MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Do đặc điểm lịch sử xã hội của Việt Nam, với chiến tranh kéo dài, nên Vàng có
một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế cũng như đối với người dân. Hiện nay, cơ
chế kinh tế thị trường cùng với những bất ổn phát sinh trong quá trình điều hành và
quản lý, thì sự biến động của giá Vàng thể hiện “tình trạng sức khỏe” của nền kinh tế.
Thời gian gần đây, thị trường Vàng tại Việt Nam có những cơn biến động lớn, làm
ảnh hưởng đến sự ổn định của kinh tế vĩ mô cũng như tâm lý của người dân. Ngân
Hàng Nhà Nước đã sử dụng nhiều chính sách mang tính hành chính để điều hành thị
trường như: đóng cửa sàn Vàng, cấm kinh doanh Vàng miếng, cấm các ngân hàng
huy động bằng Vàng… Điều này tác động đến tâm lý của dân chúng cũng như giới
kinh doanh và khiến giá Vàng dao động với biên độ lớn. Trong bối cảnh đó, việc
đánh giá, đo lường tác động của các nhân tố trong Chính sách tiền tệ đến giá Vàng là
yêu cầu cần thiết nhằm tìm ra giải pháp kiểm soát giá Vàng tại thị trường Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu:
-
Xác định mối quan hệ giữa các yếu tố của chính sách tiền tệ đến giá vàng.
-
Đo lường tác động của các nhân tố (tỷ giá, lạm phát, lãi suất…) trong chính sách
tiền tệ đến giá Vàng tại thị trường Việt Nam.
-
Đề xuất một số giải pháp mang tính chính sách nhằm ổn định thị trường vàng tại
Việt Nam.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
-
nhóm tác giả mong nhận được những góp ý từ quý độc giả và các nhà nghiên cứu để
hoàn thiện hơn trong các nghiên cứu tiếp theo.
2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VÀNG VÀ CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN
1.1. Đặc điểm của Vàng, vai trò của Vàng và mối tƣơng quan với Chính sách tiền
tệ tại Việt Nam
1.1.1. Đặc điểm và tính chất của vàng:
Trong lòch sử phát triển của loài người, kim loại đóng góp một phần không
nhỏ vào sự tiến hóa. Từ thời đại đồ đá, chuyển sang thời đại đồ đồng, kim loại đã
đưa xã hội loài người tiến lên một tầm cao mới. Thế giới kim loại thật đa dạng và
phong phú, trong đó vàng được con người tôn vinh là “vua của các kim loại”.
-Vàng có tên Latinh là Aurum, ký hiệu hóa học là Au. Nguyên tố hóa học
nhóm I thuộc hệ thống tuần hoàn Mendeleep, số thứ tự nguyên tử là 74, nguyên tử
lượng là 196,967. Trong các hợp chất hóa học, số oxy hóa của vàng là +1 và +3.
Khối lượng riêng của vàng là d=19,32g/cm3 ở 20oC. Nhiệt độ nóng chảy là 1060oC.
Nhiệt độ sôi 2950oC. Vàng tinh khiết rất dẻo, người ta có thể dát mỏng được những
lá vàng dày 3m. Vàng dẫn nhiệt, dẫn điện tốt. Vàng tinh khiết mềm, chòu mài mòn
tốt, có thể dùng móng tay vạch thành vết.
