LUẬN VĂN: Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa

a.phần mở đầu

Việc nghiên cứu lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về nền kinh tế thị trường
là cần thiết không chỉ đối với những người nghiên cứu khoa học kinh tế, đối với cán
bộ quản lý kinh doanh, với những người có nhiệm vụ hoạch định đường lối phát triển
kinh tế của đất nước, mà nó rất cần thiết đối với mỗi con người, mỗi gia đình trong xã
hội.
Lý thuyết về nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác Lênin là một nội dung

là tạo ra những giá trị sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân
người sản xuất, chính vì thế có thể nói quá trình sản xuất của nền kinh tế tự nhiên chỉ
gồm 2 khâu. Đó chính là khâu tự nhiên đều mang chung một hình thái hiện vật.
*Những ưu điểm của kinh tế hàng hoá so với kinh tế tự nhiên.
- Trong nền kinh tế hàng hoá do sự phát triển của phân công lao động thị
trường thì ngày càng được mở rộng. Chính điều đó tạo điều kiện phát huy lợi thế so
sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy việc cải tiến công cụ
lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật, học hỏi, áp dụng kết quả khoa học kỹ thuật, mở
rộng phạm vi sản xuất; thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của sản xuất không phải là để tiêu
dùng cho chính bản thân người sản xuất mà là để thoả mãn nhu cầu càng tăng của thị
trường đã tạo nên động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của sản xuất hàng hoá. Đối
với sản xuất hàng hoá thì người tiêu dùng được coi là “Thượng đế” được quyền tự do
lựa chọn những hàng hoá phù hợp với nhu cầu và có khả năng thanh toán và thị hiếu
của mình trên cơ sở là chất lượng và giá cả của hàng hoá. Nhu cầu tiêu dùng ngày
càng cao thì kích thích sản xuất phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
- Kinh tế hàng hoá cạnh tranh ngày càng gay gắt. yêu cầu của cạnh tranh
đòi hỏi những đơn vị sản xuất hàng hoá phải thường xuyên quan tâm tới tăng năng
suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm để hạ giá thành mục đích thu lợi
nhuận được nhiều hơn. cũng chính từ cạnh tranh, chạy theo lợi nhuận sẽ làm cho lực
lượng sản xuất có những bước tiến bộ lâu dài và vững chắc trong quá trình sản xuất.
- Cũng trong nền kinh tế hàng hoá, do sản xuất xã hội ngày càng phát
triển, quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng mở rộng, cho nên sản phẩm hàng hoá ngày
càng phong phú và đa dạng, việc giao lưu văn hoá, kinh tế giữa các vùng, các địa
phương, các đơn vị kinh tế và các quốc gia ngày càng phát triển. Đời sống vật chất,
tinh thần và văn hoá của nhân dân ngày một được nâng cao.
b. Những tiền đề tạo cơ sở cho quá trình chuyển từ nền kinh tế tự nhiên lên

trao đổi ngang giá.
Sản xuất hàng hoá ra đới khi trao đổi trở thành tập quán và là mục đích của sản
xuất.
Như ta thấy phân công lao động xã hội phát triển từng nào thì quan hệ trao đổi
cũng được mở rộng và ngày càng phong phú, phức tạp hơn nhiều.
Phân công lao động xã hội phát triển cũng hấp dẫn tới sự ra đời của ngành
thương nghiệp, đôi khi thương nghiệp ra đời thì phân công lao động xã hội và quan
hệ trao đổi có sắc thái mới. Cũng chính nhờ thương nghiệp phát triển làm cho sản
xuất và lưu thông hàng hoá cùng với lưu thông tiền tệ được phát triển nhanh chóng.
Đó là nguyên nhân của sự mở rộng quan hệ trao đổi giữa các vùng, đồng thời liên kết
những người sản xuất lại với nhau, tập trung họ chạy theo sự phát triển nhanh chóng
của kinh tế hàng hoá.
Quan hệ trao đổi được mở rộng và phát triển đòi hỏi hệ thống giao thông vận
tải, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũng phải mở rộng và phát triển. Đây
chính là cơ sở vật chất làm tăng thêm các phương tiện trao đổi, mở rộng thị trường.
2.Những bước chuyển biến từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước.
a.Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá.
Sự khác nhau giữa kinh tế thị trường và kinh tế hàng hoá ở trình độ phát triển.
kinh tế thị trường chính là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Khi kinh tế
hàng hoá phát triển điều đó có nghĩa là phạm trù hàng hoá, phạm trù tiền tệ và thị
trường được phát triển và được mở rộng. Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản
phẩm đầu ra của sản xuất mà còn bao hàm các yếu tố đầu vào của sản xuất. Sức chứa
của thị trường và cơ cấu của thị trường được mở rộng và ngày càng hoàn hảo hơn.
mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều được tiền tệ hoá. Đến khi đó thì kinh tế hàng
hoá mới được coi là kinh tế thị trường.
b.Kinh tế thị trường hình thành trên những điều kiện sau đây

