A-
LUẬN VĂN:
Thực trạng, giải pháp để phát
triển và hoàn thiện hoạt động kiểm
toán ở Việt Nam
Lời mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đă trở thành nhu cầu tất yếu đối
với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý của các doanh nghiệp. Hạch
toán kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh
tế, ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết cho các quyết định kinh tế. Nếu kế toán
làm nhiệm vụ tổ chức thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin, thì kiểm toán chính
Kiểm toán có nguồn gốc từ Latin là “Audit”. Nguyên bản “Auditing” gắn liền
với nền văn minh Ai cập và La mã cổ đại. Từ “Auditing” có nguồn gốc từ động từ
Latin “Audive”, nghĩa là “nghe”. Hình ảnh của kiểm toán cổ điển là việc kiểm tra
về tài sản, phần lớn được thực hiện bằng cách người ghi chép đọc to lên cho một
bên độc lập “nghe” rồi chấp nhận.
Các tác giả Alvin A.Arens và James K.Loebbecker trong giáo trình “kiểm toán
“ đã nêu một định nghĩa chung về kiểm toán như sau :
“Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và
đánh giá các bằng chưngs về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị
cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin
này với các chuẩn mực đã ddược thiết lập”.
Các thuật ngữ trong định nghĩa này được hiểu như sau:
1. Các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền:
Các chuyên gia này có thể là kiểm toán viên độc lập, kiểm toán viên nội bộ
hay kiểm toán viên Nhà nước. Tuy có những đặc đIúm khác nhau, song các kiểm
toán viên phải là những người độc lập và có thẩm quyền đối với đối tượng kiểm
toán. Kiểm toán viên cần phải độc lập về kinh tế và độc lập về quan hệ tình cảm
với lãnh đạo đơn vị đưọc kiểm toán.Tuy nhiên, tính độc lập không phải là khái
niệm tuyệt đối, nhưng nó phải là mục tiêu hướng tới và phải đạt được ở mức độ
nhất định nào đó.
2. Thu thập và đánh giá các bằng chứng:
Bằng chứng được định nghĩa một cách chung nhất là mọi thông tin mà kiểm toán
viên đã thu thập đẻe xác định các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị
có được trình bày và báo cáo phù hợp với các chuẩn mực được xây dựng hay
không.Quá trình kiểm toán thực chất là quá trình kiểm toán viên sử dụng các
phương pháp, các kỹ thuật kiểm toán để thu thập và đánh giá các bằng chứng cho
mục đích nói trên.
báo cáo kết quả bằng miệng(trong trường hợp cuộc kiểm toán tiéen hành cho một
người nào đó).
Định nghĩa chung về kiểm toán có thể được tóm tắt bằng sơ đồ sau: B - Phân loại kiểm toán:
Có thể phân loại kiểm toán theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Các
chuyên
gia đ
ộc
Thu
thập
và
đánh
giá
các
bằng
ch
ứn
Các thông tin
có thể định
đánh giá các thông tin có thể định lượng trong một cuộc kiểm toán hoạt động là một
việc mang nặng tính chất chủ quan.
Trong kiểm toán hoạt động, việc kiểm tra thường vượt ra khỏi phạm vi công tác kế
toán –tàI chính mà liên quan đến nhiều lĩnh vực.Vì vậy, kiểm toán hoạt động sử dụng
nhiều kỹ năng khác nhau: Kế toán, kinh tế, khoa học và kỹ thuật…Sản phẩm của kiểm
toán hoạt động là một bản báo cáo ccho người quản lý về kết quả kiểm toán và những
ý kiến đề xuát cải tiến hoạt động.
1.2. Kiểm toán tuân thủ (Compliance audit):
Mục đích của kiểm toán tuân thủ là xem xét bên được kiểm toán có tuân thủ theo
các thủ tục, các nguyên tắc, các quy chế mà các cơ quan có thẩm quyền cấp trên hoặc
các cơ quan chức năng của nhà nước đã đề ra hay không.Kiểm toán tuân thủ, vì vậy
còn có thể gọi là kiểm toán tính quy tắc.Các ví dụ về kiểm toán tuân thủ là:
+ Kiểm toán thế về việc tuân thủ các luật thuế ở các đơn vị.