Trong tự nhiên vàng kim loại tồn tại dưới dạng vảy nhỏ lẫn trong đất, cát hay
phân tán trong các mỏ thạch anh. Hàm lượng của vàng trong vỏ Trái Đất khoảng
4,3.10-7 %. Trong nước biển, vàng chiếm một hàm lượng trung bình khoảng 5.10-7
Vàng kim loại không bò đơn axít và đơn hóa chất hòa tan, vàng chỉ hòa tan
trong các trường hợp sau:
+Vàng kim loại tan dễ dàng trong nước cường thủy (hỗn hợp axít HCl và axít
HNO3 tỷ lệ 3:1)
+Vàng kim loại hòa tan chậm trong dung dòch xyanua (NaCN hay KCN) khi
răng, bòt răng, làm răng giả … Trong ngành công nghiệp, vàng được dùng để chế tạo
các linh kiện, thiết bò chính xác trong công nghiệp điện tử, chế tạo dụng cụ quang
học, hàng không vũ trụ …
Và vai trò của vàng thật sự quan trọng trong đời sống con người khi nó mang
hình thái tiền tệ. Lúc đó, vàng có thể được chuyển hóa trực tiếp thành bất cứ hàng
4
hóa nào. Đây mới là động lực để con người không ngừng tìm kiếm, khai thác, chế
tác và tích trữ vàng trên khía cạnh giá trò nhiều hơn khía cạnh giá trò sử dụng.
1.1.2.2. Giá trò của vàng với tính chất tiền tệ:
a/ Thời kỳ trao đổi hiện vật
Thời cổ xưa, loài người sống tập trung trong từng bộ lạc, chủ yếu là săn bắt,
hái lượm rồi đònh cư, nuôi trồng, sản xuất, tự cung tự cấp. Khi xuất hiện nhu cầu trao
đổi cái đang có của mình để lấy cái cần có của người khác, vàng tham gia vào các
cuộc trao đổi hiện vật chỉ thuần tuý với tư cách là một hàng hóa. Nó có giá trò sử
dụng nhất đònh, thỏa mãn những nhu cầu cụ thể trong đời sống sinh hoạt con người
như những loại vật phẩm khác.
Dần dần, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng và phong phú, quá trình
trao đổi đã xuất hiện một số vật đóng vai trò trung gian trao đổi. Đây là những hàng
hóa thỏa mãn các yêu cầu : phổ biến, giản dò, ở đâu cũng có, ai cũng biết, được mọi
người ưa chuộng, tiện dụng, thông dụng và có thể giữ được lâu ngày … Và các loại
quý kim - đặc biệt là vàng - đã thỏa mãn được những yêu cầu trên nên chúng có giá
trò trao đổi ngày càng cao
b/ Thời kỳ vàng là một loại tiền tệ:
Với những ưu điểm vượt trội hơn những hàng hóa khác được sử dụng là m vật
trung gian trao đổi như:
+ Đồng nhất về chất lượng
+ Dễ chia nhỏ
về cán cân thanh toán và đảm bảo giá trò cho những loại tiền tệ khác nhau
đang lưu hành trong nước.
c/ Thời kỳ vàng đóng vai trò bảo đảm giá trò cho các loại tiền tệ khác ngoài
tiền kim loại (tiền vàng, tiền bạc)
Khi nền kinh tế phát triển cao hơn, các ngân hàng cấp cho thân chủ có ký gởi
vàng những tấm biên lai có đặc điểm chia thành nhiều tấm nhỏ có thể đổi ra vàng
tại ngân hàng ký phát hay chuyển nhượng cho người khác. Đây là tiền đề cho sự ra
đời của tiền giấy. Thời gian đầu, khi phát hành tiền giấy, phải chấp nhận một số
điều kiện kiểm soát của nhà nước như sau:
- Điều kiện khả hoán: Số tiền giấy phát hành bất cứ lúc nào cũng có thể đổi
lấy tiền thực (tiền vàng) tại ngân hàng phát hành
6
- Điều kiện dự trữ pháp đònh: để đảm bảo cho điều kiện khả hoán, ngân hàng
phải luôn tồn trữ một số vàng tương ứng số tiền giấy đã phát hành (khoảng 40-60%)
- Những người lãnh đạo ngân hàng được bổ nhiệm với sự phê chuẩn của nhà
nước.
- Ngân hàng phải trả một số thuế trên giá trò số tiền giấy phát hành thặng dư
so với số vàng bảo đảm
- Mỗi khi nhà nước cần tiền, ngân hàng phát hành phải cho vay không lấy lãi.