thông tiền tệ được thuận lợi dễ dàng, mới tăng được phương tiện vật chất nhằm mở
rộng quan hệ trao đổi.
- Tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước. Riêng đối với nước ta đây là
điều kiện có tính quyết định để hình thành nền kinh tế thị trường. Nhờ có ngân hàng
và hàng hệ thống pháp luật đã tạo ra môi trường và hành lang cho thị trường phát
triển lành mạnh. đồng thời Nhà nước sử dụng biện pháp hành chính cần thiết để
phát huy những ưu thế và hạn chế những mặt tích cực của thị trường. Nhà nước thực
hiện chính sách phân phối và điều tiết theo nguyên tắc kết hợp công bằng xã hội
với hiệu quả kinh tế xã hội. Nhà nước còn thực hiện sự điều tiết nhằm giải quyết hài
hoà quan hệ giữa tăng trươngr kinh tế và công bằng xã hội.
Với sự tác động của những tiêu đề trên, nền kinh tế thị trường được xã hội hoá
cao, các quan hệ kinh tế mang hình thái phổ biến là quan hệ hàng hoá tiền tệ và nó
được tiền tệ hoá. Chính vì vậy mà những quy luật của kinh tế thị trường được phát
huy tác dụng một cách đầy đủ.
Những đặc trưng của kinh tế thị trường.
3.Những đặc trưng chung của kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khi chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa là một yếu cầu khách quan, nhằm phát triển lực lượng sản xuất xã hội.
Quá trình đó phù hợp với xu thế của thời đại và xu thế của nhân dân ta.
Trong quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang kinh tế thị trường thưo định
hướng xã hội chủ nghĩa tất yếu phải đòi hỏi những đặc điểm của mô hình kinh tế
hướng tới.
Đã có nhiều quốc gia phát triển nền kinh tế của mình theo mô hình kinh tế thị
trường. Chẳng hạn, mô hình kinh tế thị trường xã hội của cộng hoà liên bang Đức,
kinh tế thị trường mang màu sắc Trung quốc khi xxét đều kinh tế thị trường, nền
kinh tế thị trường các nước đang và đã trải qua đều mang những đặc trưng sau đây.
- Một là: Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao. các chủ thể kinh tế
tự bù đắp những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất và kinh
doanh của mình. Các chủ thể được tự do liên kết, liên doanh, tự do tổ chức quá trình

được điều hành bởi hệ thống tiền tệ và hệ thống pháp luật của Nhà nước.
- Mỗi đặc trưng trên đây phản ánh một khía cạnh của mô hình kinh tế thị
trường.
II. Thị truờng và cơ chế thị trường
1.Thị trường và cạnh tranh thị trường.
a.Thị trường:
Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, nó ra đời và
phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Do đó mà có nhiều cách thức định
nghĩa về thị trường. Theo nghĩa ban đầu thì thị trường gắn liền với một địa điểm nhất
định. Nó là nơi diễnn rra quấ trình trao đổi, mua bán hàng hoá. Thị trường có tính
không gian vàthời gian. Theo nghĩa này, thị trường có thhể là hội chợ các địa dư hoặc
các khu tiêu thụ phân theo các mặt hàng, ngành hàng. Sản xuất hàng hoá ngày càng
phát triển, lượng sản phẩm hàng hoá lưu thông trên thị trường ngày càng dồi dào và
phong phú; thị trường được mở rộng. Nếu hiểu theo nghĩa đầy đủ hơn. nó là lĩnh vực
trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm mội giới. Tại đây người mua và người bán tác
động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá lưu thông trên thị
trường.
Khi nói tới thị trường chúng ta phải nói tới các yếu tố cấu thành thị trường đó
là hàng và tiền (H và T) người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau. Từ đó
hình thành các quan hệ hàng hoá tiền tệ, mua bán, cung cầu và giá cả hàng hoá.
Nói tới thị trường là nói tới tự do kinh doanh, tự do mua bán, thuận mua vừa
bán, tự do giao dịch. Quan hệ giữa các chủ thể kinh tế bình đẳng.
Nhưng trong thực tế thì có nhiều thuật ngữ để biểu hiện khaí niệm thị trường
như: thị trường bán buôn, thị trường bán lẻ, thị trường hàng tieu dùng, thị trường tư
liệu sản xuất, thị trường sức lao động
Ngoài ra mỗi loại hàng hoá lại có thị trường riêng của nó: như thị trường gạo,
thị trường muối, thị trường lãi sở dĩ như vậy là vì trao đổi trở nên thường xuyên,