+ Kiểm toán của các cơ quan chức năng của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà
nước, các đơn vị có sử dụng kinh phí của nhà nước về việc chấp hành các chính sách,
các chế độ, các quy định về mặt pháp lý…
+Kiểm toán việc chấp hành các đIều khoản của hợp đồng tín dụng đôia với các đơn
vị sử dụng vốn vay của ngân hàng.
v. v…
1.3. Kiểm toán các báo cáo tài chính (Audit of financial statement):
Là việc kiểm toán để kiểm tra và xác nhận tính trung thục, hợp lý của báo cáo tài
chính cũng như việc báo cáo tài chính có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế
toán dược thừa nhận rộng rãi hay không.Các báo cáo tài chính thường được kiểm toán
nhiều nhất là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu
chuyển tiền tệ, kể cả các bản ghi chú, thuyết minh bổ sung báo cáo tài chính.
Công việc kiểm toán báo cáo tài chính thường do các tổ chức kiểm toán chuyên
nghiệp thực hiện để phục vụ cho các nhà quản lý, Chính Phủ, các ngân hàng và chủ
cao cấp khác của đơn vị để bảo đảm hoạt động được hữu hiệu.ở những công ty rất lớn,
bộ phận kiểm toán nội bộ thậm chí còn trực thuộc Uỷ ban kiểm toán của hội đồng
quản trị. Uỷ ban này bao gồm một số thành viên của Hội đồng quản trị nhưng không
giữ chức vụ hay đảm trách công việc gì trong đơn vị.Tính chất độc lập giúp cho Uỷ
ban kiểm toán thực hiện chức năng giám sát của mình đối với mọi hoatj động của đơn
vị.
Tuy được tổ chức độc lập với bộ phận được kiểm tra, nhưng kiểm toán nội bộ là một
bộ phận của đơn vị nên không thể hoàn toàn độc lập với đơn vị được. Vì vậy, các báo
cáo của kiểm toán nội bộ được chủ doanh nghiệp rất tin tưởng nhưng ít có giá trị pháp
lý.
2.2. Kiểm toán Nhà nước (Government Audit):
Là công viêc kiểm toán trong do các cơ quan quản lý chức năng của Nhà
nước(tàichính, thuế, …) và cơ quan kiểm toán Nhà nước tiến hành theo luật
định.Kiểm toán Nhà nước thường tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ, xem xét việc
chấp hành các chính sách, luật lệ và chế độ của Nhà nước tạI các đơn vị sử dụng vốn
và kinh phí củaNhà nước (ngoàI ra, kiểm toán Nhà nước còn thựuc hiện kiểm toán
hoạt động nhằm đánh giá sự hữu hiệu và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sử dụng
vốn và kinh phí của Nhà nước).
Về mô hình tổ chức, cơ quan kiểm toán có thể trực thuộc Chính phủ (cơ quan hành
pháp), Quốc hội (cơ quan lập pháp) hoặc Toà án (cơ quan tư pháp). Chẳng hạn, ở Mỹ,
Văn phòng kế toán trưởng của Hoa kỳ (GAO) là một cơ quan trung lập trong ngành
lập pháp của chinhs quyền Liên bang. Tổ chức GAO có nhiệm vụ báo cáo và chịu
trách nhiệm trực tiếp với Quốc hội. Á Liên bang Đức, cơ quan kiểm toán nhà nước
liên bang cũng như của các bang đều do Quốc hội liên bang hoặc bang lạap ra nhưng
có vị trí độc lập đối với cả cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, do đó có vị trí
khách quan trong việc kiểm tra, giám sát các đơn vị sử dụng nguồn vốn do ngân sách
Nhà nước cấp. Kiểm toán Nhà nước do Quốc hội lập ra nhưng không phụ thuộc vào
báo cáo tài chính”. ậ Mỹ, kiểm toán viên độc lập được gọi là kế toán viên công cộng
và theo tiến sĩ Robert. N.Anthong, giáo sư trường ĐạI học Harvard thì: “ Kiểm toán là
việc xem xét, kiểm tra các việc ghi chép kế toán bởi các kế toán viên công cộng (được
thừa nhận, độc lập và ở bên ngoàI tổ chức được kiểm tra)”.
C – khái quát về quá trình kiểm toán.
Quá trình kiểm toán thường gồm ba giai đoạn: Lập kế hoạch kiểm toán, Thực
hiện kiểm toán và Hoàn thành kiểm toán.
1. Lập kế hoạch kiểm toán:
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên cần thiết cho mọi cuộc kiểm toán.