Đây là giai đoạn vàng đóng vai trò đảm bảo giá trò cho tiền giấy. Đến khi
tiền giấy không còn được chính quyền chấp thuận đổi ra vàng thì vai trò của vàng
có suy giảm đáng kể nhưng vẫn chưa bò loại hẳn ra khỏi các giao dòch thanh toán.
Sau nhiều biến động thăng trầm trong lòch sử, chúng ta đều nhận ra vàng luôn có giá
trò thực sự trong việc bảo toàn vốn, nhất là trong những lúc khó khăn về chính trò,
thiên tai, chiến tranh…
1.2. Những đặc trƣng lớn của Thị trƣờng Vàng tại Việt Nam từ năm 1975 đến
nay, và ảnh hƣởng của từng thời kỳ kinh tế đến giá Vàng
Trước tình hình đo,ù dù nhà nước không hề có chủ trương cho mua vàng bạc tư
trang nhưng nhu cầu của xã hội luôn cần thiết, do đó mạng lưới kinh doang vàng của
tư nhân đã phát triển bất hợp pháp. Tuy nhiên, với kinh nghiệm hoạt động kinh
doanh, họ đã làm chủ thò trường vàng tại thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù vào thời
điểm này, ở thành phố Hồ Chí Minh đã có các cửa hàng kinh doanh vàng bạc nhưng
do thiếu sự lãnh đạo chặt chẽ, các cửa hàng này luôn hoạt động nằm ngoài thò
trường. Vì vậy, trong giai đoạn này, thò trường vàng thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu
là do tư nhân thao túng và đầu cơ, làm giá. Điều này dẫn đến hậu quả là Nhà Nước
thất thu thuế, không thể kiểm soát được tuổi vàng trên thò trường, khiến cho nhân
dân bò thiệt hại nhiều.
1.2.2. Giai đoạn 1989-1997
Đây là giai đoạn quản lý vàng theo cơ chế kinh tế thò trường dưới sự quản lý
của Nhà Nước. Trước những cơn sốt giá vàng quá mạnh, bắt đầu từ năm 1988 trở đi,
Nhà Nước đã ban hành nhiều quy đònh mới như:
- Tạo điều kiện dễ dàng cho các đơn vò, đòa phương được phép nhập vàng.
- Thừa nhận và cho phép tư nhân – các ngành kinh tế quốc doanh cũng được
kinh doanh vàng.
8
- Nhà nước thừa nhận quyền sở hữu hợp pháp về vàng của mọi tổ chức và cá
nhân dưới dạng vàng khối, thỏi, cục, cốm, lá, vàng tư trang …
- Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
được quyền cất giữ, vận chuyển hay gửi vàng ở ngân hàng.
…..
Chính từ một loạt các chính sách kinh tế “mở” theo cơ chế thò trường này mà
thò trường vàng - dollar - tiền tệ đã nhộn nhòp và rất sôi động, xuất hiện sự cạnh
tranh ráo riết giữa tư nhân và quốc doanh, giữa quốc doanh và quốc doanh … Các
cửa hàng không ngừng phấn đấu giữ vững và nâng cao chất lượng vàng bán ra.
giả tạo.
Thêm vào đó, trong giai đoạn này, lượng dollar (USD) của nước ta rất khan
hiếm. Hàng năm, số lượng hàng xuất khẩu để đem ngoại tệ về rất ít nên Nhà Nước
ta lo ngại việc nhập vàng sẽ làm chảy máu ngoại tệ. Do đó, từ năm 1997 , Nhà
Nước ta đã không cấp quota nhập khẩu vàng nữa.