nhất định. Quan hệ tỉ lệ này tuỳ thuộc vào trình độ kỹ thuật của sản xuất. Nếu kỹ
thuật tiến bộ thì một lượng sức lao động nhất định sẽ vận hành được nhiều tư liệu sản
xuất hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn. Để sản xuất cần có các yếu tố sản xuất. Thị
trường chính là nơi cung cấp các yếu tố đó đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến
hành bình thường. Sản xuất hàng hoá là sản xuất để trao đổi, để bán. Thị trường lại là
nơi tiêu thụ các hàng hoá cho các doanh nghiệp. Thông qua thị trường giá trị hàng
hoá được thực hiện và các doanh nghiệp thu hồi được vốn.
b. Sự cạnh tranh trên thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra một cách phổ biến trong cả
lĩnh vực sản xuất và trong cả lĩnh vực lưu thông. Cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất
bao gồm: cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau. Cạnh tranh
trong lĩnh vực lưu thông bao gồm. Cạnh tranh giữa những người tham gia trao đổi
hàng hoá và dịch vụ trên thị trường, người bán với những người bán, người mua với
những người mua. Hình thức và biện pháp của cạnh tranh có thể rất phong phú nhưng
động lực và mục đích cuối cùng của cạnh tranh chínhh là lợi nhuận. Sự ganh đua giữa
các chủ thể kinh tế nhằm dành phần sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có lợi cho mình để
thu lợi nhuận cao. Cạnh tranh là môi trường tồn tại của nền kinh tế thị trường. Nó đòi
hỏi chủ thể kinh tế phải chuẩn bị cho mình khả năng thắng lợi trên thị trường.
Đối với nước ta việc cạnh tranh trên thị trường là hết sức quan trọng, có cạnh
tranh thị trường mới làm cho quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất phát triển nhanh
chóng đẩy lùi những nhược điểm, cái lạc hậu cổ hũ trong nền sản xuất kinh tế. Nhờ
cạnh tranh thị trường mà chất lượng, số lượng hàng hoá được nâng cao rõ rệt, trình độ
kỹ thuật phát triển cao, nhanh chóng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nhưng trong
cơ chế thị trường phải có sự quản lý vĩ mô của ngân hàng mới làm cho cạnh tranh
mang tính lành mạnh, dữ được bản sắc văn hoá của dân tộc ta.
2.Cơ chế thị trường
a. Khái niệm về cơ chế thị trường

