luận văn: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nhà hàng The Gallery khách sạn M - Pdf 11

Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Một số giải pháp nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của nhà hàng
The Gallery khách sạn M.”

Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
2

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chon đề tài

Phương pháp nghiên cứu chuyên đề là phương pháp thu thập thông tin,
phân tích và xử lý dữ liệu
3. Nội dung nghiên cứu
Chuyên đề tập trung vào nghiên cứu các vấn đề sau:
Chương 1: Những cơ sở lí luận về hoạt động kinh doanh khách sạn và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khách sạn
Chương 2: Thực trạng kinh doanh của khách sạn M và nhà hàng The
Gallery:
• Giới thiệu cơ bản về khách sạn M, nhà hàng The Gallery và các hoạt
động kinh doanh của nó
• Phân tích năng lực cạnh tranh của khách sạn M và nhà hàng The Gallery
Chương 3: Một số biện pháp nhàm nâng cao năng lực cạnh tranh của
khách sạn M và nhà hàng The Gallery Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH KHÁCH SẠN VÀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG KHÁCH SẠN
1.1.Khái quát về kinh doanh khách sạn và kinh doanh ăn uống

vụ của ngành kinh doanh khách sạn ngày càng phong phú và đa dạng về
chủng loại. Đây cũng chính là điểm mấu chốt để kinh doanh khách sạn được
thành công và khái niệm kinh doanh khách sạn cũng được thừa nhận theo cả
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Trên phương diện chung nhất, có thể đua ra định
nghĩa về kinh doanh khách sạn như sau:
“Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các
dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các
nhu cầu ăn nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi”
(TS. Nguyễn Văn Mạnh & Ths. Hoàng Thị Lan Hương,Giáo trình Quản trị
kinh doanh khách sạn )
Theo định nghĩa trên thì ngành kinh doanh khách sạn có 3 lĩnh vực kinh
doanh chính là: kinh doanh lưu trú, kinh doanh ăn uống và kinh doanh dịch vụ
bổ sung. Các hoạt động này tạo nên một chuỗi dịch vụ hoàn chỉnh đáp ứng
đầy đủ nhu cầu của khách.
1.1.2. Đặc điểm của kinh doanh khách sạn
Do loại hình kinh doanh khách sạn gắn liền với khách du lịch do đó nó có
những đặc trưng riêng biệt liên quan trực tiếp tới khách du lịch. Kinh doanh
khách sạn có 4 đặc trưng chủ yếu:
- Kinh doanh khách sạn phu thuộc vào tài nguyên du lịch tại các điểm du
lịch.
Tài nguyên du lịch là yếu tố hấp dẫn, cuốn hút khách du lịch – khách hàng
mục tiêu của khách sạn. Vì vậy kinh doanh khách sạn chỉ có thể thành công ở
những nơi có tài nguyên du lịch. Nơi nào không có tài nguyên du lịch thì
không thể có khách du lịch tới và cũng không thể kinh doanh được khách sạn.
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
6
Khả năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch có tác dụng quyết định quy mô của
khách sạn trong vùng, còn giá trị và sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch có tác
dụng quyết định thứ hạng khách sạn. Chính vì vậy khi đầu tư vào kinh doanh