Bên cạnh đó, đây là thời gian chúng ta chuyển tiếp từ cơ chế kinh tế tập
trung, bao cấp sang cơ chế kinh tế kinh tế thò trường có sự quản lý của Nhà Nước,
hành lang pháp lý và những chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà Nước vẫn chưa
được nhân dân tin tưởng lắm, nên người dân vẫn còn ngại ngần trong việc tiến hành
hoạt động kinh doanh trên cả nước. Tâm lý của người dân trong giai đọan này vẫn
rất ưa chuộng việc tích trữ vàng. Hậu quả chính sách tiền tệ sai lầm của giai đoạn
trước vẫn còn dư âm, khiến người dân luôn núp dưới bóng của vàng. Và vàng vẫn
đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam tuy mức độ đã giảm
nhẹ hơn nhiều so với giai đoạn trước
1.2.3. Giai đoạn 1997- 2007
Từ năm 1997 cho đến nay, tình hình kinh tế của Việt Nam có nhiều bước
chuyển đổi mạnh. Nền kinh tế thò trường có sự điều tiết của Nhà Nước dần đi vào
quỹ đạo chung, GDP hằng năm gia tăng đáng kể, kiềm chế được lạm phát.
Toàn bộ bộ mặt của nền kinh tế Việt Nam đã đổi khác, nhiều thành phần
kinh tế trong xã hội được khuyến khích mở rộng hoạt động kinh doanh. Nhiều chính
sách thông thoáng được ban hành cùng với sự kêu gọi đầu tư ở khắp các tỉnh thành
trong cả nước. Hành lang pháp lý dần được mở rộng và
10
đảm bảo cho lợi ích của người đầu tư. Do đó, người dân Việt Nam đã mạnh dạn hơn
trong việc đầu tư kinh doanh, mở rộng hoạt động sản xuất. Tâm lý người dân không
còn bò ám ảnh bởi tốc độ lạm phát chóng mặt như trước, không còn tâm lý mua vàng
cất trữ đề phòng lạm phát. Mà đã biết sử dụng tiền đầu tư vào nhiều lónh vực như :
không tuồn về nữa. Chính từ việc không thể quản lý được lượng vàng tuồn về mỗi
đợt chênh lệch giá, cộng thêm việc thất thu thuế do vàng nhập lậu, nên đến năm
2002, Nhà Nước ta đã cho phép cấp quota nhập vàng cho một số đơn vò có đăng ký
kinh doanh vàng.
Tuy nhiên qua khảo sát giá vàng thế giới và giá vàng SJC ở thò trường thành
phố Hồ Chí Minh , chúng ta nhận thấy rằng:
- Chênh lệch giữa giá thế giới và giá trong nước chỉ xảy ra trong thời gian
ngắn
- Tốc độ biến động của giá trong nước thấp hơn so với tốc độ biến động của
giá thế giới
- Từ năm 2002, đã bắt đầu có quota nhập vàng nhưng do chênh lệch giá thế
giới và giá trong nước không nhiều nên mức nhập vàng vẫn rất thấp.
1.2.4. Giai đoạn 2007 đến 2010
Đây là giai đoạn thị trường vàng của Việt Nam biến động nhiều nhất, do có sự ra
đời của các sàn Vàng trên cả nước. Hoạt động giao dịch nhộn nhịp và vượt ngồi tầm
kiểm sốt của cơ quan Nhà Nước. Sàn vàng đầu tiên ra đời vào ngày 25/5/2007, chỉ hơn
một năm sau, thị trường Việt Nam có 7 sàn vàng lớn hoạt động, với khối lượng khớp
lệnh và giá trị giao dịch tăng hơn trước rất nhiều.
Với đặc điểm giao dịch được sử dụng “đòn cân nợ”, nghĩa là khách hàng chỉ cần
ký quỹ 7% thì có thể giao dịch 100%, phần 93% còn thiếu, sàn sẽ cho khách hàng vay
với lãi suất bằng với lãi suất ngân hàng. Với những nét hấp dẫn như vậy, sàn vàng đã
thu hút lượng người tham gia rất lớn và độ nở rộ của các sàn vàng cũng rất nhanh.
Tuy nhiên, đặc điểm giao dịch như trên đã tạo nên lượng cầu về vàng “ảo” trên
thị trường. 93% giao dịch trên tài khoản đã tạo nên áp lực cầu trên thị trường thực, đẩy
giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới rất nhiều.