giá cả thị trường cũng có tác động tới quan hệ cung cầu hàng hoá. Nếu giá cả của một
loại hàng hoá nào đó giảm xuống, nó sẽ kích thích mức cầu, làm cho mức cầu thị
trường của loại hàng hoá này tăng lên. Đồng thời giá cả giảm xuống. Ngược lại, nếu
giá cả của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, nó sẽ kích thích mức cung làm cho mức
cung giảm xuống. Ngược lại nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, đồng
thời hạn chế mức cầu làm cho mức cầu giảm xuống. Như vậy có thể nhận biết được
quan hệ cung cầu qua giá cả thị trường. Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường là
những biểu hiện của những người bán và những người mua cũng như quan hệ giưã
những người sản xuất và những người tiêu dùng. Trên thị trường người bán luôn bán
hàng hoá của mình với giá cao, còn người mua thì lại luôn luôn muốn mua hàng hoá
với giá thấp. Trên cơ sở giá trị thị trường, giá cả thị trường là kết quả của sự thoả
thuận giữa người mua với người bán.
Cũng thông qua sự biến động của giá cả thị trường, quy luật giá trị có tác dụng
điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Điều tiết sản xuất hàng hoá được hiểu theo nghĩa là điều tiết tư liệu sản xuất và
sức lao động vào từng ngành kinh tế. Nếu giá cả của hàng hoá trong một ngành kinh
tế nào đó tăng lên thì ngành đó sẽ thu hút lao động xã hội, làm cho quy mô sản xuất
của ngành này tăng lên. Ngược lại, nếu giá cả của hàng hoá có xu hướng tăng lên sẽ
làm cho những người sản xuất hàng hoá thu được nhiều lợi nhuận hơn. Điều này tạo
ra động lực thúc đẩy những người sản xuất hàng hoá khai thác những khả năng tiềm
tàng, tranh thủ giá cả cao, mở rộng quy mô sản xuất có xu hướng ngược lại, nghĩa là
giá cả giảm xuống sẽ làm cho quy mô sản xuất thu hẹp lại.
Như vậy, lợi nhuận là động lực thúc đẩy hoạt động của cơ chế thị trường. Theo
C.Mác, những nhà kinh doanh dưới CNTB “ ghét cay ghét đắng tình trạng không có
lợi nhuận hay lợi nhuận quá ít, chẳng khác gì giới tự nhiên ghê sợ chân không”.
c. Giá cả trong cơ chế thị trường
Thông qua sự biến động của giá cả thị trường, quy luật giá trị còn có tác dụng

tiêu dùng. nói tới cơ chế thị trường là nói tới cơ chế tự vận động của thị trường theo
những quy luật nội tại của nó: quy luật nội tại, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông
tiền tệ. Quy luật lưu thông tiền tệ xác định khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằm
đảm bảo sự hoạt động nhịp nhàng của cơ chế thị trường. Việc thừa hoặc thiếu đều dẫn
tới tác động tiêu cực. Nếu thiếu tiền, hàng hoá không lưu thông được. Nếu thừa tiền
sẽ gây nên tình trạng lạm phát, giá cả hàng hoá tăng vọt. Thị trường bất ổn định.
Vậy chúng ta có thể nói sự tồn tại và phát triển của cơ chế thị trường là yêu cầu
khách quan đối với những xã hội còn tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Coi nhẹ hay bỏ
qua vai trò của kinh tế thị trường là một trong những nguyên nhân sâu xa thất bại trên
lĩnh vực kinh tế. Chính vì vậy mà cơ chế thị trường được phát hiện khá sớm. Cơ chế
thị trường được coi là “ bàn tay vô hình” điều tiết sự vận động của nền kinh tế hàng
hoá.
3.Những ưu điểm và khuyết điểm của cơ chế thị trường và sự cần thiết
phải có sự quản lý của Nhà nước.
a. Những ưu điểm của cơ chế thị trường
-Khi cơ chế thị trường phát triển thì kích thích mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất.
Kinh tế thị trường lấy lợi nhuận siêu ngạch làm động lực hoạt động. Động lực
này đòi hỏi các doanh nghiệp thường xuyên hạ thấp chi phí lao động cá biệt xuống
thấp hơn chi phí lao động xã hội cần thiết. Điều này đòi hỏi phải nâng cao năng suất
lao động trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật công nghệ.
Cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng. Sở
dĩ như vậy là vì: trong kinh tế thị trường tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường
một loại hàng hoá mới và đưa ta sớm nhất sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất. Điều đó
tất yếu đòi hoải phải năng động thường xuyên.
- Trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú đa dạng. Do vậy, nó tạo
điều kiện thuận lợi choviệc thoả mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất, văn

