tiểu luận: Phong tục dựng nhà của các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên - Pdf 11


Tiểu luận

ĐỀ TÀI:
Phong tục dựng nhà của các tộc
người thuộc nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên 1

Phong tục dựng nhà của các tộc người thuộc
nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên

Zelenkova Maria

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Khoa Đông Phương học
Chuyên ngành: Châu Á học; Mã số: 60 31 50
Người hướng dẫn: GS. TS Mai Ngọc Chừ

Bị lôi cuốn bởi những nét độc đáo trong phong tục dựng nhà và cấu trúc nhà
của các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài
nghiên cứu “Phong tục dựng nhà của các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo ở Tây
Nguyên Việt Nam”.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các phong tục liên quan đến việc
dựng nhà của các tộc người nhóm Nam Đảo. Phạm vi nghiên cứu là 5 tộc người Nam
Đảo ở Việt Nam.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhóm Nam Đảo nói chung và các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam nói riêng có
vai trò cực kì quan trọng, là một trong những mảng đề tài hàng đầu được các nghiên
cứu dân tộc học, ngôn ngữ học, văn hoá học, khu vực học, …đặc biệt quan tâm.
Vấn đề phong tục tập quán của nhóm Nam Đảo đã được một số tác giả và tập
thể tác giả trong giới sử học, dân tộc học, văn hoá học nghiên cứu ở những góc độ,
khía cạnh khác nhau.
Việc nghiên cứu các tộc người Tây Nguyên (trong đó có cả các tộc người nhóm
Nam Đảo) đã trải qua quá trình lâu dài hàng thế kỷ trước đây, trước nhất là từ các học
giả hay các viên quan cai trị người Pháp, với các tên tuổi nổi tiếng, như J.Dournes,
Henry Maitre, G.Condominas…
Cuốn “Người Ê-đê: một xã hội mẫu quyền” của Anne de Hautecloque - Howe
đánh dấu sự mở đầu quan tâm cụ thể đến nhóm tộc người Nam Đảo ở Việt Nam. Bà
Anne de Hautecloque - Howe đại diện cho nhóm học giả thế hệ thứ hai nghiên cứu về
Tây Nguyên. Đặc trưng nổi bật trong việc nghiên cứu của bà là việc nghiên cứu thực
tế: bà đã sống và làm việc ở Đắc Lắc, thu tập tài liệu có giá trị thực tế. Từ đó nhiều học
giả thế hệ sau rút ra cách thức nghiên cứu và tiếp tục sự nghiệp to lớn của bà.
Đánh dấu nghiên cứu phong tục dựng nhà của người nhóm Nam Đảo ở Tây
Nguyên Việt Nam là cuốn sách của học giả Nguyễn Văn Luận có tên “Nhà người
Chăm”. Đây là cuốn sách thu thập những thông tin cơ bản nhất về kiến trúc, phong tục
xây dựng và các thủ tục liên quan đến việc dựng nhà của người Chăm.
3

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài hướng vào 3 nhiệm vụ trọng yếu như sau:
4

- Tìm hiểu những thủ tục liên quan đến việc làm nhà (chọn ngày giờ, hướng
nhà, chọn gỗ, …);
- Miêu tả cấu trúc của hai loại nhà chủ yếu: nhà cộng đồng và nhà ở;
- Chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong việc dựng nhà của các tộc người
thuộc nhóm Nam Đảo Tây nguyên.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ nêu trên và đạt được mục tiêu đề ra ở đề tài
này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh - đối
chiếu.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn được trình bày theo một trật tự kết cấu như sau:
Mở đầu
Chương 1: Sơ lược về các tộc người nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên
Chương 2: Một số thủ tục liên quan đến việc làm nhà
Chương 3: Cấu trúc nhà
Kết luận
Tài liệu tham khảo

