TIỂU LUẬN: Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Quan điểm duy vật biện chứng về
mối quan hệ giữa vật chất với ý thức

LờI NóI Đầu Tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cách mạng lớn lao nhất và quan trọng
nhất của Đảng và nhân dân ta hiện nay vì chỉ có thực hiện được mục tiêu này,
chúng ta mới có thể xây dựng được một nước Việt Nam mà theo cách nói của Hồ
Chí Minh là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh”. Và
cũng chỉ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta mới có thể làm thoả mãn
ham muốn tột cùng, ham muốn cuối đời của Người đó là : “Làm sao cho dân ta ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành

”. Vậy chúng ta phải làm thế
nào để thực hiện mục tiêu trên? Từ thực tế hiện nay cùng với con đường đi lên chủ

Thứ nhất, vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thứcvà không phụ
thuộc vào ý thức.
Thứ hai, vật chất là cái gây lên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó
(trực tiếp hay gián tiếp) tác động lên các giác quan của con người.
Thứ ba, vật chất cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản
ánh của nó.
Qua đó, Lênin muốn khẳng định rằng, trong nhận thức luận, vật chất luôn
mang tính thứ nhất, là cái quyết định: vật chất quyết định sự hình thành ý thức,
quyết định nội dung phản ánh, quyết định sự biến đổi của ý thức và nó còn là điều
kiện để hiện thực hoá ý thức.
Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học thần
kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là một thuộc tính của
vật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của một
dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người. Bộ óc người là cơ quan vật chất
của ý thức. Khoa học cũng đã chứng minh được rằng, thế giới vật chất nói chung
và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người và bộ óc
người, rằng ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho
tới khi xuất hiện con người và bộ óc người. Hoạt động ý thức của con người diễn
ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người. Bộ não người bao gồm
khoảng 15 đến 17 tỉ tế bào thần kinh, các tế bào này tạo nên vô số các mối liên hệ
nhằm thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt động của cơ thể
trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ không điều kiện và có
điều kiện.
Không chỉ có thế, vận động của ý thức, tư duy trên thực tế cũng là sản
phẩm của sự vận động của vật chất. Điều đó được chứng minh một cách khá rõ
ràng ở hình thức vận động xã hội của vật chất. Đó là sự thay thế lẫn nhau của các
hình thái kinh tế- xã hội, từ đó sớm hay muộn cũng dẫn đến sự thay đổi của ý thức,

Ví dụ: Vận dụng trong sự nghiệp công nhiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta.
Trước kia do không nhận thức được rằng mọi chủ trương đường lối…đều phải dựa
trên điều kiện vật chát hiện có mà chúng ta đã chủ trương phát triển công nghiệp
nặng trong khi mọi tiền đề vật chất thì chưa có. Do đó, chúng ta đã bị thất bại.
Không chỉ có thế, tính thứ nhất của vật chất so với tính thứ hai của ý thức
còn được thể hiện ở chỗ vật chất là điều kiện để hiện thực hoá ý thức. Nó quy định
khả năng các nhân tố tinh thân có thể tham gia vào hoạt động của con người. Nó
tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần này hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện
thực và qua đó quy định mục đích, chủ trương, biện pháp mà con người đề ra cho
hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sửa chữa, bổ sung, cụ thể hoá các mục
đích, chủ trương biện pháp đó.
Khi khẳng định vai trò cơ sở, quyết định trực tiếp của vật chất đối với ý
thức, chủ nghĩa duy vật macxit đồng thời cũng vạch rõ sự tác dộng trở lại vô cùng
quan trọng của ý thức đối với vật chất.
1.2. ý thức tác động trở lại vật chất.
ý thức do vật chất sinh ra song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương
đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn
của con người.
ý thức đúng đắn là ý thức dựa trên quy luật khách quan của con người. Do
đó nó có tác động tích cực, làm biến đổi hiện thực, vật chất khách quan theo nhu
cầu của mình.
ý thức sai lầm, trái quy luật khách quan của con người có tác động tiêu cực
thậm chí phá hoại các điều kiện khách quan, hoàn cảnh khách quan, kéo lùi lịch
sử. Bởi mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ tác động qua lại.
Không nhận thức được điều này sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thườngvà bệnh
nảo thủ trì trệ trong nhận thức và hành động.
Nói tới vai trò của ý thức về thực cất là nói tới vai trò của con người bởi ý
thức là ý thức của con người.
Trái với các nhà triết học duy tâm muốn biến ý thức của con người thành
động lực của lịch sử, Cácmac và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Xưa nay, tư tưởng

