luận văn:Nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty dệt may Hà Nội doc - Pdf 11



1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: Nâng cao năng lực cạnh
tranh của tổng công ty dệt may Hà
Nội.”
2



3

2.1.1.1. Lịch sử hình thành 25
2.1.1.2. Quá trình phát triển 25
2.1.1.3.Các phòng ban của công ty 29
2.1.2. Các lĩnh vực hoạt động chính của công ty 30
2.1.3. Đặc điểm quy trình công nghệ 32
2.2. Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty 33
2.2.1. Tình hình chung của công ty 33
2.2.2. Thực trạng kinh doanh của công ty 40
2.3. Thực trạng cạnh tranh của công ty 54
2.3.1 Phân tích thực trạng cạnh tranh của công ty 54
2.3.1.1. Phân tích môi trường bên ngoài Hanosimex, môi trường
vĩ mô (mô hình PEST) 54
2.3.1.2. Môi trường ngành 57
2.3.1.3. Mô hình chuỗi giá trị bên trong doanh nghiệp 59
2.3.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty 60
2.3.3 Các chiến lược cạnh tranh của công ty 65
Chương 3 : Một số kiến nghị và giải pháp 70
3.1. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Việt Nam 70
3.1. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp 71
Việt Nam nói chung và công ty nói riêng.
3.2. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành dệt may 86
Kết luận 92
Danh mục tài liệu tham khảo

khỏi những hạn chế, thiếu sót do năng lực có hạn của bản thân. Em mong nhận 5

được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô, đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn
PGS.TS Nguyễn Như Bình để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân
thành cảm ơn!


Tuy các kỹ thuật may dệt đã mau chóng đạt mức độ tinh vi, có khi thành cả
nghệ thuật, nhưng trong suốt 5 ngàn năm, con người vẫn chỉ dùng các nguyên liệu
tự nhiên, lấy từ cây cỏ như các sợi bông, sợi đay, sợi gai dầu, sợi lanh, hay từ thực
vật như da, sợi len, tơ tằm, v.v. Vì thế sản xuất bị giới hạn, vải vóc vẫn là sản
phẩm quí, những y phục gấm vóc dành cho giai cấp quí tộc, thượng lưu, đại đa số 7

dân chúng chỉ mặc vải thô, quanh quẩn với một vài màu mè kiểu cọ. Mãi đến giữa
thế kỷ 18, với cuộc cách mạng kỹ nghệ bên Anh và sự ra đời của các máy dệt cơ
khí hoá, chạy bằng hơi nước, ngành dệt mới thật sự ra khỏi sản xuất thủ công để
trở thành một kỹ nghệ.
Tuy nhiên, con người vẫn còn lệ thuộc vào thiên nhiên, và nhiều nhà khoa
học ở Âu Châu tìm tòi cách làm ra một loại sợi nhân tạo có thể sản xuất hàng loạt,
với giá rẻ. Phải đợi đến năm 1884, một người Pháp, bá tước Hilaire Bernigaud de
Chardonnet mới phát minh một cách chế tạo tơ nhân tạo, sau 6 năm nghiên cứu.
Ông Chardonnet được coi như cha đẻ của kỹ nghệ sợi hoá học là chữ gọi chung
cho các sợi nhân tạo và sợi tổng hợp. Mục đích của ông khi tìm cách làm tơ nhân
tạo là để bình dân hoá vải vóc, để bất cứ ai cũng có thể có được những bộ quần áo
lụa là cho tới lúc ấy chỉ dành cho một thiểu số. Ông đã thành công hơn dự kiến vì
kỹ nghệ phát sinh từ các sáng chế của ông đã dẫn đến cả một cuộc cách mạng
trong may mặc, biến thời trang thành một hiện tượng quần chúng trong mọi nước.
Ngành dệt may từ đó cũng phát triển ngày càng nhanh, cùng với đà tiến triển của
kinh tế và thương mại. Từ 1889 đến 1939, phải sau 50 năm sản lượng sợi hoá học
trên thế giới mới đạt mức 1 triệu tấn một năm, nhưng chỉ 12 năm sau đã tăng gấp
đôi, và cứ thế tăng vọt.
Năm 1900, trên thế giới có 1,6 tỷ người, tiêu thụ 3,8 triệu tấn sợi, hầu như
toàn bộ là các sợi tự nhiên - bông (81%) và len (19%)-, số sợi hoá học dưới 1000
tấn. Năm 1975, thế giới tiêu thụ 26 triệu tấn sợi, trong đó 50% bông, 6% len và

