TIỂU LUẬN:Thực trạng của công đoạn gia công hoàn thiện sách.Lời nói đầu Ngành in ở nước ta được sự quan tâm thường xuyên và toàn diện của Đảng và Chính phủ, nó đã gắn bó với Đảng ta từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến và từ đó đến nay ngành in vươn doc - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Thực trạng của công đoạn gia
công hoàn thiện sách

Lời nói đầu
Ngành in ở nước ta được sự quan tâm thường xuyên và toàn diện của Đảng và
Chính phủ, nó đã gắn bó với Đảng ta từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến và
từ đó đến nay ngành in vươn lên và phát triển không ngừng. Là một ngành luôn giữ
vững vai trò quan trọng trong hệ thống các công cụ tuyên truyền, giáo dục tư
tưởng, nâng cao dân trí, khơi dậy ý thức trách nhiệm của mỗi người dân.
Trong công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước đã đề ra
những mục tiêu nhằm đưa nền công nghiệp của chúng ta tiến tới công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước để theo kịp trình độ khoa học kỹ thuật của các nước trong
khu vực. Trong đó ngành in đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiến lên của đất
nước, phục vụ kịp thời nhu cầu văn hoá, chính trị, xã hội của nhân dân.
Hoạt động của ngành in đã thích nghi dần và đứng vững trước thử thách của
cơ chế thị trường. Hội nghị liên ngành in toàn quốc 1992 đã tập trung trí tuệ đánh

Phần thứ nhất
Tổng quan
I. Sự phát triển của ngành in trong sự phát triển chung của toàn xã hội.
I.1.1. Ngành in Việt Nam trước công cuộc đổi mới.
Hơn nửa thế kỷ qua, trong từng giai đoạn lịch sử của dân tộc, đội ngũ công
nhân ngành in Việt Nam đã có những đóng góp quý báu cho sự nghiệp cách mạng
bằng chính những sản phẩm của mình.
Mỗi chặng đường lịch sử ngành in luôn gắn bó với Đảng, Nhà nước, phục vụ
đáp ứng những tài liệu về chính trị, văn hoá, kinh tế trong điều kiện trang thiết bị
vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ công nhân còn bị hạn chế cả về trình độ văn
hoá và kỹ thuật chuyên môn. Do vậy chưa đáp ứng được đầy đủ với nhu cầu của xã
hội về tất cả các mặt: Số lượng, chủng loại, chất lượng, kỹ thuật và mỹ thuật, có một
khoảng cách rất xa so với các nước trong vùng cũng như trên thế giới. Đó là một
thực trạng làm bận tâm các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, là nỗi băn khoăn lớn
nhất của những người có trách nhiệm lãnh đạo và quản lý ngành in. Về cơ sở vật
chất kỹ thuật, khâu chế tạo khuôn in là công đoạn đầu tiên trong quá trình sản xuất
in, nó có ý nghĩa quyết định đến chất lượng sản phẩm, nhưng vào những năm đầu
của thập kỷ 90 khâu này lại là khâu lạc hậu nhất và chậm được cải tiến nhất. Tuyệt
đại bộ phận là sắp chữ thủ công, chiếm 80-90%. Có một số máy sắp chữ Linôtíp,
Mônôtíp ở một vài nhà máy lớn thì đã bị hư hỏng hoặc hoạt động với công suất
thấp. Đồng mô (khuôn chữ mẫu) cho các máy sắp chữ, đúc chữ vô cùng thiếu thốn,
phải sử dụng lâu năm nên bị cùn, mòn, chất lượng sắp chữ rất kém. Các kiểu chữ
nghèo nàn, thiếu đồng bộ và phần lớn vẫn phải sử dụng các bộ chữ đã được sử dụng
cách đây 20-30 năm. Cũng có những cơ sở sản xuất chữ in nhưng chỉ bảo đảm được
50% nhu cầu hàng năm do thiếu nguyên vật liệu, chất lượng chữ lại kém và không
đảm bảo hàm lượng thành phần hợp kim.
Công nghệ chế bản lạc hậu, được thực hiện chủ yếu bằng thủ công, các máy