đề ra đường lối, phương pháp hành động.
Vai trò của ý thức còn thể hiện ở vai trò của tri thức, trí tuệ, tình cảm và ý
chí. Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà còn là động lực
của thực tiễn. Không có sự thúc đẩy của tình cảm, ý chí, hoạt động thực tiễn sẽ
diễn ra một cách chậm chạp, thậm chí không thể diễn ra được. Nhờ ý chí và tình
cảm, ý thức quy định tốc độ và bản sắc của hoạt động thực tiễn. Tinh thần, dũng
cảm, dám nghĩ dám làm, lòng nhiệt tình, chí quyết tâm, tình yêu, niềm say mê với
công việc, khả năng sáng tạo và vượt qua khó khăn nhằm đạt tới mục tiêu xác định
đều có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động thực tiễn làm cho nó diễn ra nhanh hay
chậm. Tuy nhiên, ý chí, tình cảm chỉ là động lực mà không thể là kim chỉ làm cho
hoạt động thực tiễn. Bởi vì, sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn, tác
dụng tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên và xã hội
chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo ý thức. Chính vì vậy phải biết kết hợp giữa
tri thức, trí tuệ, khoa học với ý chí, tình cảm. Bởi tri thức càng được tích luỹ, con
người ngày càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn.
Tuy nhiên cơ sở cho việc phát huy tính năng động chủ quan của ý thức là
việc thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quy luật tự nhiên
và xã hội. Nếu như thế giới vật chất – với những thuộc tính và quy luật vốn có của
nó – tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người thì trong nhận thức
và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực thể khách
quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình. Chính vì vậy, Lênin đã nhiều lần
nhấn mạnh rằng, không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách,
không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách
mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy
ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
Không chỉ có thế, khi vai trò chỉ đạo của ý thức phạm sai lầm thì tinh thần,
dũng cảm, lòng nhiệt tình, chí quyết tâm cũng làm cho hoạt động thực tiễn thất bại

Muốn phát triển lực lượng sản xuất, chúng ta phải đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trên cả quy mô bề rộng lẫn chiều sâu, tạo đường băng để đất
nước “cất cánh” một cách hiện thực hướng tới năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp hoá chứ không dừng lại ở phương hướng chung. Nghĩa là,
phải xây dựng một chương trình khả thi cho cả công nghiệp, nông nghiệp và các
ngành kinh tế khác, chú trọng cho phát triển nông nghiệp, cho các vùng kinh tế –
xã hội trọng điểm, cho vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng cũ…
Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010 của Đảng
ta đã khẳng định : con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có
thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự vừa có
những bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng
để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ
sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn
những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, bảo đảm cho khoa học và công
nghệ thật sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu trong phát
triển kinh tế – xã hội, khắc phục nguy cơ tụt hậu về khoa học và công nghệ. Trong
thời đại cách mạng thông tin hiện nay, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác
là phải tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới của thời đại để từng
bước phát triển kinh tế trí thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần
của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo là nền tảng và động lực của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bởi nhân tố con người đóng vai trò hết
sức quan trọng trong sự phát triển lực lượng sản xuất.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: Con đường
đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập hệ thống chính trị của quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu
mà mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là về khoa học