Tù hàng nghìn năm nay người Việt đã biết trồng dâu nuôi tằm, trồng bông, lanh,
gai, đay, và các cây có xơ để kéo sợi, dệt vải làm nguyên liệu cho ngành may mặc
phục vụ cho đời sống hàng ngày và trong tang lễ, hội hè, đình đám. Bằng chứng
cho sự phát triển này là đến này vẫn còn tồn tại nhiều làng nghề truyền thống trên
nhiều vùng đất nước như: lụa Vạn Phúc, khăn Phùng Xá, dệt làng Mẹo, thổ cẩm
Mai Châu… Tuy vậy phải đến cuối thế kỷ XIX ngành dệt may mới manh nha hình
thành và phát triển trong hình hài một ngành công nghiệp
Ngành dệt may Việt Nam có thể chia làm 2 giai đoạn
Giai đoạn từ thời Pháp thuộc đến năm 1975: viên gạch đầu tiên đầu tiên
đặt nền móng cho sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam là sự ra đợi của một 9

vài xí nghiệp có quy mô sản xuất công nghiệp như công ty bông vải Bắc kỳ tiền
thân của công ty dệt Nam Định ngày nay, xí nghiệp tơ tằm Delignon ở Nam Trung
bộ do người Pháp đầu tư và một vài cơ sở dệt kim tư nhân rất nhỏ bé tập trung ở
các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sài Gòn - Chợ Lớn Tuy
nhiên ngành dệt may Việt Nam lúc bấy giờ, dù phát triển rộng khắp ở các đô thị,
thị trấn, vùng quê, nhưng hầu như vẫn sản xuất theo phương thức thủ công, ngành
công nghiệp may sẵn chưa có vị trí đáng kể nào.
Đến năm 1954, hoà bình lập lại ở miền Bắc, chính phủ có chủ trương phát
triển phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi
nhọn nên đã sớm ban hành nhiều chính sách nhằm chấn hưng ngành công nghiệp
non trẻ này. Đó là phục hồi các nhà may do Pháp để lại và khuyến khích các nhà
máy sản xuất trở lại, thành lập các công ty gia công dệt may để khuyến khích, phát
huy và thu mua các sản phẩm dệt may ở các làng nghề thủ công tham gia vào giải
quyết vải tiêu dùng trong nhân dân và xuất khẩu. Đồng thời mở hàng loạt các xí
nghiệp dệt công nghiệp mới của nhà nước với trang thiết bị nhập từ Trung Quốc
và các nước Đông Âu như dệt Nam Định, tơ Nam Định, len Hải Phòng, dệ 8/3, dệt

cả dầu thô, với kim ngạch đạt 7.75 tỷ USD, tăng 32.8% so với năm 2006, đồng
thời lọt vào top 5 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới và theo dự báo,
trong năm nay, Việt Nam sẽ vượt qua Ấn Độ và Mexico trở thành cường quốc
xuất khẩu dệt may thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc. Thành tựu này là kết quả nỗ
lực, phấn đấu không mệt mỏi của ngành hàng. Đặc biệt, trong đó là những bước đi
khôn ngoan khi mở rộng thị trường và vượt qua những rào cản của thị trường Mỹ.
Theo dự báo của phòng thương mại Việt- Mỹ doanh thu năm 2007 của Việt Nam
vào thị trường Mỹ chiếm đến 43% trong tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm này
tại Mỹ. Phải nói đây là một thắng lợi lớn về kinh tế trong giai đoạn phát triển của
ngành dệt may VN, quan trọng hơn là trong những năm qua ngành dệt may VN đã
giải quyết được hàng chục vạn lao động, góp phần cùng đất nước giải quyết tình
trạng thất nghiệp, xoá đói giảm nghèo, ổn định chính trị và phát triển kinh tế đất
nước. Bên cạnh đó, ngành tiếp tục thu hút nhiều làn sóng đầu tư của nước ngoài
vào Việt Nam, các doanh nghiệp dệt may có vốn đầu tư nước ngoài ước tính
chiếm khoảng 25% tổng số các doanh nghiệp dệt may của cả nước. Dự kiến trong
năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may tiếp tục tăng cao, theo dự đoán 11