Cụ thể, trong ngày 17/9/2008, chỉ riêng 4 sàn giao dịch vàng lớn ở Tp.Hồ Chí
Minh đã có số liệu như sau:
12
SJC-EXIMBANK
11.100
187
4
Phương Nam Bank
4.150
69
297.110
4.949
Tổng cộng
(Nguồn: tổng hợp của tác giả)
Giá vàng trên sàn xác định bởi lượng mua và bán trên sàn, nhưng nó cũng quyết định
giá vàng ở thị trường tự do bên ngoài sàn. Khi lực cầu về vàng tăng cao, giới kinh
doanh lại gom USD để nhập vàng về, điều này gây xáo trộn trên thị trường ngoại hối.
Bên cạnh đó, thời gian này chưa có một hành lang pháp lý đầy đủ để quy định rõ quyền
và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch trên sàn vàng. Đã xảy ra rất nhiều tranh
chấp giữa nhà đầu tư và sàn vàng xuất hiện trong quá trình giao dịch ở thời gian này.
Vì những lý do đó, đến tháng 3/2010, Nhà Nước cho đóng cửa hoàn toàn các sàn vàng,
đưa hoạt động kinh doanh vàng ở thị trường Việt Nam trở về với những hoạt động giao
dịch vàng vật chất thuần túy.
cần phải có nhiều thông tin cụ thể và chính xác hơn.
14
Chƣơng 2: NHỮNG NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Cơ sở lý thuyết về giá cả
Để nghiên cứu biến động của giá vàng và mức độ tác động của các nhân tố trong
chính sách tiền tệ, tác giả nghiên cứu khung lý thuyết hình thành giá cả hàng hóa
nói chung và giá cả vàng nói riêng. Nhóm tác giả sử dụng lý thuyết về cung cầu
hàng hóa để giải thích cho sự hình thành giá vàng tại thị trường Việt Nam.
2.1.1. Lý thuyết về cầu:
2.1.1.1. Khái niệm cầu:
Cầu là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó mà người tiêu dùng muốn mua vả
có khả năng mua, sẵn sảng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất
định.
2.1.1.2. Lượng cầu:
Lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người tiêu dùng mua tại một mức giá nhất định
với các yếu tố khác không đổi.
Chúng ta có thể biểu diễn mối tương quan giữa giá và lượng cầu bằng đồ thị.
Hình dưới đây minh họa đường cầu giản đơn nhất.
Hình 1: Biểu đồ minh họa đƣờng cầu đơn giản
P
P1
P2
Q1
Q Dx :Lượng cầu đối với hàng hoá X
PX : Giá của lượng hàng hoá X
Py :Giá của lượng hảng hoá Y
PZ : Giá của lượng hàng hoá Z
I: Thu nhập của người tiêu dùng
Ntd :SỐ lượng người tiêu dung
CP: Các chính sách vĩ mô
E : Kỳ vọng của người tiêu dùng
2.1.2. Lý thuyết về cung:
2.1.2.1. Khái niệm cung:
Cung là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mả người sản xuất muốn bán và có khả
năng bán ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định
2.1.2.2. Lượng cung:
Lượng cung là số lượng hàng hóa mà các doanh nghiệp muốn bán tại một mức
giá đã cho với các yếu tố khác không đổi.
2.1.2.3.Đường cung: Đường cung lả đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng
cung và giá cả trên một trục toạ độ.
16
Hình 2: Biểu đồ minh họa đƣờng cung đơn giản
P
P1
P2
Q2
Q1
E : Kỳ vọng của doanh nghiệp trong tương lai
2.1.3. Cân bằng thị trƣờng
2.1.3.1.
Khái niệm điềm cân bằng: cân bằng là một trạng thái của thị
trường mà ở đó lượng cung bằng với lượng cầu, xác định mức
giá cả chung gọi là giá cả thị trường.
