LUẬN VĂN: phân định chức năng quản lý về kinh tế của Nhà nước và chức năng kinh doanh - Pdf 11

LUẬN VĂN:

phân định chức năng quản lý về
kinh tế của Nhà nước và chức năng
kinh doanh

Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, thì việc xảy ra
những khuyết tật của nó là điều không thể tránh khỏi. Do đó cần phải
có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước để hạn chế những khuyết tật này.
Nhưng nhiều khi Nhà nước lại thực hiện một cách quá lỏng lẻo chức
năng quản lý của mình và nhiều khi nhà nước lại can thiệp quá sâu
vào công việc kinh doanh của các doanh nghiệp. Chính sự trùng chéo
này làm cho cả hoạt động quản lý về kinh tế của Nhà nước và hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trở nên kém hiệu quả gây ách tắc
và lãng phí. Vấn đề được đặt ra cần phải làm rõ chức năng quản lý về

động kinh doanh của doanh nghiệp vượt quá tầm kiểm soát của các cơ quan nhà nước.
Vậy thực trạng mối quan hệ giữa vĩ mô và vi mô hiện nay như thế nào? Làm thế nào để
giải quyết vấn đề này.
Trong thực tế sai lầm trước đây mà chúng ta đang khắc phục là ở
chỗ không vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan nên tạo ra cơ
sở của sở hữu công cộng tràn lan, kém hiệu quả. Chúng ta đã trộn lẫn
giữa chức năng quản lý của nhà nước về kinh tế với chức năng sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhiều khi nhà nước ôm đồm làm
cả chức năng kinh doanh trong doanh nghiệp, nhà nước trở thành bà
đỡ đầu cho các doanh nghiệp. Còn các doanh nghiệp thì dựa dẫm vào
nhà nước, tìm mọi cách để che dấu việc làm ăn thua lỗ của mình để
duy trì doanh nghiệp mà móc kinh phí của nhà nước hay nói cách
khác là doanh nghiệp chưa thực hiện đúng chức năng kinh doanh của
mình. Cái chính ở đây là chúng ta đã không xác lập rõ phạm vi của sự quản lý nhà nước về kinh tế và phạm vi sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, không xác lập rõ quyền tự do kinh doanh của doanh
nghiệp. Chính sự quản lý yếu kém của nhà nước đã tạo cơ hội phát
triển cho nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội như buôn lậu đầu cơ
tham nhũng, xâm phạm tài sản và vốn nhà nước Điều này đã làm
cho nền kinh tế của chúng ta không phát triển lên được, gây thiệt hại
tới lợi ích chung của nhà nước và của nhân dân, làm rối loạn hoạt
động kinh tế và xã hội.
Sau khi chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường nhiều thành phần
thì nhiều doanh nghiệp đã không đứng vững trên thương trường do đó
lâm vào tình trạng phá sản. Nhưng cũng có rất nhiều doanh nghiệp đã
tỏ ra được thế mạnh của mình, biết chuyển hướng đi đúng đắn, sáng
tạo cho kinh doanh, tự do kinh doanh trong khuôn khổ nhà nước cho
phép và đã tạo cho mình một tiềm lực và chỗ đứng của mình trong xã

nhau giữa các yếu tố gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố đó được hình thành
theo bốn nhóm dưới đây:
N h ó m 1 : Các loại thị trường gồm:
Thị trường hàng hóa, dịch vụ Thị trường bất động sản
Thị trường sức lao động
Thị trường khoa học - công nghệ - thông tin
Thị trường tiền tệ (thị trường vốn, thị trường chứng khoán, các
yếu tố: giá, tỉ giá hối đoái, lãi suất tín dụng, ngân hàng tài chính )
Các loại thị trường nói trên tạo các điều kiện “đầu vào”, “đầu ra”
cần thiết cho kinh doanh. Tuy nhiên, ở nước ta chủ yếu mới có thị
trường hàng hóa mang tính cổ điển còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố, các thị trường khác mới được hình thành còn manh mún hoặc đang
hình thành như thị trường bất động sản, thị trường khoa học công
nghệ, thông tin.
N h ó m 2 : Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội
Được thể hiện ở trình độ phát triển kinh tế - xã hội, các yếu tố
thuộc chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, những
đặc điểm truyền thống tâm lý xã hội Những yếu tố này cũng ảnh
hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn
nước ta có kinh tế phát triển sẽ tạo ra thị trường rộng lớn về hàng
hóa, dịch vụ, thị trường đầu vào lẫn đầu ra cho doanh nghiệp. Cơ sở
hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển cao cũng là yếu tố quan trọng mở
rộng thị trường cho các doanh nghiệp. Sự ổn định về kinh tế, chính
trị, xã hội trật tự an toàn, an ninh quốc gia cũng tạo thuận lợi rất cơ
bản cho kinh doanh.
N h ó m 3 : Môi trường sinh thái