nhập ngoại hoàn toàn. Tình trạng khan hiếm và thiếu thốn vật tư kỹ thuật chính là
nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế năng lực sản xuất và ảnh hưởng đến chất lượng
sản phẩm của ngành công nghiệp in nước ta nhiều năm nay.
Lực lượng lao động của ngành có khoảng 21.000 người được phân bổ trong
các xí nghiệp thuộc Bộ VH-TT, các xí nghiệp Trung ương và địa phương. Cấp bậc
thợ bình quân giữa các khối khác biệt nhau rất xa. Khối trực thuộc Bộ VH-TT có
1.650 công nhân trực tiếp sản xuất trong đó có 25% bậc 5-7, 60% bậc 3-4 và 15%
bậc 2. Ngược lại các xí nghiệp in địa phương, nhất là các địa phương phía Nam có
bình quân cấp bậc thợ rất thấp do mới được đào tạo tuyển chọn.
Vào những năm cuối của thập kỷ 80 và những năm đầu của thập kỷ 90 tổng số
cán bộ có trình độ đại học là 250 người, trong đó có 120 kỹ sư công nghệ, 70 kỹ sư
kinh tế, 20 kỹ sư cơ khí, 40 kỹ sư hoá và đại học khác. Cán bộ trung cấp có trên 500
người. Phó tiến sĩ có 3 người nhưng chỉ còn một người đang công tác trong ngành.
Nhìn chung lực lượng lao động của ngành tương đối đông đảo nhưng chất lượng
chưa cao do phần lớn là lao động thủ công, ít được đào tạo cơ bản, số thợ bậc cao
lại giảm xuống do nghỉ hưu, lực lượng công nhân trẻ đào tạo chậm, tay nghề non
yếu, do vậy bố trí sản xuất khó khăn. Do điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, thời
gian thành thạo tay nghề lâu nên những công nhân sắp chữ, chế bản, vận hành máy
in mỗi khi cần bổ sung rất khó khăn. Đội ngũ kỹ sư còn bị phân tán, việc sử dụng
còn chưa hợp lý, không có điều kiện nâng trình độ. Các xí nghiệp in địa phương
thiếu kỹ sư công nghệ, đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý kinh tế còn mỏng và yếu.
Lực lượng lao động của ngành đang gặp phải những khó khăn. Vấn đề cấp
bách cần đặt ra là phải nhanh chóng có phương hướng đào tạo, bồi dưỡng trong
nước và ngoài nước bằng mọi biện pháp đổi mới về chất lượng của lực lượng lao
động này để có đủ khả năng tiếp thu kỹ thuật mới, tiên tiến cũng như phương pháp
quản lý mới.
Với hiện trạng kinh tế - kỹ thuật của ngành in như đã nói ở trên cộng thêm việc
thiếu vật tư chuyên dùng, việc quản lý lỏng lẻo và phân tán đã làm ảnh hưởng đến
sự phát triển của ngành in, làm cho ngành in ngày càng tụt hậu.
Đầu những năm 90 tuy năng lực sản xuất vốn đã nhỏ bé, lạc hậu. Máy in cũ kỹ

đại ". Đó chính là cách đi để rút ngắn khoảng cách tụt hậu của ngành.
Từ sau Hội nghị ngành in năm 1992 đến nay phần lớn các cơ sở in đã vượt qua
cơn sốc khi thay đổi cơ chế quản lý, thích nghi tương đối nhanh với hoạt động thị
trường, kinh doanh có lãi, làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước và cải thiện đời sống
CBCNV. Từ chỗ thu nhập bình quân của các xí nghiệp in từ 100 đến 200 ngàn
đồng/người/tháng vào năm 1991, đến năm 1995 đã tăng lên từ 200 đến 300 ngàn
đồng/người/tháng, từ năm 1998-2000 nhiều xí nghiệp in trên toàn quốc đã đạt thu
nhập bình quân trên 1 triệu đồng/người/tháng.
Có được kết quả như trên là do các xí nghiệp đã mạnh dạn áp dụng nhiều biện
pháp đồng bộ trong tổ chức sản xuất và quản lý, đầu tư đổi mới trang thiết bị và
công nghệ. Từ đó đã đáp ứng được việc đa dạng hoá sản phẩm tạo ra thế mạnh riêng
của từng xí nghiệp.
Về cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ của toàn ngành in đã có những bước
tiến bộ đáng kể. Bằng những nỗ lực phấn đấu cho sự tồn tại của cơ sở mình, để có
chỗ đứng vững trong cơ chế thị trường, thu hút nguồn hàng, làm tròn trách nhiệm
với Đảng, Nhà nước, những người lãnh đạo ở các cơ sở in trong ngành đã mạnh dạn
đầu tư công nghệ, trang thiết bị tương đối đồng bộ để phục vụ cho sản xuất, không
nằm ngoài mục đích là đa dạng hoá sản phẩm, phục vụ, đáp ứng yêu cầu của xã hội
đồng thời mang lại thu nhập, ổn định đời sống CBCNV và đem lại lợi nhuận cao
cho đơn vị, cơ sở mình.
Đến năm 1995 cả nước đã có 1250 máy các loại, trong số đó có nhiều máy in
hiện đại có hệ thống tự động kiểm tra chất lượng. Hiện nay so với năm 1995 hầu
như máy in Typô đã bị loại ra khỏi dây chuyền công nghệ, bù vào đó là máy in
OFFSET có công suất lớn. Chất lượng sản phẩm cao hơn chính nhờ có sự đổi mới
công nghệ từ Typô sang OFFSET trên quy mô cả nước với tốc độ khá cao và bước
đi thích hợp, nên sản lượng sản phẩm của ngành đã tăng với nhịp độ hai chữ số
hàng năm, đồng thời tạo ra bộ mặt đẹp đẽ cho sách, báo và các loại sản phẩm khác.
Giai đoạn chế tạo khuôn in cũng có những bước tiến quan trọng cả về chất
lượng và số lượng. Từ chỗ thụ động phân màu theo bản mẫu của khách hàng, nay
với những thành tựu của kỹ thuật tin học, cộng với yêu cầu chất lượng ngày càng

khó khăn, các cơ sở đơn vị ở vùng sâu, vùng xa thì được sự hỗ trợ của ngân sách
Trung ương và địa phương.
Bên cạnh những tiến bộ về tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới công nghệ, đa
dạng hoá sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm, nhiều cơ sở in đã tổ chức lại
sản xuất, cải tiến phương thức quản lý và điều hành, thích ứng với cơ chế mới, tự
khẳng định và phát triển bằng nhiều biện pháp khác nhau.
Trong những năm qua, các xí nghiệp in đã phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, công
tác tư tưởng góp phần tích cực vào việc phát triển văn hoá, kinh tế và nâng cao dân
trí thông qua món ăn tinh thần là các sản phẩm như sách, báo, tạp chí và các loại
văn hoá phẩm khác.
Gắn liền với các cơ sở in của ngành thì các cơ sở sản xuất kinh doanh thiết bị
vật tư ngành in hàng năm cũng đã khai thác và cung cấp khoảng 25 ngàn tấn giấy
các loại kể cả sản xuất trong nước và nhập ngoài nước. Lượng giấy sản xuất trong
nước là 15 ngàn tấn còn 10 ngàn tấn nhập ngoại, cung ứng hàng trăm tấn mực in các
loại và gần 500.000 bản in, hàng trăm máy in và nhiều loại vật tư kỹ thuật chuyên
dùng khác. Để phù hợp với cơ chế thị trường, các Công ty kinh doanh vật tư kỹ
thuật ngành in đã chủ động khai thác nguồn hàng, cung ứng tại chỗ cho những cơ sở
cần tiêu thụ, tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng.
Lúc đầu một số cơ sở sản xuất vật liệu in, sửa chữa cơ khí in còn gặp nhiều
khó khăn, lúng túng trong kinh doanh, nhưng đén nay với những hướng đi khác
nhau, nên đã có nguồn thu ngày một tăng, đời sống người lao động được cải thiện.
Một số xí nghiệp do nắm bắt được nhu cầu đổi mới của các cơ sở in đã mạnh dạn
mở rộng hoạt động kinh doanh, sản xuất ra nhiều thiết bị phụ trợ góp phần vào sự
phát triển chung của ngành in Việt Nam.
Trong những năm gần đây hoạt động sản xuất kinh doanh của một số xí nghiệp
còn gặp những khó khăn trong bối cảnh chung của nền kinh tế tuy đã ra khỏi cuộc
khủng hoảng nhưng vẫn còn một số mặt chưa vững chắc. Mặc dù vậy tổng sản
lượng trang in của toàn ngành vẫn tiếp tục tăng 10%, đạt xấp xỉ 185 tỉ trang in khổ
13x19 cm năm 1996. Năm 1997 đạt 187 tỉ và năm 1998 đạt 198 tỉ trang in trong đó
chưa tính đến sản lượng của các cơ sở in tư nhân và in bao bì trên các loại vật liệu

Biểu tổng hợp năng lực ngành in năm 1991-1999
Diễn giải 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Tổng sản
phẩm trang
in 13x19
(triệu trang)

75.00
0
90.00
0
115.00
0
145.00
0
165.00
0
185.00
0
187.00
0
198.00
0
205(ư
ớc
tính)
Nhịp độ
phát triển
liên hoàn
(%)

220,00

246,66

249,33

264,00

273,33I.2.Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với ngành in.
Từ trước tới nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng ngành in là một trong
những phương tiện trọng yếu thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ chiến lược của
Đảng trong từng giai đoạn cách mạng. Như đồng chí Trường Chinh đã nói : " Máy
in là một phương tiện và nhà máy in là một cơ sở của cách mạng tư tưởng và văn
hoá dưới chế độ ta, đồng thời là công cụ chuyên chính vô sản ".
Thật vậy, từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ngành in đã thầm lặng
cùng toàn dân tham gia chiến đấu và ghi những chiến công oanh liệt gắn liền với
lịch sử dân tộc. Nhiệm vụ của ngành in trong giai đoạn này chủ yếu là góp phần
tuyên truyền, giáo dục chủ trương, đường lối chính sách đúng đắn của Đảngvà Nhà
nước ta tới các tầng lớp nhân dân. Đồng thời cũng giúp cho bạn bè khắp năm châu
hiểu thêm về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, để đồng tình ủng hộ
chúng ta chống lại kẻ thù tàn bạo. Từ năm 1949, Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh thành
lập nhà in Quốc gia trực thuộc Nha tuyên truyền để in nhiều tài liệu, sách, báo phục
vụ cho cách mạng. Mặc dù lúc bấy giờ kỹ thuật công nghệ in còn rất thô sơ, chỉ
bằng các phương pháp như in đá, in rô-nê-ô, in Typô Đảng ta luôn luôn xác định
ngành in là công cụ của chuyên chính vô sản, là vũ khí sắc bén trên mặt trận chính
trị, tư tưởng, văn hoá; là phương tiện để tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, phổ
biến các chủ trương, chính sách của Đảng tới mọi tầng lớp quần chúng nhân dân.

dân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
II.Nhà máy in Quân Đội những chặng đường phát triển.
Nhà máy in Quân Đội được thành lập trong kháng chiến chống Pháp với nhiệm
vụ chủ yếu là in các tài liệu phục vụ cho quân đội. Trải qua 55 năm xây dựng và
trưởng thành(nhà máy in Quân Đội được thành lập vào 17-12-1946), nhà máy đã
phát triển không ngừng, đứng vững trước mọi khó khăn thử thách. Khi mới thành
lập, nhà máy chỉ có mấy chiếc máy in Typô cũ. Năm 1960, nhà máy từ an toàn khu
Định Hoá chuyển về xã Phú Diễn-Từ Liêm-Hà Nội, cơ sở vật chất được xây dựng
mới và được trang bị tương đối hiện đại và đồng bộ. Từ năm 1986 đến nay, có thể
coi là một thời kỳ chuyển biến mạnh mẽ của nhà máy. Được sự quan tâm chỉ đạo
sát sao của cấp trên cùng với sự nỗ lực của ban giám đốc cũng như toàn thể công
nhân, nhà máy đã đứng vững trước mọi khó khăn thử thách của nền kinh tế. Nhà
máy đã mạnh dạn đầu tư kỹ thuật, hoàn thiện cơ cấu quản lý và tổ chức lại sản xuất,
thiết lập dây chuyền in OFFSET (loại bỏ công nghệ in Typô), đào tạo lại đội ngũ
cán bộ quản lý và công nhân lành nghề, tích cực khai thác nguồn việc đẩy mạnh sản
xuất. Đặc biệt về cơ cấu sản phẩm và chất lượng in đã phong phú hơn, đa dạng hơn
và có những bước tiến vượt bậc. Những sản phẩm của nhà máy đã chinh phục được
những khách hàng khó tính nhất. Phát huy sự sáng tạo trong quản lý xí nghiệp,
trong tổ chức sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện cho cán bộ công nhân chủ động tự
giác lao động có chất lượng, hiệu quả, gắn bó với nhà in. Đồng thời nhà máy cũng
thường xuyên chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cũng như môi trường làm
việc của CBCNV. Ngoài ra đội ngũ lãnh đạo của nhà máy cũng đang được trẻ hoá.
Nhà máy luôn mở rộng quan hệ, mở rộng thị trường. Đội ngũ Marketting của nhà
máy đã và đang khai thác tốt thị trường, thu hút được nhiều khách hàng mới và giữ
vững được mối quan hệ với khách hàng cũ. Cùng với đội ngũ công nhân có tay
nghề cao, nhiệt tình, có tinh thần làm chủ cao đối với các máy móc, thiết bị hiện đại
thì việc in những sản phẩm cao cấp và có uy tín trên thị trường không là điều khó
khăn và trở ngại. Đây là vấn đề mà ban giám đốc cũng như toàn thể công nhân của
nhà máy luôn hướng tới.
Về thiết bị, mặc dù dây chuyền công nghệ in OFFSET của nhà máy chưa thuộc


T
ổ c
ơ đi
ện

T
ổ bảo vệ

Phó giám đốc kế
hoạch sản xuất-
kinh doanh

Phòng kế hoạch-
s
ản xuất

Phân xư
ởng chế bản

Phân xư
ởng in

Phân xư
ởng sách

Phân xư
ởng PS
Nguyên mẫu
Soạn thảo trên máy
tính in lên gi
ấy can
để nhận đư
ợc bản chữ
dương

Quét hình ảnh đen
trắng màu, sau đó
phân màu trên máy
tách màu đi
ện tử
đ

ảnh

Ch


Phơi b
ản

Bình bản để nhận
được khuôn ảnh,
khuôn phim

Hi
ện rửa
- Độ đen của bài mẫu phải được tiêu chuẩn hoá từ 1,4  0,2dpi nếu bản mẫu có

yêu cầu về kích thước và độ nét giữ nguyên vị trí của ống kính và tắt đèn, lắp phim
lên giá (chú ý khuôn khổ của phim không quá lớn nhằm tiết kiệm phim và hoá chất
khác). Sau đó bật đèn trở lại chọn thời gian chụp cho diapham mở ra để ánh sáng
tác động lên lớp nhũ tương trên phim- giai đoạn này gọi là lộ sáng.
Tiếp đến là công đoạn hiện hình: Đây là quá trình ảnh ẩn chuyển sang nhìn
thấy được. Thực chất đây là phản ứng ôxy hoá khử với chất khử trong dung dịch
hiện.
Sau khi hiện hình xong tiến hành định hình: Mục đích nhằm tẩy sạch phần tử
AgBr ở những chỗ không bị ánh sáng tác dụng.
Quá trình làm phim có thể xảy ra sai sót, làm cho hình ảnh không đủ độ đen
hoặc có độ đen quá lớn. Vì vậy người ta phải tiến hành sửa lại cho đúng với mật độ
của mẫu. Quá trình sửa phim thực chất là quá trình “làm mỏng”- “tra dày” làm tăng
hoặc giảm hạt Ag đã hoàn nguyên (tăng độ đen). Quá trình tra dày hoặc làm mỏng
có thể làm trên toàn bộ phim hoặc cục bộ chỗ nào thấy cần thiết.
Việc sửa phim có thể làm thủ công căn cứ vào bản mẫu màu và mẫu đen của
từng phim âm bản để quy định tăng hoặc giảm phim âm bản.
Sau khi có âm bản hoàn chỉnh tiến hành công tắc ra dương. Nếu là phim nửa
tông phải công tắc qua phim t’ram.
* Quy trình công nghệ chụp ảnh phục chế mẫu màu
Các phần có màu sắc khác nhau không thể phục chế trên giấy bằng màu mực
in, vì vậy để tái tạo mẫu nhiều mầu đòi hỏi nhiều mực in khác nhau, mỗi màu mực
in cần phải có một khuôn in riêng biệt, trên khuôn in đó có những phần tử in sẽ là
những phần của ảnh tương ứng với mực được tách ra, còn những phần của ảnh được
truyền bằng các mực khác nhau thì trên khuôn in này sẽ là những phần tử không in.
Khuôn in mà trên đó những phần tử tách ra của ảnh tương ứng với một màu mực in
gọi là khuôn in phân màu.
Để chế được khuôn in đó cần phải sơ bộ chế âm bản phân màu, sau đó dương
bản phân màu. Như vậy trên khuôn in phân màu, tức là trên âm bản phân màu phải
chế ra hình ảnh tương ứng với mầu mực cần tách ra.
Thực chất phân màu bằng phương pháp quang cơ là chế ra một bộ âm bản

trừ. Tức là kết qủa của việc chồng lần lượt ba lớp mực màu liên tiếp lên nhau.
Ba lớp mực đó là ba màu cơ bản của tổng hợp màu trừ.
Đỏ xen: Magenta (M)
Xanh da trời: Cyan (C)
Vàng:Yellow (Y)
Mỗi màu mới thu được cho kết quả của việc hấp thụ liên tiếp bức xạ thông
lượng ánh sáng, phần còn lại sẽ phản xạ đập vào mắt người, ta nhận biết được các
loại tông màu khác nhau.
Như vậy mỗi loại mực có tác dụng như một kính lọc sắc 2 vùng: Hấp thụ bức
xạ một vùng và cho xuyên qua 2 vùng kia của quang phổ. Chính độ dày lớp mực sẽ
điều chỉnh lượng hấp thụ.
Góc độ t’ram
Điểm chính của phục chế ảnh màu trong ngành in là chồng ảnh của từng loại
mực lên nhau, 4 ảnh đều là ảnh t’ram nên để tránh hiện tượng more ảnh thì mỗi màu
phải xoay đi một góc độ nhất định.
Phim dương Góc nghiêng t’ram
Vàng
Đỏ
Xanh
Đen
0
o

75
o

15
o

45

- Khi dán chú ý: Chữ phải ngược gương với tờ in sau này.
- Đối với sản phẩm in nhiều màu ta nên chọn màu nào có nhiều hình ảnh gần
giống với tờ in sau này nhất để bình trước.
- Thứ tự các màu không cố định, nhưng tuỳ từng sản phẩm ta chọn thứ tự bình
theo nguyên tắc: Nền của chi tiết bình trước, nền của toàn trang sản phẩm bình sau.
- Chú ý tới các dấu ốc của các khuôn chồng màu phải trùng khít lên nhau, góc
độ t’ram phải chuẩn khi ghép các khuôn màu nửa tông thì gắn các thang tầng thứ
màu vào khuôn phim.
- Do quá trình bình bản bằng thủ công nên độ chính xác chồng màu không cao,
làm giảm chất lượng của sản phẩm in nhất là đối với những sản phẩm in cao cấp.
- Vì thế xu thế tới đây quá trình bình bản sẽ được thực hiện trên máy tính
chuyên dụng: các phần chữ và hình ảnh sẽ được mã hoá bằng Scanner trên máy
tính.
- Đồng thời quá trình này còn cho phép thực hiện được nhiều kỹ sảo cắt ghép
ảnh nghệ thuật.
- Tất cả khi ghép xong được in ra trên máy in (toàn trang).
- Quá trình bình bản hoàn hảo như vậy sẽ nâng cao độ chính xác chồng màu,
làm cho quá trình phơi bản được thuận lợi cho chất lượng in cao hơn, không gặp
những khó khăn trở ngại của khâu bình bản thủ công như độ thấu quang không đạt
hay sự khác nhau của giấy can và về độ dầy mỏng của phim.
- Phơi bản
- Ngày nay hầu hết các nhà in trong cả nước loại bỏ loại bản tự tráng màng
cảm quang (bản tái sinh) mà thay vào đó là loại bản tráng sẵn gọi màng cảm quang
diazo dương.
- Bản chất của quá trình phơi bản là dùng ánh sáng giàu tia tử ngoại của đèn
phơi tác dụng lên màng nhạy sáng diazo. Tại những chỗ phần tử in trên tờ mẫu phơi
hình dáng bị giữ lại không tác dụng lên màng diazo, những chỗ phần tử trắng ánh
sáng sẽ đi qua tờ mẫu phơi tác dụng lên màng nhậy sáng điazo và gây ra phản ứng
quang hoá để biến màng điazo ban đầu thành một hợp chất dễ tan trong dung dịch
kiềm yếu.

khay
- Chú ý: Nồng độ và thời gian hiện phải phù hợp với từng loại bản sao cho tẩy
bỏ hết hoàn toàn lớp diazo đã bị phân huỷ ra khỏi bề mặt bản hạn chế đến mức thấp
nhất những phản ứng tiêu cực xảy ra làm giảm chất lượng bản.
b. Tút bản:
Dùng dung môi hữu cơ có thể hoà tan lớp diazo ban đầu nhằm tẩy bỏ những
phần tử in phụ trên phần tử trắng.
c.Trung hoà
Mục đích nhằm tẩy bỏ hoàn toàn lượng xút dư trên bề mặt bản mà không ảnh
hưởng gì đến tính thấm ướt của bản với nồng độ axít H
3
PO
4
5%
c. Gôm bản:
Dùng gôm arabic 10 % xoa đều lên khắp toàn bộ mặt bản nhằm tạo ra màng
bảo vệ giữ các phần tử in và phần tử trắng trên bản không bị ảnh hưởng bởi oxy
không khí và làm tăng tính bắt ẩm của phần tử trắng.
II. Kỹ thuật in offset:
Quy trình công nghệ của in offset gồm những công đoạn sau:
Nh
ận, chuẩn
bị NVL



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status