Tác động qua lại giữa cung và cẩu xác định giá cả và sản lượng
hàng hoá, dịch vụ được mua và bán trên thị trường. Đường cẩu
cho biết lượng hàng hoá mà người tiêu dùng muốn mua tại các
mức giá khác nhau và đường cung cho biết số lượng hàng hóa
mà các doanh nghiệp muốn bán tại các mức giá khác nhau. Khi
tất cả mọi người tham gia vào thị trường có thể mua hoặc bán
một lượng bất kỳ mà họ mong muốn, chúng ta nói rẳng thị
trường trong trạng thái cân bằng. Đó là trạng thái mà cả người
mua và người bán đều không thích thay đổi hành vi của họ. Mức
giá mà người mua muốn mua và người bán muốn bán theo ý của
họ được gọi lả mức giá cân bằng. Sản lượng được mua và bán
tại mức giá cân bằng gọi là lượng cân bằng.
Mô hình cân bằng cung cầu thị trường
Hình 3: Biểu đồ minh họa cân bằng cung cầu trên thị trƣờng
P
D
S
E
Lãi suất của nợ qua đêm
Cố định tỷ lệ lạm phát
Mục tiêu mức giá
Lãi suất của nợ qua đêm
Cố định mức giá
Tổng cung tiền
Tốc độ tăng cung tiền
Cố định tỷ lệ lạm phát
Cố định tỷ giá
Tỷ giá
Tỷ giá
Bản vị vàng
Giá vàng
Lạm phát thấp đo bằng giá vàng
Chính sách tổng hợp
2.2.3.5.Công cụ hạn mức tín dụng
Đây là công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung
ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn mức
tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương
mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
2.2.3.6.Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó
vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ
giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất
nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động
một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài
chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất nước. Về
thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay
đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền
kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.
20
2.3. Phân biệt giữa giao dịch vàng vật chất và vàng tài khoản
2.3.1. Giao dịch Vàng vật chất
Giao dịch vàng vật chất là hình thức mua bán vàng thông thường, có sự xuất
hiện của hàng hóa (ở đây là vàng) và tiền trao đổi. Khối lượng và số tiền giao
dịch đúng bằng với khối lượng hàng hóa xuất hiện và tính theo giá cả thị
trường. Ở Việt nam, giao dịch vàng vật chất thường sử dụng giá vàng trong
nước niêm yết tại thời điểm giao dịch để tính toán.
Hầu hết các giao dịch vàng được phép hoạt động tại Việt nam là giao dịch
vàng vật chất.
2.3.1. Giao dịch vàng tài khoản
Giao dịch vàng tài khoản là hình thức mua bán không có sự xuất hiện của
liệu thời gian từ đầu năm 1998 đến tháng 5/2004. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác
giả nghiên cứu những nhân tố tác động đến cả vàng và USD, chứ không chỉ tập trung
vào các yếu tố tác động đến vàng.
Trong khi đó, vào năm 2011- TS Nguyễn Minh Phong-TS Nguyễn Thị Kim Nhã
trong bài “Kinh doanh vàng trong thời lạm phát” ở Tạp chí Thị Trường Tài Chính Tiền
Tệ số 8 ngày 15/4/2011- cho rằng giá vàng chịu tác động của: giá thế giới, lạm phát, sự
suy giảm lòng tin vào thị trường nên làm tăng tâm lý tích trữ của người dân. Ở đây, các
tác giả sử dụng phương pháp định tính, thống kê mô tả để lý luận tại thị trường Việt
Nam. Vì vậy nên kết quả chưa có số liệu cụ thể.
Cũng trong năm 2011- TS.Nguyễn Đại Lai trong bài “Bình luận và đề xuất giải
pháp ổn định tỷ giá” ở Tạp chí Thị Trường Tài Chính Tiền Tệ số 6 ngày 15/3/2011- cho
rằng giá vàng tăng không phải do mãi lực tăng mà tăng theo giá thế giới, theo giá USD
và theo kỳ vọng lạm phát.
Khi đề cập đến giá vàng tại Việt Nam - Ông Đinh Nho Bảng – Phó chủ tịch kiêm
Tổng Thư Ký Hiệp Hội kinh Doanh Vàng Việt Nam cho rằng: giá vàng Việt Nam bị tác
động bởi: giá vàng thế giới, lạm phát, lãi suất ngân hàng, tỷ giá và cơ chế điều hành
xuất nhập khẩu vàng phải có giấy phép hiện nay.