hiện vai trò kinh tế của mình không chỉ bằng việc xây dựng và quản
lý khu vực kinh tế nhà nước mà quan trọng hơn là tổ chức và quản lý
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Để quản lý được nền kinh tế quốc dân,
Nhà nước với bộ máy quản lý của mình phải thực hiện rất nhiều loại công việc khác nhau, những công việc này hình thành nên khái niệm
chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước. Vậy chức năng quản lý Nhà
nước về kinh tế là hình thức chỉ biểu hiện phương hướng và giai đoạn
tác động có chủ đích của nhà nước lên đối tượng và khách thể quản lý
nhà nước về kinh tế. Là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà Nhà
nước phải tiến hành trong quá trình quản lý kinh tế đất nước.
Quản lý Nhà nước về kinh tế là quản lý kinh tế vĩ mô, nghĩa là
quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân với tính cách là một hệ thống
lớn phức tạp do nhiều phần tử nhỏ hơn với cấp độ khác nhau hợp
thành trong mối quan hệ tương tác. Đó là tổng thể các ngành kinh tế,
các vùng, các địa phương cùng các cơ sở kinh tế của chúng. Nhà nước
quản lý nền kinh tế quốc dân trên quy mô toàn xã hôi với việc thực
hiện hàng loạt chức năng của nó.
2-/ Mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp:
Do mục tiêu của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận cao nhất, ổn
định doanh nghiệp, tăng thị phần, tạo uy tín cho sản phẩm của mình
do đó doanh nghiệp thực hiện chức năng kinh doanh của mình thông
qua việc tổ chức, điều hành hệ thống trong doanh nghiệp nhằm đạt tới
mục tiêu đã đề ra. Do doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường
nên doanh nghiệp phải tuân theo những quy luật của thị trường tùy
theo những giai đoạn để có những tác động có lợi nhất cho doanh
nghiệp trong kinh doanh. Vậy chức năng kinh doanh của doanh
nghiệp là hình thức biểu hiện phương hướng và giai đoạn tác động có
chủ đích của doanh nghiệp lên đối tượng kinh doanh của doanh

nghiệp sản xuất kinh doanh theo định hướng mà nhà nước đã chọn.
Nhà nước đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp nhưng
trên cơ sở pháp luật cho phép. Vậy ta có thể thấy rằng dù ít hay nhiều
trong công việc kinh doanh nhà nước vẫn có những can thiệp vào. Và
các doanh nghiệp chính là một trong những đối tượng chủ yếu mà nhà nước quản lý về mặt kinh tế. Ranh giới không thể lẫn lộn, một đơn vị
cơ sở kinh tế dù to đến đâu cũng không phải là một cấp nhà nước và
ngược lại một cấp Nhà nước dù nhỏ đến đâu không thể trở thành một
tổ chức kinh doanh và nó có thể quản lý đơn vị kinh doanh đó, phải
chấp hành ý kiến của Nhà nước.
Một bên là các đơn vị kinh tế với tư cách là đối tượng bị quản lý.
ở tầm vĩ mô hiện nay cả nước có khoảng 6000 DNNN, khoảng 9000
công ty cổ phần và trách nhiệm hữu hạn, 20.000 doanh nghiệp tư
nhân, hơn 2.100.000 doanh nghiệp hộ gia đình. Tất cả đều hoạt động
sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của
nhà nước. Các doanh nghiệp có thể tự do kinh doanh trên những lĩnh
vực khác nhau mà pháp luật cho phép. Họ phải tiến hành quá trình
kinh doanh từ khâu đầu đến khâu cuối, từ sản xuất sản phẩm đến việc
tiêu thụ sản phẩm và thu tiền. Giám đốc (tổng giám đốc) là người
chịu trách nhiệm tổ chức và điều hành bộ máy kinh doanh của doanh
nghiệp, là người vạch hướng đi cho doanh nghiệp. Nhưng dù kinh
doanh sản phẩm nào, phát triển theo hướng nào đều phải được sự cho
phép của nhà nước. Nhà nước với tư cách chủ thể quản lý đã có
những tác động đến công việc kinh doanh, có thể ngăn cản, hạn chế
nếu việc kinh doanh không theo định hướng hoặc làm tổn hại đến môi
trường, có thể khuyến khích giúp đỡ việc kinh doanh phát triển nếu
đem lại lợi ích cho đất nước. Doanh nghiệp phải tuân theo mệnh lệnh
nhà nước ban ra, phải chịu sự quản lý của nhà nước.