(từ thủ công đi thẳng vào hiện đại) sao cho trong một thời gian ngắn, thậm chí rât
ngắn chúng ta đạt trình độ với các nước tiên tiến trong khu vực…
Song chúng ta phải biết rằng, lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển gắn
liền với quan hệ sản xuất phù hợp. Vì vậy, Đảng và nhà nước ta đã chủ trương
thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ đó, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất
- kinh tế của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng
sản xuất hiện đại tới mức xã hội hoá gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới
phù hợp trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế
nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Kinh tế
thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước. Nhà nước
ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, quản lý nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật, chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các
hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản
xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy được mặt tích cực, hạn chế và khắc phục
mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của người lao động, của toàn thể
nhân dân.
Muốn đảm bảo cho nền kinh tế thị trường có điều kiện tồn tại và phát triển,
chúng ta phải thừa nhận sự tồn tại một cách tất nhiên và khách quan của các quy
luật: quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh… trong nền kinh tế.
Vì nó là cái khách quan nên chúng ta phải chú ý không nên đi ngược lại nếu không
thì chẳng bao giờ có thể xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.

Chúng ta xác định mục tiêu: chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng là
một chế độ xã hội vì con người và do con người. Để tiến hành đến mục tiêu xây
dựng thành công xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với tăng trưởng kinh tế, với công
bằng xã hội, với tiến bộ xã hội, phải ra sức thực hiện các chính xác xã hội. Đảng ta
khẳng định: “chính xác xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn
phát huy mọi tiềm năng sáng tại của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội”, bởi “không có đầu tư nào có lợi như đầu tư cho con người ”. Chính
sách xã hội của Đảng được thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống: quan tâm
chăm sóc đối với những người có công với cách mạng, chính sách đền ơn đáp
nghĩa (xây nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa). Trong kihn tế, tạo ra nhiều
công ăn việc là mới cho người lao động, cải cách chế độ tiền lương theo hướng
xoá bỏ thu nhập bình quân, tiền tệ hoá tiền lương, khuyến khích tài năng, đâu tư
đúng mức cho các ngành: y tế, giáo dục, văn hoá- nghệ thuật, nghiên cứu khoa
học. Thực hiện chính sách dân số là một mục tiêu hết sức quan trọng trong điều
kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Nhưng dù sao đó mới chỉ là những chủ trương, đường lối đối với tình hình
trong nước. Vậy còn quốc tế thì sao?
Thứ nhất, cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học tiếp tục có những bước nhảy vọt, ngày càng trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tri thức. Nước ta một
mặt có cơ hội rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển, cải thiện vị thế của
mình. Đồng thời đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu không tranh thủ được cơ
hội, khắc phục được những yếu kém để vươn lên. Điều này đòi hỏi các nhà doanh
nghiệp phải hết sức nhanh nhạy nắm bắt thông tin, áp dụng những thành tựu của
khoa học công nghệ vào trong kinh doanh, có như thế mới mong có cơ hội phát
triển.
Thứ hai, toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao
trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính
tích tụ và tăng cường nội lực đất nước để hội nhập một cách mạnh mẽ, toàn diện
và sâu sắc mà vẫn giữ được bản sắc Việt nam.
Hiện nay, các thế lực thù địch với những “diễn biến hoà bình” vẫn đang đe
dọa hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Từ thực tế đó đòi hỏi Đảng và
nhà nước ta phải ra sức tăng cường an ninh quốc phòng, ra sức đổi mới hệ thống
chính trị phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước, của thời đại.
2.2. Phát huy vai trò của tính năng động chủ quan và chống chủ quan duy ý
chí.
Bên cạnh một số chính sách, biện pháp nhằm đưa đất nước ta vững bước
trên con đường xã hội chủ nghĩa như đã trình bày ở trên, ta không thể không kể
đến vai trò thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nnghĩa xã hội tiến nhanh và xa hơn
đó là tính năng động, chủ quan, đó là khối đại đoàn kết toàn dân và đó còn là ý chí,
nhiệt tình, quyết tâm thực hiện cho được xã hội xã hội chủ nghĩa trên đất nước
Việt Nam.
Bản thân sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ mới mẻ,
khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan, của
tính năng động chủ quan. Đó chính là những phát minh vĩ đại, những đường lối
chính sách đứng đắn có tính chất quyết thắng của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại của đông
đảo quần chúng. Không có ý chí, hoài bão lớn, nghị lực lớn thì không thể thực
hiện được những nhiệm vụ trọng đại, khó khăn phức tạp chưa từng có trong lịch sử
dân tộc. Vấn đề là ở chỗ mọi nhiệt tình và ý chí cách mạng hiện nay phải gắn liền
với chi thức, hiểu biết, đặt trên cơ sở khoa học, sự phát triển tiềm lực trí tuệ của cả
dân tộc.
Không có khoa học, không có sự phát triển mạnh mẽ nguồn lực trí tuệ thì
không thể dẫn dắt xã hội đi tới văn minh, hiện đại. Do đó, phải quy tụ mọi tài năng
của công dân, tập hợp trí tuệ và phát huy sức mạnh trí tuệ của cả dân tộc. Đây phải