Trên đây là những nghiên cứu của các tác giả Việt Nam có liên quan đến đề tài.
Trên thế giới, cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở các quốc gia khác nhau như:
Ganesh Mani and Srivyal Vuyuri khi nghiên cứu về giá vàng ở Ấn Độ, đã dùng
phương pháp hồi quy với số liệu theo năm từ 1996 đến 2002 và lấy log đối với các biến
phân tích. Kết quả hồi quy như sau: giá vàng tại Ấn Độ có ảnh hưởng bởi các nhân tố
sau đây: lạm phát, lãi suất ngân hàng, tỷ giá, thị trường chứng khoán, giá vàng thời kỳ
trước, giá kim loại bạc và các sự kiện làm ảnh hưởng đến giá vàng.
22
Khi phân tích về giá vàng -Christophe Faugère- Assistant Professor of Finance
School of Business, University at Albany trong bài “The Price of Gold – A Global
Khi đo lường tác động của các nhân tố, tác giả đề xuất sử dụng mô hình hồi quy
bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng với những kiểm định trong mô hình
OLS (Ordinary Least Squares – Bình phương bé nhất). Ở đây chúng ta xét giá
vàng trong nước biến động nhiều hay ít do tác động của các nhân tố sau đây:
-Giá vàng thế giới (Goldworld): phần lớn lượng vàng lưu thông trên thị trường
Việt Nam hiện hay là từ nguồn nhập khẩu, sản lượng vàng khai thác trong nước
rất ít và nhỏ giọt, chất lượng vàng thu được không cao. Hiện nay ở Việt Nam có
1 số mỏ vàng nhỏ nằm rải rác khu vực miền Trung như: mỏ vàng Bồng Miêu
(Quảng Nam),.. Hằng năm, nhà nước đều nhập vàng để lưu thong và cân đối
cung cầu trên thị trường. Vì vậy, giá vàng Việt Nam bám rất sát giá vàng thế
giới.
Tuy nhiên, khi vàng thế giới được nhập vào thị trường Việt Nam, thì với tác
động của một số nhân tố khác trong nước, khiến cho giá vàng biến động có độ
chênh lệch so với giá vàng thế giới. Có những thời điểm giá vàng trong nước còn
biến động ngược chiều so với giá vàng thế giới với những biên độ rất lớn.
Như vậy, bên cạnh việc bám theo giá vàng thế giới, dựa vào những phân tích từ
khung lý thuyết và vị trí của vàng trong nền kinh tế Việt Nam, nhóm tác giả ước
lượng các nhân tố khác có thể tác động đến giá vàng trong nước như sau:
-Tỷ giá USD so với VN (EXR: exchange rate): đây là nhân tố tác động rất lớn
vì muốn nhập khẩu vàng, các doanh nghiệp hay Ngân Hàng Nhà Nước phải sử
dụng đồng USD để nhập vàng. Và vì vàng có giá trị lớn, nên mỗi khi cần nhập
vàng, thì xuất hiện một mức cầu lớn về USD trên thị trường ngoại tệ. Điều này
tạo áp lực lên thị trường USD. Và vì vậy, tỷ giá USD cũng tác động đến giá vàng
trong nước.
- Lạm phát (CPI): Khi lạm phát tăng cao, giá trị của tiền đồng bị giảm đi, người
ta lại tìm đến vàng để mong bảo toàn giá trị cho số tài sản của mình. Vì vậy, nên
lạm phát cũng tác động đến giá vàng tại thị trường Việt Nam.
24
Giavang = β0 + β1 goldworld + β2 exr + β3 cpi + β4 lendrate
Để đo lường tác động của 4 biến độc lập goldworld, exr, cpi và lendrate lên biến
phụ thuộc giavang, nhóm tác giả viết phương trình tương quan giữa các biến, kiểm định
mô hình bằng các phương pháp: hồi quy đơn, hồi quy bội và hồi quy lấy log.
25