khoảng 9,6 tỷ USD nếu biết giữ vững các thị trường truyền thống như Mỹ- thị
trường chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may, EU- thị trường chiếm 18%
tổng kim ngạch xuất khẩu và Nhật Bản- chiếm 10%, đồng thời tìm kiếm thêm
những thị trường mới.
Tuy đã đạt được những thành tựu đáng khen như vậy trong thời gian qua,
ngành dệt may Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Những kết quả trên một phần là
do ngành may, trong khi may phát triển mạnh và được coi là một trong năm nước
có năng lực cạnh tranh thì ngành dệt lại đang bị tụt hậu 20 năm so với thế giới. Đạt
được kim ngạch xuất khẩu lớn như vậy, nhưng hiệu quả xuất khẩu của ngành dệt
may còn thấp do chưa chủ động được nguồn nguyên liệu mà vẫn phải nhập khẩu

Nam sẽ có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu và tăng kim ngạch cũng như mở rộng cơ
hội tìm kiếm thị trường. Cơ hội cũng mở ra khi Việt Nam có điều kiện khai thác
một thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng như Mỹ, bởi vì Mỹ sẽ không áp dụng
biện pháp tự vệ với Việt Nam như đã áp dụng khi đàm phán gia nhập WTO với
Trung Quốc trước đây do thoả thuận của hiệp định thương mại Việt - Mỹ.
Bên cạnh đó các rào cản xuất khẩu cũng dỡ bỏ, các doanh nghiệp Việt Nam
không còn phải lo chạy vạy hạn ngạch, cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận với
các thị trường mới mở rộng rất nhiều. Từ chỗ chỉ được xuất khẩu theo hạn ngạch,
đến nay các doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu theo năng lực thị trường,
doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện thâm nhập mạnh vào các thị trường nước
ngoài.
Dòng đầu tư nước ngoài mới tiếp tục đổ vào Việt Nam, trong đó ngành dệt
may là một trong những ngành thu hút đầu tư mạnh, tiếp tục cải thiện cơ sở hạ
tầng phục vụ cho sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế cũng như ngành
dệt may cơ hội phát triển hơn nữa. Đặc biệt sự phát triển của ngành may sẽ là động
lực tạo điều kiện phát triển theo và thu hút đầu tư vào ngành dệt và nhuộm. Trên
cơ sở đó tiếp tục thu hút một lực lượng lao động lớn góp phần giải quyết việc làm
cho xã hội.
Đồng thời với dòng đầu tư nước ngoài ngành dệt may Việt Nam cũng đón
nhận trình độ quản lý và công nghệ mới tạo điều kiện cải thiện những máy móc 13

thiết bị đã cũ, lạc hậu và tư duy cũng như công tác quản lý không còn phù hợp với
điều kiện thị trường.
Việc sản xuất kinh doanh cũng nhiều thuận lợi hơn do thuế nhập khẩu
nguyên, phụ liệu giảm và nguồn cung cấp cũng phong phú hơn, tạo điều kiện cho
việc giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao sực cạnh tranh của
hàng dệt may Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

Trung Quốc khi không phải chịu thuế nhập khẩu thì sẽ là thách thức lớn đối với
các doanh nghiệp Việt Nam trong việc cạnh tranh không chỉ trên thị trường nội
địa, như vậy không chỉ các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp lớn cũng phải
lao đao. Khi những sự hỗ trợ và bảo hộ của chính phủ không còn, đồng thời thị
trường bị chia sẻ cho các doanh nghiệp nước ngoài, sẽ rất khó khăn cho các doanh
nghiệp Việt Nam trong việc khẳng định vị trí và phát triển.
Đồng thời, một vấn đề cần đặc biệt lưu ý là kiện bán phá giá đối với hàng
dệt may Việt Nam, đây không phải là nguy cơ mà đã đang và sẽ đe doạ các doanh
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này. Các thi trường mở rộng nhưng nguy cơ
tiềm tàng trong đó cũng không phải là ít. Từ ngày 11/1/2007, hàng dệt may Việt
Nam không còn phải chịu hạn ngạch khi xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, nhưng
dưới áp lực của các nhà sản xuất dệt Hoa Kỳ, Bộ Thương Mại nước này đã đưa ra
một rào cản mới, đó là việc xây dựng cơ chế giám sát nhập khẩu và tự khởi động
điều tra chống bán phá giá hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Điều
này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường kinh doanh khi thị trường Mỹ
chiếm đến trên 50% thị phần xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam. Nhiều nhà
nhập khẩu lớn dè dặt khi đặt hàng tại Việt Nam, thậm chí rút đơn hàng khỏi Việt
Nam trong những tháng đầu năm và trong quý III/2007. Nhiều công ty không dám
đầu tư mở rộng sản xuất do sợ rủi ro. Mặc dù Bộ Thương mại Mỹ đã công bố
chính thức chưa tìm thấy bất cứ dấu hiệu cho thấy ngành dệt may Việt Nam bán
phá giá vào thị trường Mỹ, nhưng bộ Thương Mại Mỹ thông báo vẫn tiếp tục thực
hiện cơ chế giám sát cho đến hết 2008
.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng sẽ phải cạnh tranh với nhau để tìm
kiếm nguồn lao động phù hợp trong tình trạng biến động lao động như hiện nay.
Doanh nghiệp sẽ phải đối phó và giải quyết với tình trạng đình công của người lao
dộng như đã xảy ra trong năm 2007 vừa qua. 15
16