tỉnh táo khoa học và tính thực tiễn trong mọi mặt hoạt động chứ không phải là làm
nhụt ý chí cách mạng.
Kết luận
Qua việc nghiên cứu đề tài trên, chúng ta đã tìm hiểu một cách sâu sắc hơn
về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức, đó là mối quan hệ biện chứng tác động
qua lại lẫn nhau. Khẳng định vật chất luôn mang tính thứ nhất, tính quyết định, ý
thức luôn mang tính thứ hai, bị chi phối, bị quyết định. Song, ý thức lại có tác
động trở lại vô cùng quan trọng đối với vật chất. Nó có thể làm cho vật chất phát
triển, biến đổi theo nhu cầu, ý muốn, nhưng đồng thời nó cũng có thể làm cho vật
chất không phát triển, bị kìm hãm. Qua đó, chúng ta có thể rút ra bài học hết sức
cần thiết cho sự nghiệp cách mạng lớn lao của Đảng và nhân dân ta - Sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội đó là: Chúng ta chỉ có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội nếu
như: Mọi đường lối, chính sách, phương hướng mục tiêu đề ra, hoạch định ra phải
được xuất phát từ thực tế điều kiện nước nhà. Thứ hai chúng ta phải phát huy cao
độ vai trò tích cực của ý thức hay chính là vai trò năng động chủ quan của con
người. Xây dựng hệ động lực tinh thần mạnh mẽ cổ vũ lớn lao cho sự nghiệp cách
mạng vĩ đaịo của toàn Đảng và nhân dân ta. Đó chính là “xây dựng khối đại đoàn
kết dân tộc”, đó là “khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của
người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo làm lạc hậu”. Đồng thời,
chúng ta cũng cần tránh tư tưởng chủ quan duy ý chí, nóng vội trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một điều hết sức quan trọng đó là làm sao để vừa xây
dựng nền kinh tế có sự tham gia của các thành phần kinh tư bản lại vừa tránh được
nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là một vấn đề cấp thiết mà Đảng
và nhà nước ta cần có phương hướng đi sao cho phù hợp.
Gần đây có một số ý kiến cho rằng: Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp của Đảng ta là chủ quan duy ý chí, là nóng vội,
không tuân theo chủ nghĩa Mác – Lê nin, rằng nước ta chưa đủ điều kiện để có thể

Lời nói đ
ầu……………………………… …………………………1
1. Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa
vật chất với ý thức ………………………………………… 2
1.1. Vật chất quyết định ý thức …………………………………… 2
1.2. ý thức tác động trở lại vật chất…………………………………4
2. Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ
giữa vật chất với ý thức vào sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. …………………………….7
2.1. Xuất phát từ thực tế khách quan từ đó đề ra đường lối,
chủ trương, chính sách, kế hoạch, phương hướng,
mục tiêu…đúng đắn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước ta hiện nay…………………………………….7
2.2. Phát huy vai trò của tính năng động chủ quan và chống chủ
quan duy ý chí………………………… ………………….12
3. Kết luận …………………………………………………………15
4. Phụ lục ………………………………………………………… 16
5. Tài liệu tham khảo ………………………………………………17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status