quy luật và sự tác động của nó đến khách sạn. Từ đó đề ra những biện pháp để
kinh doanh khách sạn có thể đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.3. Kinh doanh ăn uống
Kinh doanh ăn uống là một trong 3 hoạt động kinh doanh trong doanh
nghiệp khách sạn. Hoạt động kinh doanh này không chỉ là đơn thuần là cung
cấp thức ăn cho khách mà còn phục vụ nhu cầu thẩm mĩ, nghỉ ngơi và giải trí
của họ nữa. Chính vì vậy kinh doanh ăn uống trong khách sạn bao gồm 3 hoạt
động chính sau:
- Hoạt động sản xuất vật chất: chế biến thức ăn cho khách.
- Hoạt động lưu thông: bán sản phẩm chế biến của mình và sản phẩm của
các ngành khác cho khách.
- Hoạt động tổ chức phục vụ: Tạo điều kiện để khách hàng tiêu thụ thức
ăn tại chỗ và cung cấp điều kiện nghỉ ngơi, thư giãn cho khách
Các hoạt động này có mối quan hệ trực tiếp, chi phối lẫn nhau. Nếu thiếu
một trong 3 hoạt động này không những chúng bị phá hủy mà còn dẫn đến sự
thay đổi về bản chất kinh doanh ăn uống trong du lịch. Ngày nay, để nâng cao
chất lượng của sản phẩm, các cơ sở kinh doanh ăn uống trong du lịch không
những tổ chức phục vụ trức tiếp nhu cầu ăn uống của khách mà còn mở rộng
thêm các dịch vụ giải trí khác như nghe nhạc, xem biểu diễn nghệ thuật, khiêu
vũ …Vì vậy ta có thể định nghĩa về kinh doanh ăn uống trong khách sạn như
sau:
“ Kinh doanh ăn uống trong du lịch bao gồm các hoạt động chế biến thức ăn,
bán và phục vụ nhu cầu tiêu dùng các thức ăn, đồ uống và cung cấp các dịch
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
8
vụ khác nhằm thỏa mãn nhu cầu về ăn uống và giải trí tại các nhà hang (
khách sạn ) cho khách nhằm mục đích có lãi.”
(Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn- TS. Nguyễn Văn Mạnh & Ths.
Hoàng Thị Lan Hương )

tiêu thụ một khối lượng lớn sản phẩm của các nghành như: công nghiệp nặng,
công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp, bưu chính viễn thông,
ngân hàng và đặc biệt là thủ công mỹ nghệ.
- Giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm cho lao động
Tất cả những điều trên làm cho kinh doanh khách sạn có ý nghĩa kinh tế to
lớn đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
• Ý nghĩa xã hội
- Kinh doanh khách sạn góp phần gìn giữ và phục hồi khả năng lao động và
sức sản xuất của người lao động thông qua việc đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi
tích cực trong thời gian đi du lịch của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên. Đồng thời việc thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi cuối tuần một
cách tích cực cho số đông người dân đã góp phần nâng cao mức sống về vật
chất và tinh thần cho nhân dân.
- Kinh doanh khách sạn còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự gặp gỡ, giao lưu
của mọi người từ khắp nơi, từ các quốc gia châu lục trên thế giới tới Việt
Nam.
Như vậy kinh doanh khách sạn có một ý nghĩa to lớn đối với kinh tế cũng như
xã hội của một quốc gia, ngày nay đã trở thành thế mạnh của một số quốc gia.
Vì thế cần phải có những chiến lược biện pháp phát triển nghành công nghiệp
không khói này đem lại lợi ích cho đất nước.

Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
10
1.2. Năng lực cạnh tranh
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh
1.2.1.1. Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp
- Cạnh tranh là một tất yếu khách quan tồn tại trong nền kinh tế thi trường,
vừa là đặc trưng vừa là một tất yếu khách quan. Cạnh tranh quyết định sự
sống còn của các doanh nghiệp. Đó là sự ganh đua giữa các nhà doanh nghiệp