Chƣơng 1: SƠ LƢỢC VỀ CÁC TỘC NGƢỜI NHÓM NAM ĐẢO Ở TÂY
NGUYÊN

1.1. Đôi nét về nhóm Nam Đảo ở Đông Nam Á
Các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo (Austronesian) hay Mã Lai - Đa Đảo
(Malayo - Polynesian) tập trung đông nhất ở các nước Philippin, Indonesia, Malaysia,
một số ở Campuchia, Việt Nam và Singapore.
Về đặc điểm nhân chủng nhóm Nam Đảo (số với các nhóm tộc người khác) có

Ở Việt Nam có 5 tộc người đại diện cho ngữ hệ Nam Đảo, đó là tộc người
Chăm, tộc người Ê-đê, tộc người Gia-Rai và các tộc người Ra-Glai, Chu-Ru. Các tộc
người nay do nhiều nguyên nhân lịch sử - tự nhiên có nhiều đặc điểm chung, nhưng
cũng có nét riêng.
1.2.1. Lịch sử hình thành
Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo được hình thành vào khoảng Thiên niên kỷ II trước
Công Nguyên, tại vùng Đông Nam ven biển Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay. Do
sản xuất phát triển và dân số tăng, họ đã di cư xuống Đông Nam Á nhiều đợt theo hai
hướng chính.
6

Hướng thứ nhất dọc theo bờ biển Trung Quốc và Việt Nam. Người Chăm dừng
lại ở đây rồi đến miền Tây Indonexia, từ đó đi về Đông và Đông Bắc đến Philippin và
Đà Loan. Hướng thứ hai qua Đài Loan sang Philippin rồi từ đó sang Indonexia qua
Đông Dương.
Một bộ phận tổ tiên dân Nam Đảo mà đã vào bờ biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ,
trở thành yếu tố cấu thành tộc người Việt. Có thể là người Chăm chính là những người
đầu tiên đến ở dọc theo ven biển Việt Nam. Sau đó có một nhóm người chia ra đi lên
núi…dần dần hình thành 4 tộc người khác (Gia-rai, Ê-đe, Ra-glai, Chu-ru). Nhưng
cũng có thể cư dân Nam Đảo từ phương Bắc xuống phương Nam không chỉ bằng
đường biển mà cả đường bộ, nhất là người Ê-đê và Gia-rai.
1.2.2. Địa bàn phân bố, dân số
Ngày nay ở Việt Nam có trên 800 000 người nói ngôn ngữ Malayo – Polynesia
được xếp thành 5 tộc người: Gia-rai, Chăm, Ê-đê, Chu-Ru, Ra-glai. Trừ người Chăm
tập trung dọc theo bờ biển Miền Trung tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở Phú Yên,
Khánh Hòa, một bộ phận ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh An Giang, còn lại các dân
tộc khác đều cư trú ở Tây Nguyên.
1.2.3. Đời sống vật chất
Tuy là 5 tộc người khác nhau nhưng đời sống vật chất của họ có nhiều tập quán
gần như đồng nhất. Tuy nhiên có một tình hình đáng chú ý là phong tục tập quán của

Ngoài những nghề kể trên, các tộc người nhóm Nam Đảo ở Việt Nam còn biết
dệt vải, rèn và đan lát, chẳng hạn người Gia-rai thạo đan lát các loại gùi, giỏ.
1.2.4. Một số nét văn hoá tiêu biểu
Các tộc người nhóm Nam Đảo ở Việt Nam là các tộc người tuân theo chế độ
mẫu hệ. Mặc dầu trong gia đình đàn ông đóng vai trò quan trọng, nhưng chủ gia đình
là phụ nữ cao tuổi. Con cái thường lấy họ của mẹ. Nhà gái cưới chồng cho con. Con
trai ở rể nhà vợ. Nếu vợ chết và bên nhà vợ không còn ai thay thế thì người chồng phải
về với chị, em gái mình. Nếu chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình
mẹ đẻ. Chỉ có con gái được thừa kế tài sản của gia đình, đặc biệt là con gái út, vì phải
nuôi cha mẹ già.
Các tộc người Nam Đảo có kho tàng văn học truyền miệng vô cùng phong phú:
thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, trường ca, sử thi. Tất cả các tộc người nhóm Nam
Đảo yêu ca hát và thích tấu nhạc. Nhạc cụ của người dân Nam Đảo gồm nhiều loại:
chiêng, cồng, trống, sáo, khèn, các loại đàn.
Người dân nhóm Nam Đảo có rất nhiều lễ nghi phong phú. Các lễ thức theo tập
quán có thể chia làm ba hệ thống, đều phục vụ cho ba mục đích chính là cầu xin, tạ ơn
và tạ lỗi:
8

