Báo cáo " Khởi kiện vụ án lao động" - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
28 - Tạp chí luật học

khởi kiện vụ án lao động

ThS. Lu Bình Nhỡng *
1. Về mặt lí luận, tranh chấp lao động
không tự nhiên đợc cơ quan tòa án xét
xử. Bởi vì điều đó vi phạm quyền tự định
đoạt của đơng sự.
Quyền khởi kiện vụ án lao động thực
chất là quyền yêu cầu giải quyết tranh
chấp lao động. Chính vì nhận định đó mà
nội dung của quyền khởi kiện bao hàm
những vấn đề quan trọng nh: Quyền đó
do ai thực hiện, phơng thức thực hiện
nh thế nào, những trờng hợp qua đó
quyền khởi kiện đợc đảm bảo (ví dụ nh
trong trờng hợp có sự trắc trở), tính hợp
pháp của quyền khởi kiện Trong phạm
vi của bài viết này, quyền khởi kiện đợc
đề cập thông qua những nội dung cơ bản
sau đây:
a. Những ai có quyền khởi kiện vụ án
lao động?
Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
thì những chủ thể sau đây có quyền khởi
kiện vụ án lao động: Ngời lao động; tập

- Đơn vị sử dụng lao động cha có
hoặc không có tổ chức công đoàn cơ sở;
- Đơn vị có tổ chức công đoàn cơ sở
nhng công nhân - viên chức không tín
nhiệm các thành viên của tổ chức công
đoàn cơ sở này và họ tự khởi kiện không
thông qua công đoàn.
Về mặt khoa học thì bất cứ tranh chấp
nào giữa tập thể lao động và đơn vị sử
dụng lao động đều đợc xác định là tranh
chấp lao động tập thể và vì vậy tập thể lao
động hoặc ngời sử dụng lao động đều có
quyền khởi kiện. Tuy nhiên, cũng có
quan điểm cho rằng muốn đợc xác định
là tranh chấp lao động tập thể thì một
trong những điều kiện tiên quyết là phải
có sự tham gia của tổ chức công đoàn.
Đây là quan điểm không có tính khoa học
vì nó đ lấy nhu cầu tham gia công đoàn
một cách tự nguyện làm điều kiện cho
tranh chấp lao động tập thể.
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 29

+ Ngời sử dụng lao động khởi kiện
cũng có thể là chính đơn vị sử dụng lao

của công đoàn cơ sở khởi kiện có thể là
một trong các trờng hợp: Tổng liên đoàn
lao động, liên đoàn lao động cấp tỉnh, liên
đoàn lao động cấp huyện; công đoàn
ngành trung ơng; công đoàn ngành địa
phơng hoặc công đoàn tổng công ti.
Tuy nhiên, ở đây cũng cần phải có sự
phân biệt giữa quyền khởi kiện và t cách
đơng sự trong mối quan hệ giữa công
đoàn với tập thể lao động và những ngời
lao động (có trờng hợp tổ chức công
đoàn tham gia tố tụng vì cá nhân ngời
lao động do đợc yêu cầu hoặc chỉ định)
để tránh hiện tợng từ chỗ nhầm lẫn t
cách đến nhầm lẫn trong việc lựa chọn
phơng thức xử sự khi tham gia tố tụng.
So sánh quy định này với quy định tại
Điều 29 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự thì t cách của tổ chức x
hội khởi kiện vì lợi ích chung khác với
công đoàn cấp trên của công đoàn cơ cở
khởi kiện. Theo quy định của luật tố tụng
dân sự nếu tổ chức x hội khởi kiện vì lợi
ích chung thì chính tổ chức x hội đó
phải tham gia tố tụng với t cách là
nguyên đơn.
b. Việc khởi kiện phải đợc tiến hành
trong phạm vi nào?
ở đây có 2 vấn đề cần đề cập đó là
vấn đề không gian và thời gian.

tập thể thì trái lại luôn luôn đợc khởi
kiện tại tòa án nhân dân cấp tỉnh vì tòa án
nhân dân cấp huyện không có thẩm
quyền giải quyết (Điều 12 Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các tranh chấp lao động).
Tuy nhiên, ở đây lại phải phân biệt
giữa việc khởi kiện và thẩm quyền giải
quyết của tòa án nhân dân cấp tỉnh. Có
những vụ việc cụ thể tuy thẩm quyền giải
quyết thuộc tòa án nhân dân cấp huyện
nhng tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để
giải quyết. Trong trờng hợp này, việc
khởi kiện trớc đó vẫn đợc tiến hành tại
tòa án nhân dân cấp huyện và sau đó
đợc tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
Phạm vi không gian của quyền khởi
kiện còn liên quan đến thẩm quyền của
tòa án theo lnh thổ và theo sự lựa chọn
của nguyên đơn. Điều này có nghĩa là
việc khởi kiện ra tòa án cụ thể cần phải
đợc ngời khởi kiện cân nhắc nếu muốn
đơn kiện đến đợc địa chỉ cần thiết. Theo
quy định tại các Điều 13 và Điều 14 của
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh
chấp lao động thì việc khởi kiện cần chú
ý tới những chi tiết sau:
Nếu xét về khía cạnh lnh thổ (thực
chất là theo địa hạt hành chính) thì việc
khởi kiện phải đợc tiến hành tại tòa án
nơi làm việc hoặc c trú của bị đơn (nếu