nghiệp chỉ có quyền sử dụng tài sản đó. Các mối quan hệ của các
doanh nghiệp chủ yếu là với bạn hàng của mình trong công việc kinh
doanh. Mối quan hệ này dẫn ra bình đẳng theo phương thức đôi bên
cùng có lợi. Hình thức của các mối quan hệ này thông qua các loại
hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động. Chủ doanh nghiệp phải là người
năng động, sáng tạo biết chớp thời cơ thì mới phát triển được doanh
nghiệp của mình. Đồng thời phải nắm được thông tin, chính sách mới mà nhà nước ban hành để vận dụng hướng cho doanh nghiệp một
hướng đi đúng phù hợp với pháp luật.
3-/ Về công cụ quản lý
Công cụ quản lý của nhà nước chủ yếu là bằng pháp luật. Nhà
nước chi phối tất cả các đơn vị kinh tế ràng buộc và tạo môi trường
cho tất cả hoạt động trong trật tự kỷ cương, tạo cơ sở pháp lý cho các
đơn vị quản lý nội bộ và quan hệ với nhau. Hình thức chủ yếu là nhà
nước ra các văn bản quản lý nhà nước. Văn bản không chỉ phản ánh
thông tin quản lý đối với các doanh nghiệp mà còn thể hiện ý chí,
mệnh lệnh của các cơ quan nhà nước đối với các đối tượng quản lý.
Văn bản còn là cơ sở công tác kiểm tra giám sát hoạt động của các
doanh nghiệp. Kiểm tra là một khâu tất yếu để bảo đảm cho bộ máy
quản lý về kinh tế hoạt động có hiệu quả. Bên cạnh đó một công cụ
không kém phần quan trọng đó là sử dụng như các chính sách, các
đòn bẩy kinh tế để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. Như đã biết
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đều phải
tuân theo các quy luật kinh tế khách quan. Sự chi phối của các qui
luật đó đều thông qua lợi ích kinh tế. Nhà nước vận dụng các phạm
trù kinh tế, các đòn bảy các chính sách để kích thích. Tác động thông
qua lợi ích kinh tế chính là tạo ra động lực thúc đẩy con người tích
cực hoạt động được xuất phát từ lợi ích riêng của doanh nghiệp và

máy quản lý nhà nước về kinh tế nhằm đảm bảo cho sự phát triển kinh
tế bền vững.
Còn hệ thống bộ máy kinh doanh trong doanh nghiệp thì thông
thường được phân thành một cấp. Đó là ban giám đốc doanh nghiệp
mà đại diện là giám đốc chủ doanh nghiệp với tập thể người làm thuê
đó là công nhân. Chủ doanh nghiệp là người nắm giữ tài sản trong
doanh nghiệp có quyền sở hữu lẫn quyền sử dụng tài sản đó và chịu
trách nhiệm kinh doanh trước pháp luật bằng tài sản của mình. Còn
quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau là quan hệ bình đẳng các bên cùng có lợi và được tổ chức theo nguyên tắc hạch toán kinh tế. Chủ
doanh nghiệp ra quyết định kinh doanh và hướng doanh nghiệp phát
triển theo hướng đó. Để có thể sản xuất kinh doanh họ phải thuê công
nhân, mua máy móc thiết bị, mua nguyên vật liệu để cho công nhân
sản xuất. Họ phải tự tìm ra hướng để tiêu thụ sản phẩm của mình
nhằm thu lại tiền. Sau khi kinh doanh việc hạch toán kinh tế là cần
thiết bởi vì nó cho biết cụ thể số lỗ và số lãi. Nếu lãi thì chia nhau
còn lỗ thì họ phải tự chịu.
Tóm lại việc phân biệt giữa hai chức năng quản lý nhà nước về
kinh tế và chức năng kinh doanh của doanh nghiệp có thể minh họa
bằng một số đặc tính sau:
Chức năng quản lý nhà nước về
kinh tế
Chức năng kinh doanh
- Sử dụng quan hệ một chiều ra
những văn bản mang tính bắt
buộc
- Sử dụng quan hệ hai chiều cam
kết theo hợp đồng đã được đề ra

chính thông qua các văn bản.
- Điều chỉnh các quan hệ trong
kinh doanh bằng luật dân sự,
luật lao động thông qua các hợp
đồng giữa hai bên
Như vậy, qua xem xét việc phân biệt chức năng quản lý nhà nước
về kinh tế và chức năng kinh doanh vẫn chỉ là tương đối mà thôi.
Nhiều khi hai chức năng này bị chồng chéo lên nhau không hỗ trợ cho
nhau trong sự phát triển.
Phần III
Những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả chức năng quản
lý nhà nước về kinh tế và tạo môi trường tự do hơn cho
chức năng kinh doanh
I-/ Về phía nhà nước
1-/ Mối quan hệ giữa thực lực kinh tế của nhà nước với việc xác
định sự can thiệp của nhà nước về kinh tế
Không ít các nhà lý luật kinh tế trong và ngoài nước cho rằng:
Hiệu lực quản lý vĩ mô của nhà nước được đánh giá bởi mức độ hoàn
thiện của công thức: Nhà nước mạnh + Pháp luật hoàn chỉnh + Thực
lực kinh tế đủ mức. Quan niệm trên là hòan toàn có cơ sở. Trong kinh
doanh thị trường, nhà nước mạnh được thể hiện ở cơ cấu tổ chức và
phương thức hoạt động của nó, nhưng sức mạnh kinh tế của nhà nước
còn được thể hiện thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô trong đó thực
lực kinh tế của nhà nước giữ vai trò quan trọng. Luật pháp càng hoàn
thiện thì cơ sở để nhà nước duy trì môi trường kinh doanh ổn định và
lành mạnh càng vững chắc. Tuy vậy chỉ riêng công cụ luật pháp ch ưa
đủ mà phải kết hợp nhiều công cụ khác và biện pháp khác để điều tiết

triển giáo dục y tế cũng như can thiệp vào quá trình kinh doanh của
các doanh nghiệp. Nhà nước phải đủ mạnh thì mới tạo được môi
trường kinh doanh tốt cho các doanh nghiệp và nhà nước mới sử dụng
đúng chức năng quản lý của mình
2-/ Những giải pháp cơ bản:
Thể chế hóa đường lối, chính sách chủ trương phát triển kinh tế
của Đảng thành pháp luật nhà nước. Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tiến hành quy
hoạch tổng thể các ngành kinh tế - kỹ thuật và các vùng, định ra các
chương trình mục tiêu xây dựng kế hoạch kinh tế xã hội.
Đặt ra hệ thống thu đối với tất cả các tổ chức, các doanh nghiệp
một cách hợp lý. Tận thu các loại thuế nhằm tăng thu nhập ngân sách,
xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật tạo môi trường kinh doanh
tốt cho các doanh nghiệp.
Định ra cơ chế quản lý chung và cơ chế quản lý mới, điều hành
các hoạt động kinh tế xã hội trong toàn xã hội theo cơ chế ấy và thực
hiện các cơ chế điều chỉnh lên các quan hệ kinh tế xã hội trên cơ sở
pháp luật, đảm bảo cho sự vận động phát triển của nền kinh tế đi
đúng quỹ đạo đã vạch ra. Tránh sự trùng, chéo trong công tác quản lý
gây ách tắc trong kinh doanh.
Tiến hành các hoạt động tổ chức trong phạm vi toàn bộ bộ máy
quản lý Nhà nước và đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo
nguyên tắc tập trung dân chủ thiết lập hệ thống các cơ quan Nhà
nước các cấp và hệ thống các tổ chức kinh tế; điều hòa bằng các biện
pháp kinh tế, hành chính, giáo dục Kết hợp các mối quan hệ quản
lý kinh tế xã hội sao cho bộ máy quản lý Nhà nước hoạt động một
cách có hiệu quả nhất.
Quy định các hình thức kinh doanh, đưa ra các hình thức chế

các mối quan hệ đó, thực hiện đôi bên cùng có lợi, bình đẳng như
nhau.
Cần phải thực hiện tốt các công tác nghiên cứu thị trường về nhu
cầu của người tiêu dùng từ đó đề ra hướng kinh doanh cụ thể. Sử
dụng có hiệu quả vốn mà mình đã bỏ ra kinh doanh, tránh tình trạng
lãng phí.

Kết luận
Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta, muốn phát triển kinh
tế, muốn dân giàu nước mạnh thì sự quản lý về kinh tế của nhà nước
phải hết sức chặt chẽ, rõ ràng. Nhà nước phải quản lý đi sâu đi sát
vào mọi lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực kinh tế nhưng phải trên cơ sở
bảo đảm cho việc tạo ra môi trường tốt cho công việc kinh doanh của
các doanh nghiệp. Doanh nghiệp tạo ra của cải vật chất, cung cấp
dịch vụ cho xã hội nên cần phải phát triển các doanh nghiệp, đảm bảo
sự tự do kinh doanh của họ trong khuôn khổ luật định.
Muốn làm được như vậy, chúng ta phải hiểu rõ chức năng quản lý
của nhà nước về kinh tế và chức năng kinh doanh. Cần phải phân biệt
hai chức năng này để xác định đâu là giới hạn của việc kinh doanh,
đâu là giới hạn của việc quản lý của nhà nước. Có thế mới đem lại
hiệu quả trong việc quản lý của nhà nước, tránh được sự chồng chéo,
can thiệp quá sâu của nhà nước gây nên ách tắc trong kinh doanh của
các doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status