tại trên thị trường cần phải cố những chiến lược cạnh tranh, những công cụ
cạnh tranh hữu hiệu. Thông thường doanh nghiệp có các công cụ cạnh tranh
chủ yếu sau:
• Cạnh tranh bằng sản phẩm
Đối với tất cả các doanh nghiệp thì vấn đề sản phẩm được người tiêu dùng
tiếp nhận và tiêu dùng là yếu tố quan trọng hang đầu. Sản phẩm là bộ mặt của
doanh nghiệp, đại diện cho thương hiệu, cho sự lớn mạnh hay yếu kém của
doanh nghiệp. Một doanh nghiệp thành công hay thất bại đều mở đầu và kết
thuc bởi sản phẩm. Sản phẩm là cầu nối giữa doanh nghiệp và người tiêu
dung, giữa cung và cầu trên thị trường do đó khi tiếp cận thị trường sản phẩm
là một công cụ có tác động mạnh mẽ nhất. Cạnh tranh về sản phẩm thường
được thể hiện qua các mặt sau:
- Cạnh tranh về trình độ của sản phẩm: Trình độ của sản phẩm là các nhóm
chỉ tiêu thể hiện mức độ công dụng, chức năng của sản phẩm phù hợp với
chức năng của người tiêu dungh. Muốn sử dụng chiến lược thành công trước
hết doanh ngiệp cần xác định rõ đối tượng khách hang cua mình, họ cần sản
phẩm gì và cần sản phẩm đó như hế nào. Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong
cạnh tranh nếu như lựa chọn trình độ sản phẩm phù hợp với yêu cầu của
người tiêu dùng.
- Cạnh tranh về chất lượng sản phẩm: Cùng đáp ứng một loại sản phẩm
có rất nhiều sản phẩm cùng loại tuy nhiên tai sao có sản phẩm rất thành công
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
12
trên thị trường lại có những sản phẩm lại dần biens mất. Đó chính là do chất
lượng các sản phẩm khác nhau. Người tiêu dung rất thích những sản phẩm có
nhiều công dụng nhưng chất lượng của sản phẩm cũng rất quan trọng. Do đó
nếu sản phẩm không đi cùng chất lượng thì sản phẩm đó se sớm bị người tiêu
dùng loại bỏ. Sản phẩm phải đi cùng chất lượng. Tuy nhiên đây là một chỉ
tiêu khó đo lường do đó khi sử dụng chất lượng sản phẩm là công cụ cạnh

tương quan với giá trị khách hang mong đợi, nếu khoảng cách giưa giá và giá
trị càng nhỏ thì doanh nghiệp càng có nhiều lợi thé cạnh tranh. Do đó doanh
ngiệp cũng dần chiếm được lòng tin người tiêu dung và cũng có nghĩa là vị
thế cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng cao. Tuy nhiên hạ giá ảnh hưởng
trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp do đó khi sử dụng chiến lược giá
làm vũ khí cạnh tranh trên thị trường doanh nghiệp cần phải lựa cjon thời
điểm thích hợp nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu của chính sách này.
• Cạnh tranh về phân phối bán hàng
Phân phối, bàn hàng là một trong những công cụ Marketing và là một
trong những công cụ cạnh tranh hữu hiệu của doanh nghiệp khách sạn. Cạnh
tranh về phân phối bán hàng được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau:
- Khả năng đa dạng hóa các kênh và lựa chọn các kênh chủ lực. Điều này
có được là do mối quan hệ của khách sạn với các nhà cung cấp khách và uy
tín của khách sạn đối với các công ty lữ hành. Khách sạn có một hệ thống các
danh mục kinh doanh và mỗi danh mục này lại có hệ thống dịch vụ của mình.
Do đó bất cứ doanh nghiệp khách sạn nào cũng có một chuỗi sản phẩm trên
thị trường. Việc quyết định kênh phân phối không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến
doanh thu của khách sạn mà còn giúp khách sạn tối thiểu hóa chi phí.
- Có các dịch vụ bán và sau bán hợp lý. Đây chính là các chính sách
của khách sạn đối với khách hàng và các nhà cung cấp khách. Khách sạn có
hệ thống dịch vụ bán và sau bán tốt thì sẽ có được một nguồn khách lớn và
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
14
một hệ thống Marketing hoàn hảo. Chính các nhà cung cấp và khách hàng là
những người Marketng đáng tin cậy và một khách hàng trung thành.
- Có khả năng hợp tác với các khách sạn khác trên thị trường, đặc biệt là
trên thị trường mục tiêu. Nếu có khả năng này, khách sạn không những giảm
bớt được các lực lượng cạnh tranh trên thị trường mà còn tăng cao được năng
lực cạnh tranh của mình. Đó là khả năng chia sẻ khách hàng, liên kết để thực