chấp lao động thì thời hạn khởi kiện đợc
xác định nh sau:
- 1 năm kể từ ngày phát sinh tranh
chấp hoặc 6 tháng kể từ ngày hội đồng
hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên
của cơ quan lao động cấp huyện hòa giải
không thành đối với các tranh chấp về xử
lí kỉ luật lao động theo hình thức sa thải,
đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động
hoặc về bồi thờng thiệt hại cho ngời sử
dụng lao động;
- 6 tháng kể từ ngày hội đồng hòa giải
lao động cơ sở hoặc hòa giải viên của cơ
quan lao động cấp huyện hòa giải không
thành đối với các tranh chấp lao động cá
nhân khác;
- 3 tháng kể từ ngày có quyết định về
tranh chấp lao động tập thể của hội đồng
trọng tài lao động cấp tỉnh mà tập thể lao
động, ngời sử dụng lao động không
đồng ý với quyết định đó.
Tuy nhiên, có những vấn đề cần phải
đợc làm rõ và xác định một cách rành
mạch về những sự kiện liên quan đến thời
hiệu khởi kiện nêu trên. nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 31


khác, kể từ thời điểm đó, trong các chủ
thể đ bắt đầu xuất hiện sự cảm nhận về
nhu cầu hoặc đ xuất hiện nhu cầu giải
quyết xung đột của họ.
Để đảm bảo quyền của ngời khởi
kiện, Tòa án nhân dân tối cao hớng dẫn
các tòa án khi xem xét thời hiệu khởi kiện
"cần áp dụng các quy định tại các Điều
từ 168 đến 171 của Bộ luật dân sự về thời
gian không tính vào thời hạn khởi kiện,
tính lại thời hạn khởi kiện" (Công văn số
40/KHXX ngày 6/7/1996).
c. Thủ tục khởi kiện vụ án lao động
Ngời khởi kiện vụ án lao động phải
có đơn kiện. Đơn kiện chính là bằng
chứng về việc yêu cầu giải quyết tranh
chấp lao động, đợc quy định tại khoản 2
Điều 32 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
tranh chấp lao động.
Ngoài những nội dung cơ bản, đơn
kiện phải đợc nguyên đơn hoặc đại diện
của nguyên đơn kí đồng thời kèm theo
đơn kiện, ngời khởi kiện phải có các tài
liệu chứng minh cho yêu cầu của mình.
Tuy các quy định của Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án lao động không quy
định về mẫu đơn kiện nhng với những
nội dung nh vậy cũng có thể dễ dàng
hình dung về đơn kiện cho vụ án lao
động.

trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thụ lí,
tòa án phải thông báo cho bị đơn và ngời
có quyền và nghĩa vụ liên quan biết nội
dung đơn kiện của nguyên đơn (khoản 1
Điều 36).
b. Tòa án trả lại đơn kiện
Tòa án có thể trả lại đơn kiện khi có
một trong những trờng hợp sau:
- Ngời nộp đơn không có quyền khởi
kiện;
- Đơn kiện làm không đúng quy định
tại khoản 2 Điều 32 của Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án lao động;
- Thời hiệu khởi kiện đ hết;
- Tranh chấp cha đợc hội đồng hòa
giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao
động của cơ quan lao động cấp huyện cử
ra hoặc hội đồng trọng tài lao động cấp
tỉnh giải quyết trớc, trừ những tranh
chấp không nhất thiết phải qua hòa giải
đợc quy định tại khoản 2 Điều 166 Bộ
luật lao động;
- Tranh chấp đó đ đợc giải quyết
bằng bản án hoặc quyết định đ có hiệu
lực pháp luật của tòa án hoặc bằng quyết
định của cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền khác;
- Tranh chấp đó không thuộc thẩm
quyền giải quyết của tòa án.
Về việc trả lại đơn kiện trong trờng

Việc khởi kiện vụ án lao động có thể
đợc tiến hành tại tòa án cụ thể. Mặc dù
tòa án đó đ tiến hành thụ lí nhng cha
chắc tòa án đó đ có thẩm quyền xét xử.
Trong trờng hợp này tòa án đ thụ lí vụ
án phải có trách nhiệm chuyển hồ sơ vụ án
cho tòa án có thẩm quyền giải quyết và
thông báo cho đơng sự, các cơ quan, tổ
chức và những ngời liên quan biết. Quy
định này không ảnh hởng đến quyền khởi
kiện và thực chất là bảo toàn hậu quả pháp
lí của hành vi khởi kiện trớc đó. Vì vậy,
ngời khởi kiện không phải thực hiện lại
việc khởi kiện hoặc thực hiện những nghĩa
vụ khác vì trớc đó họ đ không khởi
kiện đúng địa chỉ. Hơn nữa, ngay ở thời
điểm thụ lí vụ án, chính bản thân tòa án
đ nhận đơn của họ cũng không hình
dung đợc hết vấn đề nên đ không có sự
chỉ dẫn cần thiết cho ngời khởi kiện./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status