- Hệ thống lễ thức theo nông lịch;
- Hệ thống lễ thức theo vòng đời và trong cộng đồng;
- Hệ thống lễ thức trong các mối quan hệ xã hội ngoài cộng đồng.
Có những lễ thức phải tiến hành thường kỳ trong những khoảng thời gian nhất
định của một năm. Nhưng cũng có những lễ thức chỉ khi cần thiết mới được tổ chức.
Khác với người Chăm có hệ thống đền thờ (Tháp), có chủ thể và hiện vật thờ
cúng (bà Chúa Pônaga, các Linga, Yôni…), 4 tộc người còn lại (Ê-đê, Gia-rai, Chu-ra,
Ra-glai) truyền thống theo quan điểm “vạn vật hữu linh, đa thần”, các thần linh (gọi là
Yang) hiện diện ở khắp nơi, chi phối toàn bộ đời sống Tây Nguyên cổ đại. Hệ thống
các Yang được chia làm ba tầng theo địa điểm cư trú: trên trời, mặt đất và dưới đất. Ở
mỗi nơi đều có các thần tốt và thần xấu. Mối quan hệ giữa các vị thần linh và con

các vị thần (Yang). Hơn nữa, nhà là môi trường sản sinh, tích hợp, giữ gìn và lưu
truyền văn hóa của gia đình và cộng đồng. Chính trong nhà diễn ra nhiều việc quan
trọng như sinh đẻ, cưới xin, tang ma.
Các tộc người nhóm Nam Đảo ở Việt Nam là những tộc người không có tập
quán du cư, cho nên vai trò làng và vai trò nhà trong cộng đồng của các tộc người này
vô cùng quan trọng. Tất cả mọi việc bắt đầu từ làng, còn làng thì bắt đầu từ nhà.

Chƣơng 2: MỘT SỐ THỦ TỤC LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC LÀM NHÀ

Việc dựng nhà không chỉ là quá trình dựng các cột và tường mà còn bao gồm
nhiều công việc chuẩn bị từ trước, các nghi lễ có liên quan và một số thủ tục không thể
thiếu trong khi dựng cất.
2.1. Chọn đất
Người dân Nam Đảo chọn mảnh đất làm nhà phải rộng, vuông vắn, bằng phẳng.
Người Chăm thì còn nghĩ rằng đất lý tưởng nhất khi dựng làng hay lập khuôn viên là
có núi phía nam, sông phía bắc, cao phía nam, thấp phía bắc hoặc cao phía tây, thấp
phía đông và đất có cây cỏ quanh năm xanh tốt.
Về mặt vị trí địa lý, các dân tộc Gia-rai, Ê-đê, Chu-ru, Ra-glai thích chọn đất
gần các bến sông, suối. Riêng người Gia-rai do cư trú gần sông lớn nên chân cột nhà
sàn của họ thường cao hơn so với chân cột của nhà sàn các dân tộc khác.
Người dân Nam Đảo rất thích có rừng ở gần nhà, cũng như thích trồng cây ở
ngoài sân và ở đằng sau nhà ở. Riêng người Chăm theo truyền thống không trồng cây
gần nhà vì họ nghĩ rằng cây cối là nơi trú ngụ của ma quỷ. Nhưng hiện nay xu hướng
này mất đi và chúng ta vẫn có thể thấy cây ở xung quanh khuôn viên người Chăm.
10

Người Nam Đảo kỵ làm nhà trên khu đất nghĩa địa, vì sợ bên dưới có hài cốt,
trên đất chùa, đất nhà làng (nhà công cộng), sợ các vị thánh thần trừng phạt, trên đất
ngã ba đường, sợ ma quỷ đến quấy nhiễu làm cho trẻ con ốm đau…
2.2. Chọn hƣớng nhà