đó khách sạn cần phải duy trì thương hiệu và sử dụng nó như một công cụ
cạnh tranh hữu hiệu.
1.2.2. Năng lực cạnh tranh trong ngành khách sạn
1.2.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Hiện nay, một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị trường
thì phải có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường. Đó
chính là năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của
một doanh nghiệp chính là việc có được các lợi thế cạnh tranh so với các đối
thủ cạnh tranh để duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh
tranh, đảm bảo một mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực
hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế có thể hiểu ở cấp độ quốc gia,
cấp độ ngành hay doanh nghiệp. Dưới góc độ ngành, doanh nghiệp, năng lực
cạnh tranh trực tiếp gắn với khả năng duy trì và phát triển ngành, doanh
nghiệp (các chỉ số quan trọng nhất thường được dùng đo lường là lợi nhuận
và thị phần). Đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế
Việt Nam đang diễn ra song song với những chiến lược cạnh tranh kinh tế
chung. Nhiều nhân tố như công nghệ cao, đào tạo, huấn luyện và sử dụng
nguồn nhân lực, liên kết kinh tế phụ thuộc vào cả các chính sách của nhà
nước và nỗ lực của bản thân doanh nghiệp. Hơn nữa năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp không chỉ vào chi phí thấp, giá thành hạ mà còn cả các yếu tố
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
16
quyết định năng lực cạnh tranh cả về chất như: việc đánh giá các đối thủ cạnh
tranh, sự xâm nhập ngành của các doanh nghiệp mới, các sản phẩm và dịch vụ
thay thế, vị thế đàm phán của doanh nghiệp đối với các nhà cung cấp, trình độ
của người mua, kỹ năng tổ chức quản lý.
1.2.2.2.Vị thế cạnh tranh
Các doanh nghiệp khách sạn muốn tồn tại trên thị trường cạnh tranh phải

hàng, sự sáng tạo,…Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao
chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất ra sản phẩm hàng hóa.
Đội ngũ lao động của doanh nghiệp khách sạn có trình độ cao, biết các tiêu
chuẩn dịch vụ, các sản phẩm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ.
Nó sẽ tác động tới giá của dịch vụ và thông qua đó khách sạn sẽ có nhiều lựa
chọn khi định giá dịch vụ tạo lợi thế về cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Đặc biệt đối với ngành dịch vụ như khách sạn ,số lượng lao động là rất lớn.
Quá trình sản xuất một phần gắn với việc người lao động trực tiếp tiếp xúc
với khách hàng.Thái dộ cử chỉ và trình độ chuyên môn của số lao dộng này sẽ
được khách hàng đánh giá, nhận xét trong suốt quá trình giao tiếp và tác động
trực tiếp tới hình ảnh của doanh nghiệp. Khác với doanh nghiệp sản xuất sản
phẩm, sản phẩm dịch vụ vô hình nên người tiêu dùng ngoài việc đánh giá
chất lượng thuần túy của dịch vụ đem lại, họ còn đánh giá chất lượng dịch vụ
trong quá trình cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp. Việc đánh giá nhận xét tốt
hay chưa tốt ảnh hưởng rất lớn tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, yếu tố con người được dặt cao hơn rất nhiều trong các doanh
nghiệp dịch vụ so với doanh nghiệp khác và ảnh hưởng mạnh mẽ hơn tới
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Do vậy, doanh nghiệp khách sạn muốn đứng vững trong bão táp của cạnh
tranh thị trường thì phải không ngừng sang tạo ra cái mới, luôn đi đầu trong
ngành kinh doanh khách sạn.
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
18
• Khả năng về tài chính
Một doanh nghiệp có tiềm năng lớn về tài chính sẽ có nhiều thuận lợi trong
việc đổi mới công nghệ, đầu tư mua sắm trang thiết bị,năng cao chất lượng
sản phẩm củng cố vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường .Đặc biệt ,một
doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp theo
đuổi chiến lược dài hạn ,tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh, năng cao

gồm cả khách sạn InterContinental Hanoi Westlake mới đi vào hoạt động, dao
động trong khoảng từ 120-350 USD/ngày. Hệ số sử dụng phòng đạt xấp xỉ
82%. Khách đến Hà Nội thường gặp khó khăn trong việc tìm thuê phòng
khách sạn cho thấy nhu cầu cần có thêm nhiều phòng khách sạn hơn.
Xu hướng hiện nay là các khách sạn thu hút nguồn vốn đầu tư nước
ngoài để nâng cấp thành các khách sạn cao cấp hơn. Như vậy sự cạnh tranh
trong ngành khách sạn vẫn chưa thực sự diễn ra gay gắt Doanh nghiệp khách
sạn phải nhanh chóng tìm ra lợi thế cạnh tranh của mình nhằm phục vụ những
đoạn thị trường mục tiêu của mình, chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh trong ngành
khách sạn sắp tới. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là làm thế nào để các khách
sạn nâng cao được năng lực cạnh tranh, kinh doanh hiệu quả hơn trong điều
kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế.
Từ thực trạng nêu trên, có thể thấy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của
hệ thống khách sạn và cơ sở lưu trú Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế,
Nhà nước cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư xây
dựng khách sạn, nhà hàng ở nước ngoài dưới nhiều hình thức đầu tư trực tiếp
hoặc liên doanh, liên kết.
Tổng cục Du lịch cần có một hệ thống cung cấp thông tin hỗ trợ doanh
nghiệp khách sạn về thị trường cung- cầu dựa trên phương pháp thống kê
thống nhất, phù hợp cách làm của các nước trong khu vực, đáng tin cậy để
làm chuẩn so sánh, đối chiều; từng bước thiết lập hệ thống tiêu chuẩn quốc
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
20
gia nhằm quản lý chất lượng sản phẩm khách sạn; xây dựng và áp dụng các
tiêu chuẩn: khách sạn xanh, vệ sinh an toàn thực phẩm, đầu tư thích đáng phát
triển nguồn nhân lực, xây dựng một đội ngũ lao động, quản lý có năng lực,
phẩm chất cần thiết.
Về phía doanh nghiệp, mỗi khách sạn phải tự nâng cao năng lực cạnh
tranh đáp ứng yêu cầu hội nhập. Nỗ lực tập trung vào các lĩnh vực: đầu tư tạo

- Những lý luận cơ bản về kinh doanh khách sạn và kinh doanh ăn uống.
Nó cung cấp những nguyên tắc, những đặc điểm cơ bản để doanh nghiệp tập
trung khi tiến hành kinh doanh. Bản thân kinh doanh khách sạn cũng có
những đặc điểm riêng. Nó không chỉ chịu sự phụ thuộc vào tài nguyên của
mỗi điểm du lịch mà còn đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn. Hoạt động kinh
doanh khách sạn còn đòi hỏi một lực lượng lao động lớn
- Lý luận về năng lực cạnh tranh, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh. Doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cạnh tranh trước hết xác định
được chiến lược kinh doanh của minh, phải hiểu được lợi thế cạnh tranh của
mình

Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
22
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ KHÁCH SẠN M VÀ NHÀ HÀNG THE
GALLERY
2.1 Giới thiệu về khách sạn M
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển khách sạn M