Kế hoạch kiểm toán bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
-Tập hợp những hiểu biết về hoạt động kinh doanh, hệ thống kế toán và hệ thống
kiểm soát nội bộ của khách hàng.
-Xác định mức độ tin cậy dự kiến đối với hệ thống kiểm soát nội bộ.
-Lập chương trình, xác định nội dung, thời gian và phạm vi của các phương pháp
kế toán sẽ được thực thi.
-Tổ chức phối hợp các bước công việctrong quá trình thực hiện kiểm toán.
Kế hoạch kiểm toán thích hợp sẽ giúp cho kiểm toán viên xác định được các vấn đề
trọng tâm cần tâpj trung chú ý, những bộ phận có thể có rủi ro, những vấn đề cần được
nhận biết để tránh sai sót và hoàn tất công việc nhanh chóng. Kế hoạch cũng giúp cho
việc sử dụng các trợ lý một cách có hiệu quả, phối hợp ăn ý giữa những người tham
gia kiểm toán và sử dụng có hiệu quả tư liệu của các chuyên gia hoặc kiểm toán viên
khác.
Phạm vi của kế hoạch tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ phức tạp của cuộc kiểm
toán, các kinh nghiệm kiểm toán lần trước của kiểm toán viên, cũng như các hiểu biết
của kiểm toán viên về đặc thù hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán gồm các công việc sau:
-Lập kế hoạch chiến lược (kế hoạch chung)
bước kiểm toán tuân thủ. Kết quả của việc áp dụng phương pháp này là căn cứ để
kiểm toán viên mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi các bước kiểm toán cơ bản.
-Thực hiện các thử nghiệm cơ bản(các bước thử nghiệm theo số liệu-Substantive
Procedure)và đánh giá kết quả.Các bước kiểm nghiệm cơ bản bao gồm thủ tục phân
tích đánh giá tổng quát và việc thử nghiẹm để kiẻem tra chi tiết các nghiệp vụ và các
số dư tài khoản.Các thử nghiệm cơ bản sẽ cung cấp những bằng chứng về sự trung
thực và hợp lý của các số liệu theo báo cáo tài chính.
3. Hoàn thành kiểm toán:
Trong giai đoạn hoàn tất cuộc kiểm toán, kiểm toán viên sẽ lập và phát hành báo
cáo kiểm toán trong đó trình bầy các ý kiến của kiểm toán viên về các báo cáo tài
chính đã được kiểm toán.
Trong cả ba giai đoạn của quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải dẫn chứng bằng
tài liệu về quá trình làm việc của mình, cũng như các bằng chứng thu thập được để
làm cơ sở cho tổ chức công tác kiểm toán và làm nền tảng pháp lý cho báo cáo kiểm
toán. các tài liệu này gọi là hồ sơ kiểm toán(Audit Working Papers) và được lưu trữ ở
tổ chức kiểm toán theo những quy định nghiêm ngặt.
KTNN thực hiện kiểm toán theo kế hoạch hàng năm được Thủ Tướng Chính Phủ
phê duyệt và Quyết định của tổng KTNN. Kế hoạch và quyết định kiểm toán là pháp
lệnh nên không cần đơn đặt hàng của đối tượng kiểm toán, không cần ký hợp đồng
kinh tế và không được thu lệ phí của đơn vị. KTNN có trách nhiệm báo cáo kết quả
kiểm toán với Chính Phủ, Quốc Hội, UBTTQH khi có yêu cầu. Hệ thống tổ chức
KTNN ở nước ta hiện nay có cơ quan KTNN ở TW (gồm các vụ KTNN chuyên ngành
và văn phòng tổng KTNN) và các cơ quan KTNN khu vực và trực thuộc KTNN. Cơ
quan KTNN ở TW chịu trách nhiệm kiểm toán tổng quyết toán NSNN, quyết toán
ngân sách của các Bộ, các tỉnh, thành phố lớn, các doanh nghiệp Nhà nước quan trọng,
các chương trình dự án trọng đIúm của Chính phủ và các đối tượng kiểm toán đặc biệt
(an ninh, quốc phòng, dự trữ quốc gia, …). Các cơ quan KTNNkhu vực phía Bắc (Hà
Nội), phía Nam (TP. HCM), miền Trung (TP. Đà Nẵng) chịu trách nhiệm kiểm toán
quyết toán ngân sách của các tỉnh, các cơ quan đơn vị thuộc đối tượng KTNN do địa
phương quản lý đóng trên địa bàn và một số đối tưoựng do tổng KTNN giao.
Sau hơn 5 năm hoạt động, cơ quan KTNN đã không ngừng lớn mạnh. Tính đến hết
năm 1999, KTNN đã thực hiện gần 3000 cuộc kiểm toán có quy mô lớn, nhỏ khác
nhau tạI các cơ quan, đơn vị có sử dụng NSNN trên hầu hết các lĩnh vực hoạt động
của Nhà nước. Thông qua kết quả kiểm toán đã phát hiện và kiến nghị tăng thu, tiết
kiệm cho NSNN hàng ngàn tỷ đồng; trong đó đáng kể nhất là kiến nghị truy thu thuế,
các khoản chi sai chế độ, để ngoàI quyết toán ngân sách. Hoạt động KTNN trong
những năm qua đã góp phần tăng cường đáng kể công tác kiểm tra, giám sát các hoạt
động tài chính công. Đã cung cấp cho các cơ quan quản lý Nhà nước các thông tin về
tình trạng kinh doanh, thu-chi ngân sách và công tác quản lý đIũu hành NSNN của các
cấp, các ngành. Kiến nghị nhiều giảI pháp nhằm xử lý các sai phạm được phát hiện
trong quá trình kiểm toán để giúp Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có liên quan
đIũu hành có hiệu quả các hoạt động quản lý của mình, góp phần ngăn chặn các tệ nạn
về tham ô, lãng phí, thất thoát công quỹ và tài sản quốc gia, giúp cho Chính Phủ, Quốc
vào công cuộc đổi mới đất nước vì một nước Việt Nam phồn vinh và giàu đẹp.
2. Kiểm toán độc lập (KTĐL):
Kiểm toán độc lập mới thực sự xuất hiện ở Việt Nam từ sau khi chuyển đổi sang cơ
chế thị trường. KTĐL ra đời, một mặt là do yêu cầu của hệ thống pháp luật có liên
quan như: Luật ĐTNN, Luật DNNN, Luật công ty, …và mặt khác, để hoà nhập với hệ
thống quốc tế. Xuất phát từ đòi hỏi khách quan đó, được sự đồng ý của Thủ Tướng
Chính Phủ, Bộ tài Chính đã ký quyết định số 165-TC / QĐ /TCCB thành lập công ty
Kiểm Toán Việt Nam với tên giao dịch VACO và quyết định số 164-TC/QĐ/TCCB
thành lập công ty Dịch vụ kế toán Việt Nam với tên giao dịch ASC, sau này đổi tên là
công ty Dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán-AASC(Quyết định 639-
TC/TCCB ngày 14/9/1993). Theo số liệu năm 1997, ở Việt Nam chính thức đã có 13
công ty kiểm toán độc lập, cụ thể là :
-Năm công ty là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ tài chính:
+Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO)
+Công ty AASC
+Công ty Kiểm toán và tư vấn (A&C)
+Công ty tư vấn và kiểm toán Sài Gòn (AFC)
+Công ty Kiểm toán Đà Nẵng(DAC)
-Một công ty là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc UBND T.P Hồ Chí Minh:
+Công ty Kiểm toán và dịch vụ tin học (AISC)
-Một công ty TNHH trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh:
+Công ty kiểm toán Hạ Long (HAACO)
-Bốn công ty TNHH 100% vốn nước ngoài trực thuộc Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư:
+ Công ty Ernst &Young Việt Nam (E&Y)
+Công ty Peat Marwick Việt Nam (KPMG)
+Công ty Price &Water_House Việt Nam (PW)
+Công ty Arthur Andersen Việt Nam (AA)
Sau 7 năm hoạt động, khoảng 5000 bản báo cáo tài chính của DN có vốn đàu tư
nước ngoàI và 1.500 bản báo cáo tài chính của các DN trong nước đã được kiểm toán.
Các công ty kiểm toán cũng đã cung cấp trên 10 loại dịch vụ khác nhau, với khoảng
10.000 bản hợp đồng kinh tế.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, KTĐL Việt Nam vẫn còn phải đương đầu với
nhiều khó khăn, trong đó có những khó khăn mà những người hoạt động trong ngành
này chưa thể tự vượt qua được. Khó khăn lớn nhất vẫn là khung pháp lý cho hoạt động
kiểm toán, bao gồm:
- Thứ nhất, mặc dù đã có quy chế về KTĐL (Nghị định 07 / CP ngày29/1/1994),
nhưng vẫn chưa xây dựng xong các chuẩn mực quốc gia. Vì vậy, nhiều công ty kiểm
oán độc lập phải vận dụng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế, dù răng có nhiều
đIểm không phù hợp với khung cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn
chuyển đổi. Từ đó đã dẫn tới:
+ Việc đánh giá chất lượng của một báo cáo kiểm toán vẫn còn nhiều căn cứ chung
để làm thước đo.
+ Khi có những tranh chấp xảy ra, chúng ta cũng chưa có những cơ sở pháp lý giảI
quyết các vấn đề thuộc trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên. Vãn còn lẫn lộn giữa
trách nhiệm và quyền hạn giữa kiểm toán viên và nhân viên kiểm toán. Chẳng hạn,
quy định: khi gây thiệt hạI cho khách hàng thì phải bồi thường, trách nhiệm này thuộc
về kiểm toán viên hay nhân viên kiểm toán ?
+ Cũng chính vì thiếu hệ thống chuẩn mực này cho nên quan đIểm của các kiểm
toán viên vẫn còn khoảng cách so với quan đIểm của công ty thuế vụ. Chính điều này
đã khiến cho nhiều doanh nghiệp có vốn nước ngoài ngạc nhiên vì sao các báo cáo kết
quả kiểm toán ít được cơ quan thuế thừa nhận, dẫn đến sự nghi ngờ chất lượng kiểm
toán.
-Thứ hai, về vấn đề tư cách pháp lý của các công ty KTĐL có hai điểm cần lưu ý
xem xét:
nay do Bộ tài chính quản lý. Do đó, Bộ tài chính quy định khung giá phí tức là “vừa
đá bóng, vừa thổi còi”. Vì vậy, tại mục IV Thông tư 22 TC / CĐKT ngày 19 /3 /1994,
Bộ tài chính có bổ sung thêm “ Quy định khung giá phí kiểm toán sau khi đã thoả
thuận với Ban vật giá Chính Phủ, để áp dụng thống nhất trong hoạt động kiểm toán”.
Không biết Ban vật giá của Chính phủ có thoả thuận như thế nào và khung giá phí đã
quy định chưa (vì chưa hề công bố), chỉ biết rằng, giá phí kiểm toán hiện nay đang quá
cao đối với các doanh nghiệp. Với một DN có quy mô vừa và nhỏ, phí kiểm toán cho
1 lần kiểm toán từ 15 đến 20 triệu đồng. Với các doanh nghiệp lớn, mức phí này cao
hơn nhiều lần. Đặc biệt, mức phí kiểm toán do các công ty kiểm toán nước ngoàI quy
định đang ở mức “lũng đoạn cao”. Trong trường hợp này mức phí kiểm toán cho một
DN quy mô vừa thường vào khoảng 15 ngàn đến 20 ngàn USD!
3. Kiểm toán nội bộ (KTNB):
Theo tinh thần Nghị định số 59 / CP về “Quy chế quản lý tài chính và
hạch toán kinh doanh đối với DNNN” và thông tư hướng dẫn số 73 TC /TCDN ngày
12 / 11 /1996 “ hướng dẫn lập, công bố công khai và kiểm tra báo cáo tài chính, kiểm
tra kế toán các DNNN”, KTĐL và KTNB sẽ có vai trò, vị trí quan trọng đối với hoạt
động và quản lý các DNNN nói riêng, các doanh nghiệp nói chung trong giai đoạn
hiện nay.
Thực tế, KTNB đã được thực hiện gắn liền với hoạt động kế toán và quản lý, chỉ
tách ra thành một hệ thống pháp quy riêng với những quy trình và phương pháp kỹ
thuật riêng, chưa quan tâm bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ KTNB. Nói chung,
chúng ta còn hiểu biết quá ít về KTNB so với KTNN và KTĐL. Cho đến nay, chức
năng và nhiệm vụ cụ thể của KTNB cũng chưa được thống nhất, đặc biệt là trong kiểm
toán hiệu quả và hoạt động quản lý. Hơn nữa, chúng ta vẫn chưa xây dựng được quy
trình và kỹ thuật tiến hành ngay cả đối với kiểm toán quy tắc và kiểm toán thông tin.