quáng. Hơn nữa các chr thể tham gia thị trường hoạt động vì lợi ích riêng của mình,
cho nên sự vận động của cơ chế hị trường tất yếu dẫn tới những mâu thuẩn và xung
đột có người giầu lên lại có người ngjèo đi. Cạnh tranh khó tránh kkhỏi sự lừa gạt,
phă sản và thất nghiệp thị trường tất cả đã gây nên tình trạng không bình thường
trong quan hệ kinh tế và dẫn tới sự mất ổn định xã hội. Vì vậy, xã hội đòi hỏi phải có
sự kiểm tra, điều tiết, định hướng một cách có ý thức đố vơi ssự vận động của cơ chế
thị trường. Đóa là lý do cần thiết lập vai trò quản lý của Nhà nước ở tất cả các nước
có nền kinh tế thị trường. ở nước ta sự quản lý của Nhà nước nhằm hướng tới sự ổn
định về kinh tế xã hội, sự công bằng và hiệu quả cũng như làm cho nền kinh tế ngày
càng tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao.
III - KINH Tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa và sự vận động của nó ở Việt Nam.
1. Bản chất sản xuất của quá trình chuyển nền kinh tế Việt Nam sang nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khi chuyển sang kinh tế thị trường, chúng ta đứng trước một thực trạng là: Đất
nước đã và đang từng bước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội từ một xã hội vốn là thuộc
địa nữa phong kiến với trình đoọ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội thấp. Đất
nước lại trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề. Nhưng tàn
dư thực dân phong kiến còn nhiều, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp.
Với đặc điểm xuất phát thâp như trên, có thể nhận xét rằng: Nền kinh tế nước
ta không hoang toàn là nền kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc, nhưng cũng chưa phải là
nền kinh tế hàng hoá nghĩa đầy đủ. Mặt khác do sự đổi mới về mặt kinh tế nền kinh tế
nước ta cũng không còn là nền kinh tế chỉ huy. Có thể nói thực trạng nền kinh tế nước
ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá kém phát triển, còn
mang nặng tính chất tự cung, tự cấp và chịu sự ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tâph
trung quan lưu bao cấp. Thực trạng đó biều hiện ở các mặt sau đây.
a. Kinh tế hàng hoá còn kém phát triển, nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự
cung tự cấp.


khác nhau. Về mặt khách quan đó là trình độ phát triển của phân công lao động xã
hội còn thấp. Nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự cung tự cấp. Còn về mặt chủ
quan, là do những nhận thức chưa đúng đắn về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, do sự
phân biệt duy ý chí giữa thị trường có tổ chức và thị trường tự do.
Một thời gian khá dài ở nước ta đã tồn tại quan niệm cho rằng những tư liệu
sản xuất lưu chuyển trong noọi bộ các xí nghiệp quốc doanh là những hàng hoá đặc
biệt. Nó không được mua bán một cách tự do và sở dĩ như vậy là vì vai trò đặc biệt
quan trọng của nhưngx tư liệu sản xuất. Nếu tư liệu sản xuất rơi vào tay tư nhân, nó
sẽ trở thành phương tiện nô dịch của người khác. Sức lao động tiền vốn cũng được
quan niệm không phải là hàng hoá v.v. Mặt khác do quản lý theo chiều dọc theo
chức năng của từng ngành (công nghiệp, nông nghiệp, vận tải, nội thương, ngoại
thương ) một cách máy móc, cho nên đã dẫn tới hiện tượng cửa quyền, cắt đứt mối
quan hệ tự nhiên giữa các ngành, dẫn đến thị trường bị chia cắt và manh mún.
- Năng xuất lao động xã hội và thu nhập quốc dân tính theo đầu người còn thấp.
Phần này phản ánh tổng hợp thực trạng kinh tế hàng hoá còn kém phát triển.
Do trình độ cơ sửa vật chất kỹ thuật và công nghệ còn thấp, kết cấu hạ tầng dịch vụ
sản xuất và dịch vụ xã hội còn kém; cơ cấu kinh tế còn mất cân đối, thị trường trong
nước chưa phát triển cho nên năng xuất lao động xã hội và thu nhập bình quân tính
theo đầu người ở nước ta tất yếu vẫn còn thấp.
b. ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy vơi scơ chế tập trung quan liêu bao
cấp.
Do nhận thức chủ quan duy ý chí về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong nền
thập kỷ vừa qua ở nước ta đã tồn tại mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp. Thực tiến hoạt động kinh tế đã chứng minh mô hình này công
nghiệp hoá hiện đại hoá nhiều nhược điểm. Nó gần như đối lập với kinh tế hàng hoá
vận động theo cơ chế thị trường.
Hai cơ chế kinh tế cũ và mới (cơ chế tập trung quan liêu bao cấp được gọi là cơ