Vì vậy, cạnh tranh được hiểu theo nghĩa chung là sự tranh đấu giữa các chủ
thể tham gia hoạt đọng kinh tế nhằm tối đa hoá lợi ích của mình. Theo nghĩa hẹp,
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được hiểu là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các
nhà sản xuất kinh doanh nhằm giành giật những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có
lợi nhất để thu được lợi ích tối đa. Cạnh tranh gắn liền với cơ chế thị trường và trở
thành quy luật kinh tế đặc thù của nền kinh tế thị trường. Khi chuyển sang nền
kinh tế thị trường , chúng ta thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần
kinh tế bao gồm, kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế
tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Có thể nói
nguồn gốc nảy sinh cạnh tranh là mâu thuẫn giữa tính chất tư nhân và tính chất xã
hội của lao động sản xuất hàng hoá cũng như sự độc lập và tách biệt về lợi ích
giữa các chủ thể kinh tế - sản phẩm của cơ chế thị trường với nhiều thành phần
kinh tế hoạt động. Khác với nền kinh tế tập trung, mọi hoạt động sản xuất và tiêu
thụ đều theo kế hoạch, được hoạch định từ trên xuống, từ cấp quốc gia đến các bộ
ngành và các doanh nghiệp cụ thể. Ngược lại, trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ
một sản phẩm nào đưa ra đều phải chịu một sức cạnh tranh nhất định, bởi vì ở đó
có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất một mặt hàng, việc sản xuất tiêu
thụ phải tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường. Vì vậy các doanh nghiệp
phải tìm mọi cách để cạnh tranh với nhau để làm sao tiêu thụ được hết sản phẩm
của mình đồng thời thu được lợi nhuận cao nhất. Với cơ chết thị trường các doanh
nghiệp phải chủ động trong sản xuất kinh doanh từ khâu cung ứng nguyên liệu phụ
kiện, tổ chức sản xuất đến việc tiêu thuh sản phẩm nhằm tiết kiệm chi phí, giảm
giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm để khả năng cạnh tranh cao, đem lại hiệu
quả kinh tế cho doanh nghiệp mình. Do đó mức độ và tính chất cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp ngày một đa dạng và gay gắt hơn.
1.2.1.2. Vai trò của cạnh tranh

“thượng đế”, là người có quyết định tối cao trong hành vi tiêu dùng. Nhờ cạnh
tranh, người tiêu dùng có thể nhận được hàng hoá và dịch vụ ngày càng phong
phú, đa dạng với chất lượng cao hơn và giá cả phù hợp hơn. Cạnh tranh làm cho
người tiêu dùng thực sự được tôn trọng, thúc đẩy và nâng cao việc các doanh
nghiệp đảm bảo và làm thoả mãn người mua hàng.
18

1.2.2. Các lý thuyết về năng lực cạnh tranh
1.2.2.1. Lý thuyết về môi trường bên ngoài - môi trường vĩ mô ( PEST )
 Kinh tế: Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng
đến thành công và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nhân tố kinh
tế chủ yếu ảnh hưởng đến doanh nghiệp là tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát…
 Công nghệ: đây là loại nhân tố có ảnh hưởng lớn, trực tiếp cho chiến lược
kinh doanh của các lĩnh vực, ngành cũng như nhiều doanh nghiệp, do đó
ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh doanh nghiệp. