ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI VÀ CÁC BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ - Pdf 11


ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT TÁC
ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
VÀ CÁC BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ

272

ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI VÀ CÁC BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ
ThS. Mai Hạnh Nguyên
1

Ngày nay, các hiểm họa và thách thức về môi trường không còn giới hạn
trong phạm vi của từng quốc gia hay từng khu vực mà đã mang tính toàn cầu.
Một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại đó là sự nóng lên toàn cầu
và mực nước biển dâng - những biểu hiện chính của biến đổi khí hậu (BĐKH).
Với hơn 75% dân số sống dọc theo bờ biển dài hơn 3260 km, Việt Nam là
một trong n

hưởng gián tiếp thông qua sinh vật. BĐKH gây rối loạn chế độ mưa, nguy cơ
nắng nóng nhiều hơn,… làm cho lượng dinh dưỡng trong đấ
t bị mất cao hơn,
hiện tượng xói mòn, khô hạn nhiều hơn. Nước biển dâng, thiên tai, bão lũ gia
tăng sẽ làm tăng hiện tượng nhiễm mặn, ngập úng, sạt lở bờ sông, bờ biển… dẫn
đến ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất.
Những thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, thời điểm mưa và những thay đổi
về hình thái trong chu trình nước: mưa - nướ
c bốc hơi… đều dẫn đến sự thay đổi

1
Viện Nghiên cứu quản lý đất đai

273

cơ chế ẩm trong đất, lượng nước ngầm và các dòng chảy. Ngược lại, việc sử
dụng đất đai cũng có ảnh hưởng đối với sự thay đổi các yếu tố khí hậu. Lượng
phát thải khí nhà kính do sử dụng đất, chặt phá dẫn đến suy thoái rừng,… là
những nguyên nhân tác động đến sự nóng lên của toàn cầu.
1.2. Hiện trạng và biến động sử dụng đất Việt Nam năm 1990 - 2008
Việt Nam có diện tích tự nhiên hơn 33 triệu ha, trong đó diện tích sông
suối, núi đá và các đảo chiếm gần 2 triệu ha, còn lại khoảng 31 triệu ha là diện
tích đất liền, được phân bố theo các nhóm đất như sau:
Bảng 1: Hiện trạng, biến động sử dụng đất đai cả nước năm 1990 - 2008
Năm 1990 Năm 2000 Năm 2008
TT
Mục đích sử
dụng đất
Diện tích
(1.000 ha)

10 năm trở lại đây, với quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ trồng lúa sang
nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi và dịch vụ, diện tích trồng lúa đã giảm nhanh
chóng, giảm hơn 400 ngàn ha, trung bình mỗi năm giảm 52 ngàn ha. Châu thổ
sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai khu vự
c giảm diện tích đất trồng
lúa nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 80% của cả nước.
Đất lâm nghiệp có rừng: Do có các biện pháp hợp lý về bảo vệ, khoanh
nuôi tái sinh rừng cùng với thực hiện các chính sách và chương trình trồng rừng
phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nên diện tích đất lâm nghiệp của cả nước và ở

274
các vùng (Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ) có xu hướng tăng liên
tục từ năm 1990 - 2008, diện tích đất lâm nghiệp cả nước tăng tuyệt đối gần 5,4
triệu ha. Năm 2008, diện tích đất lâm nghiệp là 14.816,6 nghìn ha. Diện tích đất
lâm nghiệp tăng nhanh nhưng chất lượng rừng lại giảm sút đáng lo ngại. Năm
1943, loại rừng giàu cả nước có gần 10 triệu ha (chiếm 70% diệ
n tích rừng), tuy
nhiên hiện nay thì rừng tự nhiên chỉ có 9% là rừng giàu (trữ lượng trên 150
m
3
/ha), 33% rừng trung bình (trữ lượng 80 - 150 m
3
/ha) và khoảng 58% rừng
nghèo (trữ lượng dưới 80 m
3
/ha).
Diện tích rừng ngập mặn của cả nước, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, hiện có khoảng 280.000 ha, tăng gần 25.000 ha so với năm
1990 nhưng lại giảm trên 10.000 ha so với năm 1996 (năm 1943 diện tích RNM
Việt Nam có hơn 400.000 ha) và vẫn tiếp tục giảm.

n là không chịu ảnh hưởng của BĐKH.

275

Hình 1: Các tác động của BĐKH đến tài nguyên đất Việt Nam
Đồng bằng sông Hồng: bão, lũ,
lụt, nước biển dâng - sạt lở đất,
ngập úng
Vùng núi trung du Miền
Bắc: bão, lũ quét, hạn hán
- xói mòn, sạt lở đấ
t

Dải ven biển: bão, lũ, lũ quét,
nước biển dâng - xâm nhập mặn,
hạn hán, ngập úng
Tây Nguyên: lũ, hạn hán, bão -
xói mòn, sạt lở đất
Đồng bằng sông Cửu Long: lũ,
bão, nước biển dâng - xâm nhập
mặn, ngập úng, sạt lở đất


276
Hữu; tại Vĩnh Long, nước mặn từ sông Định An, Cung Hầu đã vào đến xã Quới
An (huyện Vũng Liêm) và thị trấn huyện Trà Ôn. Trên địa bàn Cà Mau, nước
mặn từ sông Ông Đốc đã xâm nhập sâu 65 km. Nước mặn từ sông Cái Lớn cũng
xâm nhập sâu 65 km đến thị xã Vị Thanh (Hậu Giang). Trước đó, nước mặn từ 6
cửa sông nói trên và cửa Cổ Chiên (thuộc hệ thống sông Mê kông), từ cửa sông
Ông Đốc, Cái Lớ
n đã xâm nhập sâu từ 10 - 60 km đến địa bàn 53 xã thuộc các
tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang,
Cà Mau, Vĩnh Long, Hậu Giang.
Hiện tượng nhiễm mặn ở vùng ven biển lớn hơn nhiều ở các khu vực
khác. Nước mặn xâm nhập sâu kết hợp với suy giảm nguồn nước ở hạ lưu đã gây
ảnh hưởng lớn đến nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
-
Đất bị khô hạn và hoang mạc hóa: Sự phối hợp không hài hòa giữa chế
độ nhiệt và chế độ mưa tạo nên sự khắc nghiệt có khả năng thúc đẩy các quá
trình hạn hán, hoang mạc hóa của đất. Nguy cơ nắng nóng và đất đai bị khô cằn
nhiều hơn làm giảm năng suất trồng trọt.
Khô hạn: Tại những vùng đất khô hạn, bán khô hạn, sự thay đổi nhỏ của
nhiệt độ và lượng mưa có thể ảnh hưởng lớn tới đất đai. Hạn hán đã gây thiệt hại
nhiều mặt cho các vùng Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung bộ. Hạn hán kéo dài,
làm tăng nguy cơ cháy rừng và làm suy giảm đáng kể sức sản xuất của đất. Trung
bình trong 10 năm qua, diện tích bị khô hạn ở miền Trung lên tới 140.000 ha và
mất trắng gần 50.000 ha.
Theo báo cáo mới nhất của Cục Thủy lợi (Bộ
Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn), hạn hán đã gây thiếu nước cho trên 120.000 ha đất canh tác, tập trung
ở hầu hết các tỉnh Tây Nguyên, Ninh Thuận và Bình Thuận. Hạn hán cũng đã bắt
đầu ảnh hưởng đến các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ, mực nước trên các sông, hồ

- Đất bị ngập úng: Những năm gần đây thiên tai, lũ lụt, hiện tượng triều
cường x
ảy ra liên tiếp đã làm cho vấn đề ngập úng đất ngày càng trở nên nghiêm
trọng. Tại miền Bắc, hội tụ đới gió Đông Nam kết hợp với bộ phận không khí
lạnh phía Bắc tràn xuống là nguyên nhân dẫn đến trận mưa cực lớn gây ngập úng
ở nhiều nơi. Cuối tháng 10 năm 2008 tại Hà Nội, tính riêng lượng mưa trong
vòng 24 giờ đầu tiên tại đường Láng đã lớn thứ hai trong lịch sử (sau tr
ận mưa
năm 1984), đây là hiện tượng thời tiết bất thường, trái với quy luật.
Tại miền Trung, Bình quân mỗi năm có khoảng 12 vạn ha lúa bị úng ngập
(trong đó có khoảng 4 vạn ha bị mất trắng, trên 7 vạn ha bị ảnh hưởng) và có trên
6,2 vạn ha hoa màu bị úng ngập.
Tại miền Nam, từ năm 2004 - 2007, đỉnh triều cường trên sông Hậu tại
thành phố Cần Thơ mỗi năm cao thêm 4 cm, gây nên tình trạ
ng ngập lụt thường
xuyên ở một số tuyến đường phố trung tâm Thành phố Cần Thơ. Ở Thành phố
Hồ Chí Minh từ năm 1999 đến nay, mực nước thủy triều của Thành phố Hồ Chí
Minh cũng liên tục tăng nhanh, từ mức 1,22m lên 1,55m.
- Đất bị xói mòn, rửa trôi: BĐKH gây rối loạn chế độ mưa nắng, nguy cơ
nắng nóng nhiều hơn, lượng mưa thay đổ
i, lượng dinh dưỡng trong đất bị mất cao
hơn trong suốt các đợt mưa dài, gây ra hiện tượng xói mòn nhiều hơn. Các quan
trắc có hệ thống về xói mòn đất từ 1960 đến nay cho thấy trên thực tế có khoảng
10 - 20% lãnh thổ Việt Nam bị ảnh hưởng xói mòn từ trung bình đến mạnh.
Vùng Tây Bắc đất dốc chiếm 98% nên nguy cơ thoái hóa và xói mòn là rất
lớn. Hàng năm, chỉ trong 6 tháng mùa mưa, lượng đất mất đã chiếm tớ
i 75 -
100% tổng lượng xói mòn cả năm, còn lại dưới 25% lượng đất bị xói mòn xẩy ra
trong các trận mưa giông ở thời kỳ chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa (tháng
3 - 4) hoặc từ mùa mưa sang mùa khô (tháng 11).

năm gần gây, các nhà nghiên cứu môi trường Việt Nam cảnh báo, m
ũi Cà Mau -
đã và đang có biểu hiện bị xói lở khá mạnh.
Sạt lở đất ở ven sông và vùng cao: Sạt lở đất ven sông và vùng cao cũng
là một vấn đề xẩy ra thường xuyên ở Việt Nam. Dọc theo các hệ thống sông vào
mùa mưa lũ, có hiện tượng sạt lở đất nghiêm trọng ở nhiều nơi, đặc biệt ở phần
hạ lưu các con sông Hồng, Cửu Long, Trà Khúc, Ba
Những nơi có
độ dốc cao, tầng đất không dày, sâu trên 1 m đã gặp những
tầng đá vụn, đất không bám được vào lớp đá vụn phía dưới bị bong ra, lở xuống
xuống phía dưới theo trọng lực. Ở Mường Tè (Lai Châu), Yên Sơn (Sơn La) và
Trạm Tấu (Yên Bái) các trận mưa rào đầu vụ đã làm trượt cả tầng đất mặt đang
trồng lúa, ngô xuống dưới chân dốc.
Sạt đất, trượt lở
đất không chỉ làm lấp đất đang sản xuất mà còn làm hư
hại đường giao thông, công trình xây dựng và có những vụ đã vùi lấp một phần
diện tích bản làng, sông, suối.
III. CÁC ĐÁP ỨNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI TÀI
NGUYÊN ĐẤT
3.1. Một số các giải pháp có liên quan đến đất đai đã được áp dụng
Trong những năm qua, nhiều giải pháp cụ thể có liên quan đến việc quản
lý, sử dụng tài nguyên đất giúp Việt Nam ứng phó với BĐKH đã được đề ra như:
- Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 134 của Công ước
quốc tế về chống sa mạc hóa vào tháng 11 năm 1998. Phòng chống hoang mạc
hóa, sa mạc hóa là một vấn đề
mang tính chiến lược vừa cấp bách, vừa lâu dài.
Việt Nam đã và đang tiến hành hai chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng
nhất liên quan tới chống hoang mạc hóa giai đoạn 2000 - 2010, đó là Chương
trình trình trồng mới 5 triệu ha rừng và Chương trình quốc gia về tăng trưởng
toàn diện và giảm nghèo. Cả hai chương trình mục tiêu này đều đang hướng tới

i pháp này bao gồm 2 loại
chính đó là giải pháp thích ứng và giải pháp giảm nhẹ:
3.2.1. Giải pháp chung
Dựa trên kinh nghiệm của các nước đã triển khai kế hoạch quốc gia và
thực tiễn ở Việt Nam, có thể đề xuất một số nhóm giải pháp như sau.
- Chiến lược, chính sách: Việt Nam cần phải tăng cường hành động hơn
nữa trong lĩnh vực này, các cơ quan chức năng trong nước phải phố
i hợp chặt chẽ
với nhau, với các tổ chức quốc tế để thực hiện tốt những biện pháp lồng ghép
ứng phó với diễn biến của khí hậu, đẩy mạnh hơn nữa công tác quản lý Nhà nước
liên quan đến biến đổi khí hậu, xây dựng, bổ sung, sửa đổi các chính sách, văn
bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai.
Rà soát hệ thống pháp luật, chính sách hi
ện hành, đánh giá mức độ quan
tâm đến yếu tố BĐKH trong các văn bản pháp luật và chính sách đất đai của Nhà
nước, từ đó xác định những văn bản cần ban hành, cần sửa đổi bổ sung và những
nội dung cần bổ sung để nâng cao trách nhiệm của các ngành, các cấp. Xây dựng,
bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống văn bản qui phạm pháp luật về đất đai liên quan
đến thích ứng và giả
m với BĐKH và các cơ chế chính sách khác có liên quan.
Tích hợp yếu tố BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch sử
dụng đất: là hoạt động rà soát, điều chỉnh, bổ sung cho các chiến lược, quy hoạch
và kế hoạch đó, bao gồm chủ trương, chính sách, cơ chế, tổ chức có liên quan
đến việc thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch, các nhiệm vụ và sản phẩm
c
ũng như các phương tiện, điều kiện thực hiện cho phù hợp với xu thế BĐKH,
các hiện tượng khí hậu cực đoan và những tác động trước mắt và lâu dài của
chúng đối với tài nguyên đất.



BIẾN ĐỐI KHÍ HẬU
Gia tăng nhiệt độ và ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT
VÀ TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
Đất đai sử dụng cho mục đích nông nghiệp, phi nông nghiệp,…

G
I

M

N
H

SỬ DỤNG ĐẤT
Quy hoạch sử dụng đất, định cư,
tái định cư,

CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI
ĐẤT ĐAI
GIẢI PHÁP
THÍCH

N
G
GIẢI PHÁP
GIẢM NHẸ
GIẢI
PHÁP

khác nữa là cần nâng cao nhận thức của cộng đồng, năng lực cho các nhà quản
lý, các nhà hoạch định chính sách về khí hậu và B
ĐKH đến tài nguyên đất ở
Việt Nam để có cách thích ứng với BĐKH.
- Hợp tác quốc tế: Xây dựng kế hoạch quản lý, sử dụng đất nhằm ứng phó
với BĐKH, danh mục các chưng trình, dự án thuộc lĩnh vực BĐKH đến tài
nguyên đất ở Việt Nam để kêu gọi tài trợ và tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ

281

các nước phát triển.
3.2.2. Giải pháp thích ứng
Đối với đất đai chịu ảnh hưởng hoặc có nguy cơ chịu ảnh hưởng của
BĐKH, việc sử dụng đất sẽ hạn chế và phải được quản lý chặt chẽ. Để làm được
điều đó, cần phải đánh giá mức độ bị ảnh hưởng, khả năng chịu ảnh hưởng, tình
hình s
ử dụng đất hiện tại, tính tuần hoàn của việc sử dụng đất. Đối với từng vùng
cần lưu ý các vấn đề sau:
- Vùng Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long: Đối với hai vùng đồng
bằng cần xây dựng kế hoạch quản lý, sử dụng đất thích ứng với BĐKH cho các
tỉnh một cách thiết thực. Giải pháp "sống chung" với lũ đã được người dân
địa
phương lựa chọn và trải nghiệm qua nhiều năm cần được tiếp tục phát triển, nâng
cao và hoàn thiện theo hướng thích ứng tác động của mực nước biển dâng trong
tương lai.
- Dải ven biển: Thích ứng xu thế hạn hán gia tăng và hoang mạc hóa ở dải
ven biển Nam Trung Bộ là định hướng ưu tiên nhằm giảm tính dễ bị tổn hại,
phòng ngừa và hạn chế thoái hóa đất và hoang mạ
c hóa, xâm nhập mặn, ngập lụt
và xói lở bờ biển do tác động của BÐKH đối với vùng có khí hậu khô hạn và bán

- Rà soát quy hoạch, đặc biệt là các vùng ven biển và đô thị chịu ảnh
hưởng của BĐKH: Ưu tiên đất thủy lợi để xây dựng các công trình tiêu úng; Đất
giao thông để xây dựng cơ sở hạ tầng phòng chống lụt bão; Đất ở phục vụ cho
việc tái định cư, di dân. Quy hoạch sử dụng đất hợp lý tạo điều kiện cho việc
định canh, định cư.
KẾT LUẬN
V ị trí địa lý và địa hình đã tạo cho tài nguyên đất của Việt Nam chịu ảnh
hưởng rất lớn của các điều kiện khí hậu. Nhưng ngược lại, việc sử dụng đất của
Việt Nam cũng là một trong những nguyên nhân có ảnh hưởng không nhỏ đến
những biến đổi về thời tiết. Kết quả đánh giá tổng quát tác động của BĐKH đối
v
ới tài nguyên đất đai cho thấy hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền,
diện tích đất bị khô hạn có xu hướng mở rộng, hiện tượng ngập úng, xói mòn, rửa
trôi, sạt lở đất… xảy ra thường xuyên và diễn biến phức tạp, đối với các vùng
khác nhau có những tác động đặc thù khác nhau.
Việc đánh giá tác động của BĐKH đến tài nguyên đất đai là một việc đòi
hỏi phải
đầu tư nhiều thời gian và kinh phí, kết quả của nghiên cứu này mới chỉ
là những đánh giá mang tính tổng quan. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu và các đề
xuất về giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu đối với tài nguyên đất đai được
đưa ra sẽ là các tài liệu tham khảo hữu ích khi xây dựng định hướng về quản lý,
sử dụng đất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status