tồn tại cơ chế giao nộp và cấp phát, dù có nói nhiều về quy luật giá trị thì đó cũng chỉ
là hình thức.Việc mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá là một tất yếu lịch sử, cho
nên sự hạn chế quan hệ hàng hoá và quy lụt giá trị trở thành sự cản trở tiền bộ kinh tế,
kìm hãm nhân tố mới, Do đó làm cho Nhà nước không thể làm chủ những quá trình
kinh tế khách quan mặc dù trong tay Nhà nước có thực lực kinh tế to lớn. Vì vậy đại
hôi lần thứ VII của đảng ta khẳng định “xoá bỏ triệt để cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước bằng pháp luận, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác. Xây
dựng và phát triển đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, vật tư, dịch vụ, tiền vốn,
sức lao động thực hiện giao lưu kinh tế thông suốt trong cả nước và với thị trường
thế giới”(1)
c. Thực chất của quá trình chuyển nền kinh tế Việt Nam sang nền kinh tế thị
truờng có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Từ sự phân tích thực trạng của nền kinh tế nước ta khi chuyển sang nền kinh tế
thị trường có thể rút ra kết luận: thực hiện chất của quả trình chuyển nền kinh tế nước
ta sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình kết hợp giữa
nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá tiến tới
nền kinh tế thị trường và quá trình chuyển cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
- Chính C.Mác đã coi sự phát triển của kinh tế hàng hoá là xuất phát và là điều
kiện quan trọng nhất không thể thiếu được đối với sự ra đời và phát triển của nền sản
xuất lớn Tư bản chủ nghĩa. Nội chiến kết thục, Lê Nin cũng chủ trương thi hành
chính sách kinh tế mới (NEP). Về thực chất, đó là sự phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần khơi dậy sự sống động của nền kinh tế, mở rộng giao lưu hàng hoá
giữa thành thị và nông thôn, thực hiện các quan hệ kinh tế bằng hình thức quan hệ
hàng hoá tiền tệ trên thị trường.
- Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta có đặc điểm khác với
các nước đông ÂU và Liên Xô cũ. Những nước này có nền kinh tế phát triển. Nền

Trong quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta có nhiều đổi mới quan trong chúng ta
đã chuyển biến quan hệ kinh tế quốc tế từ đơn phương sang đa phương, quan hệ với
tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi
và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Trong những năm gần đây, thực hiện về quan điểm kinh tế đối ngoại nói trên
hoạt động kinh tế quốc tế nước ta đã có những tiến bộ lớn. Xuất khẩu hàng hoá tằng
nhanh với nhịp độ trên 20% hàng năm, bảo đảm nhập khẩu các loại vật tư và công
nghệ chủ yếu, cải thiện dần cán cân thanh toán quốc tế. Chúng ta đã nhanh chóng
khắc phục được những hẫng hụt về nguông vốn và thị trường từ các nước SNG và
đông ÂU. Hàng hoá xuất khẩu của nước ta đã tìm được những thị trường mới trong
khu vực Đông Nam á và Tây Âu. Nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam cũng
tăng nhanh đáng kể.
Trong khi hoà nhập vào thị trường thế giới và đầy mạnh hoạt động ngoại
thương cần áp dụng có hiệu quản lợi thế so sánh. Từ đó cân nhắc quyết định cụ thể
xem xét nền sản xuất và cung ứng cho thị trường khu vực và thị trường thế giới
những loại hàng hoá nào, với số lượng bao nhiêu. Từ đó xác định rõ quy mô sản xuất
cho thích hợp.
ở nước ta, lợi thế so sánh đã bắt đầu được phát huy. Cần khẳng định bản sắc
dân tộc và xác định khu vực mới tạo điều kiện tốt để hội nhập. Lợi thế so sánh của
nước ta được thể hiện ở các mặt sau dây: Nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong
phú, nguồn nhân lực khá dồi dào với tiền công thấp; vị trí địa lý lãnh thổ thuận lợi
đồng thời Nhà nước đã có chính sách đầu tư hấp dẫn tạo điều kiện thuận lợi cho các
nhà đầu tư nước ngoài.
Trong đó chúng ta tiếp tục coi trọng thị trường truyền thống, nhanh chóng
thâm nhập vào thị trường mới mở rộng thị trường khu vực, cải tiến cơ cấu xã hội theo
hướng tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ lệ xuất khẩu nguyên liệu, tạo ra
các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như dầu mỏ, nông lâm thuỷ sản Chú ý phát triển

