá trình đổi mới kinh
tế đảm bảo cho các quá trình này diễn ra có trật tự có hệ thống không thể đảo ngược
được. Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã sử dụng pháp luật như là một công cụ không
thể thay thế của quá trình CNH - HĐH trong nền KTTT mở, vừa đảm bảo hội nhập
quốc tế vừa đảm bảo định hướng XHCN. Quyền tự do kinh doanh sự bình đẳng của
các chủ thể kinh tế được ghi trong hiến pháp và trên thực tế quyền này hoạt động có
hiệu quả khi các chủ thể kinh tế hoạt động trong môi trường pháp lý bình đẳng. Nhà
nước sử dụng pháp luật đó kiểm soát quá trình vận động nền kinh tế từ quy luật giá
trị, quy luật cung cầu và quy luật tự do cạnh tranh là đặc thù của KTTT. Bài học về
khủng hoảng tài chính ở khu vực Đông Nam á bắt đầu từ Thái Lan sang Hàn Quốc,
Inđonêsia Đã chỉ rõ sự yếu kém của cơ chế kiểm soát đối với hoạt động tài chính
tiền tệ. Vì vậy vai trò pháp luật trong việc quy định chế độ kiểm tra giám sát của các
cơ quan Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh là cực kỳ quan trọng. Nó
còn cho phép nền KTTT của nước ta hoà nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế
một cách an toàn và có hiệu quả. Mặt khác Nhà nước còn sử dụng công cụ luật pháp
trong phân phối. Làm theo năng lực hưởng theo lao động vốn là nguyên tắc của
CNXH do vậy pháp luật tạo ra sự bình đẳng cho mọi cá nhân tạo điều kiện cho các cá
nhân được hưởng đúng với đóng góp của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh.
b. Các chính sách kinh tế
- Chính sách tài chính góp phần tích cực ổn định kinh tế vĩ mô: Để ổn định kinh
tế, đòi hỏi phải có một ngân sách Nhà nước lành mạnh mà các khoản chi được trang
trải từ thuế. Vì vậy Nhà nước đã sử dụng công cụ tài chính để kích thích sản xuất
hàng hoá phát triển đồng thời kết hợp với các công cụ quản lý vĩ mô khác để kiểm
soát và đẩy lùi lạm phát tạo môi trường thuân lợi cho nền kinh tế phát triển trong
trạng thái ổn định với hiệu quả cao.
* Chính sách tiền tệ: chính sách tiền tệ là một trong những chính sách lớn của
Nhà nước, là công cụ sắc bén để quản lý nền kinh tế thị trường, vai trò quan trọng
của chính sách tiền tệ được thể hiện.
- Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ để điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu
thông cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Ngân hàng Nhà nước có thể
áp dụng nhiều biện pháp để cho khối lượng tiền tệ tăng lên hoặc giảm xuống nhằm
duy trì mối quan hệ cân đối số hàng hoá với lượng tiền.
- Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ kết hợp chính sách tài chính thể hiện các
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tức là đẩy lùi lạm phát kìm chế lạm phát, ổn định tỷ
giá hối đoái giá trị tiền trong nước tạo môi trường ổn định cho tăng trưởng kinh tế
với nhịp độ cao về bền vững. Thông qua sự phối hợp hoạt động giữa ngân hàng Nhà
nước và ngân hàng thương mại để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đưa
vào sản xuất kinh doanh tạo ra việc làm, giảm tỷ lệ người thất nghiệp.
- Nhà nước sử dụng chính sách tài chính tiền tệ để điều tiết các hoạt động sản
xuất kinh doanh nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần
chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu"công nghiệp -
nông nghiệp - dịch vụ".Nhà nước phát triển thị trường tiền tệ ở nông thôn đáp ứng
nhu cầu phát triển của nông dân đưa nông nghiệp thành ngành sản xuất hàng hoá theo
cơ chế thị trường thể hiện chương trình xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước
đồng thời thông qua chính sách phát triển nhằm nâng cao đời sống nhân dân ỏ nông
thôn rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Thông qua hoạt động của thị