được xem tuổi là người chồng.
Khi chọn thời gian phù hợp để xây nhà người Nam Đảo cũng căn cứ vào hệ
thống âm dương. Theo nó người ta sẽ chọn ngày, giờ thuộc dương: buổi sáng, nửa
tháng đầu.
Ngoài việc xem tuổi của chủ nhà và hệ thống âm dương, người Chăm và một số
người Chu-ru còn chọn ngày, giờ xây cất nhà theo lịch Chăm.
2.4. Chọn gỗ
Sau khi định ngày, giờ để xây nhà, người Nam Đảo đi vào rừng chọn gỗ. Trừ gỗ
mun, gỗ ké, cây săn đá và gỗ hương, còn lại các loại gỗ khác đều được người dân Nam
Đảo sử dụng làm nhà.
Tre, nứa cũng không thể thiếu đối với nhà truyền thống của người Nam Đảo.
Ngoài việc sử dụng để làm nhà như đan tấm lợp, làm cột tường vách, liên kết rui mè,
lát sàn… tre và nứa còn dùng để làm chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm, hàng rào, và
nguyên liệu cho việc đan lát các dụng cụ sinh hoạt thường ngày và các thứ vật dụng
khác.
Nguyên vật liệu lợp nhà của người Nam Đảo chủ yếu là cỏ tranh. Ngoài ra
người ta còn dùng rạ, lác và cả cỏ căm cu ở trên rừng để lợp nhà.
Gỗ làm nhà được khai thác chủ yếu ở địa phương.
Người Nam Đảo quan niệm, cây gỗ cũng có “linh hồn” như con người nên có
nhiều kiêng kỵ và có lễ cúng khi đi đốn gỗ, chẳng hạn: hướng ngã cây, việc vận
chuyển, v.v.
2.5. Một số nghi lễ lien quan đến việc dựng nhà
Ngoài các thủ tục liên quan đến việc chọn gỗ, chọn đất và hướng nhà, người
Nam Đảo còn có nhiều nghi lễ không thể thiếu được trong việc dựng nhà
2.5.1. Lễ tìm đƣợc đất dựng nhà
Sau khi tìm thấy đất tốt để dựng nhà người ta phải làm lễ. Đôi vợ chồng chủ
nhà mặc quần áo truyền thống và tổ chức ăn uống, hò reo, mời cả buôn làng đến chơi.
Người Gia-rai vào dịp này còn tổ chức biểu diễn chiêng trống 3 ngày.
2.5.2. Lễ tẩy uế gỗ
Gỗ sau khi đã phát mộc, trước khi dựng, phải làm lễ tẩy uế để làm mất đi những

do đàn bà dựng và thờ tự.
2.5.8. Lễ dựng cửa ngõ
Nhà của người Chăm là một khuôn viên cho nên đối với họ việc xây dựng cửa
ngõ là một vấn đề riêng. Người Chăm dựng xong nhà bếp và nhà tục, bắt đầu dựng cửa
13

ngõ. Theo quan niệm của họ, cửa ngõ luôn có vị thần canh giữ. Cửa ngõ luôn đặt 1/3
chiều dài bờ rào phía nam tính từ phía tây lại.