Địa chỉ: 83A Lý Thường Kiệt, Quận Hoàn
Kiếm, Hà Nội

Năm thứ 27-
30
Sau năm thứ
30
Việt Nam 25.90% 40% 49% 60%
Nước ngoài 74.10% 60% 51% 40%
Nguồn: Phòng kế toán khách sạn M
Khách sạn Guoman Hà Nội được xây dựng với tổng số vốn đầu tư ban
đầu là 13.200.000USD. Ban đầu bên Việt Nam góp 25.9% vốn pháp định
bằng quyền sử dụng diện tích đất 2.950m
2
trong thời gian 30 năm ( được định
giá tại thời điểm góp vốn là 1.414.000USD) và 333.971USD tiền mặt; bên đối
tác góp 74.1% vốn pháp định bằng thiết bị, vật tư, phương tiện vận chuyển và
ngoại tệ tương đương 5.000.592 USD. Khách sạn được xây dựng theo kiến
trúc hình hộp theo tiêu chuẩn của khách sạn 4* với 12 tầng và 151 phòng và
dịch vụ đa dạng. Với nội thất được trang trí tạo không khi gia đình và thái độ
phục vụ tận tình, thân thiện của nhân viên, khách sạn Guoman đã thực sự đem
lại sự ấm cúng và hài lòng cho khách hàng. Khách sạn đã nhận được nhiều
danh hiệu và đang vững bước với mục tiêu của mình.
Thành tích của Guoman đã đạt được trong những năm gần đây:
- Đạt danh hiệu “Best Boutique Hotel in Ha Noi” năm 2001
- Đạt danh hiệu “ Best Hight Quality Hotel in Hà Nội ” năm 2002
- Đạt “ Excellent 4 – Star Hotel in Hà Nội ” năm 2006-2007
Với vị trí thuận lợi khách chủ yếu của khách sạn là khách công vụ trong
đó khách Pháp chiếm tỷ trọng 48%, khách Nhật chiếm tỷ trọng 20% và một
số là khách du lịch thuần túy.Trong vài năm gần đây Guoman Hà Nội cũng
như nhiều khách sạn khác đang phải kinh doanh trong môi trường cạnh tranh
gay gắt và nhiều rủi ro, đòi hỏi Guoman Hà Nội phải đảm bảo chất lượng dịch
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn

Tranco VN
Ông Stephen O’Grangdy

Tổng giám đốc
Ông Nguy
ễn Đăng D
ư

Phó TGĐ thứ nhất
Ông Nguy
ễn Quốc Trị

Phó TGĐ thứ hai
Vina Capital
Chuyên đề thực tập Khoa Du Lịch & Khách sạn
Nguyễn Thị Phượng Lớp Du Lịch 46A
25
được bắt đầu hoạt động vào tháng 6 năm 2006. Hiện nay VinaCapital đã là
chủ sở hữu của 4 khách sạn lớn trong đó có 3 khách sạn ở Hà Nội đó là:
khách sạn Sofitel Metropole, Hilton và M. Với mỗi khách sạn, công ty ROXY
đều có mục tiêu riêng và vạch ra những chiến lược thực hiện mục tiêu đó. Đối
với khách sạn M công ty muốn đưa ra cho khách hàng một hình ảnh khách
sạn luôn đi tiên phong trong ngành khách sạn (Trend Setting Hotelier) và
khách sạn ấm cúng nhất Việt Nam (Best Boutique Hotel in VietNam). Để
thực hiện mục tiêu đó khách sạn đã lựa chọn tập đoàn Movenpick Hotel
(Thụy Sĩ) là nhà quản lý và dự định đến tháng 6/2008 đổi tên thành khách sạn
Movenpick Hotel Hanoi.
Tập đoàn Movenpick có trụ sở chính tại 8152 Glattbrugg, Thụy Sĩ, là tập
đoàn quản lý khách sạn và resort hàng với gần 100 năm kinh nghiệm đầu thế
giới . Tập đoàn có khoảng 12.000 nhân viên, hơn 80 khách sạn ở 25 nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status