Trong tổ chức bộ máy, thường quan tâm đến hội đồng (Ban) thanh tra nhân dân (xí
nghiệp) mang tính hình thức bởi các thành viên không có trình độ chuyên môn và quy
do Chính Phủ trình lên.
Sớm soạn thảo và đưa ra, tham gia ý kiến về luật tổ chức cơ quan KTNN Việt Nam
– Vấn đề đặt ra là phù hợp với yêu cầu và năng lực hiện có của chúng ta. Luật Kiểm
toán của Việt Nam sẽ được hình thành sau Luật này để chúng ta có thể tích luỹ được
nhiều kinh nghiệm và tri thức hơn.
Các văn bản của Nhà nước, Nghị định, Thông tư hướng dẫn, … của các cơ quan có
thẩm quyền, nhất là của Bộ tài chính cần phải rõ ràng về quy chế KTNB và quy chế
KTĐL, không nên để các doanh nghiệp có thể hiểu KTNB cũng giống như KTĐL và
thực thi như nhau.
2. Về cơ cấu tổ chức các loại hình kiểm toán:
Cơ cấu tổ chức các loại hình kiểm toán cần phải được nghiên cứu và tổ
chức một cách hợp lý, có tính độc lập cao, nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động có
hiệu quả. Cơ chế tổ chức và cơ chế hoạt động của KTNN hiện nay ở nước ta còn có
nhiều điểm cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện. Việc tổ chức Kiểm toán Nhà nước
Trung ương và KTNN khu vực nhìn chung là hợp lý, giúp cho KTNN có được sự độc
lập cần thiết và bao quát hết phạm vi kiểm toán. Tuy nhiên nên đổi mới cơ cấu tổ chức
và cơ chế hoạt động của KTNN theo hướng sau:
- Các Vụ, KTNNkhu vực nên tổ chức theo hướng chuyên quản. Theo đó các Vụ
KTNN TW chịu trách nhiệm kiểm toán các Bộ, ngành, cơ quan TW, thành phố Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh.KTNN khu vực được giao kiểm toán thường xuyên
đối với các tỉnh thành cụ thể nhằm tạo điều kiện cho việc nắm bắt thường xuyên các
diễn biến về hoạt động tài chính công ở các đơn vị đó. Đồng thời giúp cho việc ổn
định đối tượng công việc của KTV, tạo điều kiện cho họ nâng cao trình độ chuyên
môn và hợp lý hoá gia đình, tiết kiệm chi phí hoạt động kiểm toán cho ngân sách nhà
nước.
- Tại các khâu thu, chi quan trọng trong quá trình chu chuyển tài chính công cần đặt
các văn phòng KTNN để kiểm toán trực tiếp, thường xuyên các nghiệp vụ xảy ra như:
thước đo đánh giá chất lượng kiểm toán. Chuẩn mực này phải là một hệ thống các tiêu
chuẩn khoa học, khách quan, phù hợp với môI trường pháp lý và đIều kiện quản lý của
Viẹt Nam, lại phù hợp với những tiêu chuẩn chung đã được quốc tế thừa nhận (Qua
hướng dẩn của Uỷ ban chuẩn mực thuộc INTOSAI). Có thể nói thành công nhất trong
năm 1999 về công tác nghiên cứu khoa học là đã ban hành hệ thống chuẩn mực và quy
trình kiểm toán. Tuy nhiên việc nhanh chóng hoàn thiện chúng là hết sức cấp thiết.
Chuẩn mực kiểm toán chính là những đường lối chung giúp cho KTV hoàn thành
được trách nhiệm nghề nghiệp của mình. Mặt khác chuẩn mực chính là công cụ để soi
xét, kiểm tra, giám sát các hoạt động kiểm toán của KTV.Trong 5 năm qua, hạn chế
lớn nhất trong quá trình hoạt động của Kiểm toán Việt Nam là chưa có hệ thống chuản
mực kiểm toán và các quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho KTV.
Trên dây là một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động
kiểm toán trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, chính quyền địa
phương, cơ quan chức năng, các đơn vị, doanh nghiệp làm cho kiểm toán vững mạnh,
đóng góp sức mình vào quá trình xây dựng một nước Việt Nam giàu về kinh tế, vửng
về chính trị, mạnh về an ninh quốc phòng, đẹp về văn hoá, cao về trí tụê, sánh vai
cùng cường quốc năm châu.