Chƣơng 3. CẤU TRÚC NHÀ

3.1. Cấu trúc nhà cộng đồng
3.1.1. Nhà rông
Trong cả nhóm gồm 5 tộc người chỉ có người Gia-rai mới có nhà cộng đồng
chung là nhà Rông. Nhà rông Gia-rai là nơi thiêng liêng nên thường thì phụ nữ không
được lên nhà rông, trong các buổi họp làng hoặc nghi lễ, họ được ngồi dưới gầm sàn
để dự. Thảng hoặc có làng làm 2 nhà rông, ngoài nhà rông chính là nhà rông đực, còn
nhà rông nhỏ gọi là nhà rông cái cho phụ nữ sinh hoạt. Dù theo chế độ mẫu hệ, nhưng
nhà rông cái lại nhỏ hơn nhà rông đực.
Nhà rông có hai loại, nhà rông trống và nhà rông mái. Nhà rông trống (tiếng
Gia-rai là rông tơ nao) có mái to, cao chót vót. Có nhà rông cao đến 30 mét. Nói
chung, nhà rông trống được trang trí rất công phu. Nhà rông mái (gọi là rông ama) nhỏ
hơn nhà rông trống, mái thấp.
Nhà rông ở bên trong dù là một phòng chung nhưng vẫn có chia thành các gian.
Thường có 3 gian, trong đó 2 gian chính là nơi thờ vật thiêng và bếp lửa. Trước sân là
cây nêu, nơi hành lễ đâm trâu.
3.1.2. Các nhà cộng đồng khác
Nhà cộng đồng của các tộc người Ê-đe, Ra-glai, Chu-ru là nhà sàn. Nhà sàn
cộng đồng của người Ê-đê thường cao hơn các nhà sàn của người Chu-ru hoặc là Ra-
glai. Ở bên trong nhà có phòng chung và cũng có bếp và một gian nhỏ để các đồ vật,

3.2. Cấu trúc nhà ở
Nói đến phong tục dựng nhà ở của các tộc người nhóm Nam Đảo là nói đến các
nhà sàn. Trong số 5 tộc người nhóm Nam Đảo người Ê-đê có nhà sàn ở nổi tiếng nhất.
Mang nặng đặc tính mẫu hệ, nên mỗi khi có một cô con gái lấy chồng, hoặc
thêm một cặp vợ chồng trẻ, nhà sàn lại được nối thêm một ngăn. Nhà sàn của người Ê-
đê dài nhất, còn nhà sàn của người Gia-rai được xây cao hơn cả. Cấu trúc nhà sàn
được chia bằng các “gian”, và thường gia đình cùng đông, thì nhà sàn càng dài.
Không gian trong ngôi nhà dài Ê-đê được chia thành hai phần bởi hàng vì “cột
ngăn” (Kmêh Kpăng). Phần “nhà ngoài” gọi là “gah” chiếm 1/3 hoặc 2/5 ngôi nhà ở về
phía bắc (tức từ cửa chính đến vì cột ngăn). Phần còn lại là “nhà trong” gọi là “ôk” ở
phía nam từ vì cột ngăn đến cửa sau. Phần “nhà ngoài” là cả một không gian thoáng
15

rộng để làm nơi tiếp khách, tiến hành các lễ nghi phong tục, tổ chức các sinh hoạt công
cộng của gia đình lớn mẫu hệ, nhiều khi còn là chỗ ăn ở của những người đàn ông
chưa vợ.
Phần nhà trong, dọc theo vách phía đông được ngăn ra thành từng phòng nhỏ
dành cho các cặp vợ chồng làm nơi nghỉ ngơi và cất giữ tài sản riêng, chia ra theo thứ
tự từ cửa sau (hồi phía nam) về tới vì cột ngăn: buồng vợ chồng chủ gia đình, buồng
để đồ dùng và dành cho con gái út sẽ thừa kế khi lấy chồng thì ở, rồi đến buồng các
chị từ chị cả cho tới chị giáp em gái út.
Phía sau nhà dài Ê-đê có kho lúa, sàn vuông, cao hơn nhà ở. Các kho lúa được
dựng hoặc ở gần nhà hoặc ở vành đai của làng. Thường có một hoặc hai kho cho một
gia đình ăn cùng nồi, nghĩa là cùng một ngăn. Đôi khi dưới kho hoặc ngay cả dưới nhà
là các chuồng quây kín bằng cây tròn để nhốt lợn qua đêm. Nếu chiều cao của nhà cho
phép, những chuồng như vậy cũng được xây dựng cho trâu bò.
Nhà sàn Gia-rai có cột ngăn ở giữa sườn phía tây, từ cột ngăn về phía bắc là
“mang oc” dành cho những người đàn bà chủ gia đình mẫu hệ. Từ cột ngăn về phía
nam là “mang mang” dành để sinh hoạt cộng đồng (gồm cả tiếp khách), đầu hồi phía
nam có cửa dành cho khách, ngoài hồi là sân sàn cho trai gái trong làng đến vui chơi,