hoá vẫn chưa có những thay đổi đáng kể.
+ Hai là: đẩy mạnh phân công lao động xã hội nhằm mở rộng thị trường.
+ Ba là: chuyển quan hệ sở hữu có tính đơn nhất sang quan hệ sở hữu có tính
đa dạng nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất được coi là một điều kiện không thể thiếu
được của sự tồn tại và phát triển nền kinh tế hàng hoá. ở nước ta để khắc phục tình
trạng vô chủ, lãi giả, lỗ thật trong các doanh nghiệp Nhà nước, để tạo ra sự tự do kinh
tế và hình thành nhiều nhà kinh doanh giỏi thích ứng về cơ chế thị trường, tất yếu
phải đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Nó bắt đầu từ trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất xã hội và xu hướng chung của thế giới.
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, chúng ta đã điều chỉnh cơ cấu sở hữu
theo những bước sau đây:
- Phát huy hình thức kinh tế hộ nông dân, thợ thủ công bằng cách tạo thị trường cho
chúng, trước hết là thị trường nông thôn rộng lớn.
- Xây dựng khu vực kinh tế công cộng với chức năng là đảm bảo sự ổn định và là
cơ sở cho sự phát triển các thành phần kinh tế. Khu vực kinh tế công cộng tập
trung những ngành kinh tế then chốt: năng lượng, dầu khí, hệ thống giao thông
vận tải, thông tin, an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường cơ cấu của khu vực kinh
tế này không phải là cố định nhưng nó phải luôn luôn có trình độ công nghệ tiên
tiến và trình độ quản lý tốt.
- Hình thành và phát triển các công ty cổ phần. Đây là xu thế khách quan của nền
kinh tế thị trường. ở nước ta hình thức công ty cổ phần còn phát sinh từ quá trình
điều chỉnh khu vực Nhà nước.
+Bốn là: đổi mới chính sách kinh tế nhằm chuyển các quan hệ kinh tế theo
chiều dọc sang quan hệ kinh tế theo chiều ngang.
Trong các chính sách kinh tế chúng ta đặc biệt quan tâm tới chính sách giá cả.
Đã từng bước thực hiện tự do hoá gía cả. Thực chất Của việc điều chỉnh giá cả ở

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải tạo điều kiện thực hiện nền kinh tế mở, tranh thủ
những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại nhằm đưa lại năng
suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao.
+Hai là: chủ động tạo điều kiện cần thiết để xây dựng đồng bộ các yếu tố của
thị trường, phát huy những ưu thế và động lực của thị trường, đồng thời hạn chế mặt
tiêu cực của cơ chế thị trường.
+ Ba là: hoàn thiện và tăng cường vận dụng các chính sách tài chính và tiền tệ
nhằm tạo nguồn vốn thực hiện việc đầu tư vốn theo mục tiêu phát triển, phân phối lại
thu nhập quốc dân tạo lập sự ổn định về tiền tệ, về giá cả và tỷ giá hối đoái, qua đó
tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển sản xuất hàng hoá phù hợp với cơ chế thị
trường.
+ Bốn là, bồi dưỡng và dầo tạo cán bộ quản lý kinh tế theo yêu cầu của kinh tế
thị trường. Đây là một giải pháp liên quan đến nhân tố con người-động lực phát triển
của kinh tế xã hội. Chúng ta đã kế hợp giữa việc mở rộng quy mô đào tạo nhân tài.
Việc đào tạo những cán bộ quản lý doanh nghiệp không chỉ chú ý đáp ứng nhu cầu
của khu vực kinh tế Nhà nước mà còn phải quan tâm tới khu vực ngoài quốc doanh
cũng như kinh tế nông thôn và miền núi, hải đảo.
+Năm là, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước nhằm phát huy những ưu
thế và khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường
c.Giai đoạn hình thành và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
nội dung của giai đoạn này là tiền tệ hoá các quan hệ kinh tế tạo lập cơ sở kinh
tế cho các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường phát huy tác dụng một cách đầy đủ,
phát triển kinh tế trong nước hoà nhập với kinh tế thế giới.
 Nhữn giải pháp chính thức thực hiện trong giai đoạn này.
+ Một là: phát triển cơ cấu kinh tế mở nhằm hiện đại hoá nền kinh tế quốc
dân. Đây là giải pháp có tính thời đại. Cần lựa chọn các dự án đầu tư nước ngoài trên
các mặt: kinh tế, môi trường, công nghệ, theo hướng bảo đảm lợi thế so sánh và chủ
quyền của nước ta.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status