việc chuẩn bị từ trước, các nghi lễ có liên quan và một số thủ tục không thể thiếu được
trong khi dựng cất.
Nhà trong quan niệm của người Nam Đảo được coi như một vật có phần linh
thiêng, vì nó được làm bằng gỗ, mà gỗ dưới dạng cây cối trong rừng là nơi trú ngụ của
các vị thần. Hơn nữa, nhà là môi trường sản sinh, tích hợp, giữ gìn và lưu truyền văn
hóa của gia đình và cộng đồng.
Nhà của các tộc người Nam Đảo với ý nghĩa là những tác phẩm kiến trúc dân
gian, dù với công năng là nhà ở hay nhà cộng đồng, đều xứng đáng coi là một trong
những nét văn hóa vật chất tiêu biểu nhất.
Việc nghiên cứu đề tài “Phong tục dựng nhà của các tộc người thuộc nhóm
Nam Đảo ở Tây Nguyên Việt Nam” có tính cấp thiết, bởi vì nghiên cứu văn hóa các tộc
người ở Tây Nguyên là góp phần bảo tồn sự đa dạng văn hóa của Việt Nam. Đề tài này
cũng có thể trở thành cơ sở cho những việc nghiên cứu tiếp theo về phong tục dựng
nhà của từng tộc người trong nhóm Nam Đảo ở Việt Nam.

17

References.
Tiếng Việt
1. Anne De Hautecloque (2004), Người Ê-Đê: Một xã hội mẫu quyền, Nxb Văn
hóa dân tộc, Hà Nội.
2. Phan Quốc Anh (2006), Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận,
Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
3. Bùi Việt Bắc (2009), Tản mạn về tín ngưỡng và phong tục tập quán của người
Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.
4. GS, TS Trần Văn Bích (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên – Thực trạng
và những vấn đề đặt ra, Nxb CTQG, Hà Nội.

19. Lê Sĩ Giáo, Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng (2010), Dân tộc học
đại cương, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
20. KTS Nguyễn Hồng Hà (2006), Kiến trúc Việt Nam, tập chí chuyên ngành kiến
trúc ra hàng tháng thuộc Bộ Xây dựng, tập số 4, Hà Nội.
21. Đỗ Hạ, Quang Vinh (2006), Những lễ hội truyền thống Việt Nam, Nxb Thanh
Hóa, Hà Nội.
22. Lưu Hùng (1996), Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà
Nội.
23. Linh Nga Niê Kdam (2010), Nghề thủ xông truyền thống của các dân tộc Tây
Nguyên, Nxb Văn học, Hà Nội.
24. PGS. TS. Ngô Văn Lệ (2004), Tộc người và văn hóa tộc người, Nxb ĐH Quốc
gia TP.Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.
25. Nguyễn Văn Luận (1975), Nhà người Chăm, Nxb Văn hóa tập san, TP Hồ Chí
Minh.
26. Rchăm Oanh (2002), Đặc trưng văn hóa của người Gia-rai, Nxb Văn hóa dân
tộc, Hà Nội.
27. Chu Thái Sơn, Nguyễn Trường Giang (2005), Người Gia-rai, Nxb Trẻ, Hà
Nội.
28. Tô Ngọc Thanh (1995), Vùng văn hóa Tây Nguyên trong các vùng văn hóa
Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội.
29. Đinh Văn Thiên, Nguyễn Trung Minh (2010), Tây Nguyên: vùng đất và con
người, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
19

30. Nguyễn Duy Thiệu (1997), Các dân tộc ở Đông Nam Á, Nxb Văn hóa Dân tộc,
Hà Nội.
31. Đặng Việt Thủy (2009), Hỏi đáp về 54 dân tộc Vịet Nam, Nxb Quân đội Nhân
dân, Hà Nội.
32. Trần Mạnh Thường (2010), Việt Nam: Văn hóa và Giáo dục, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status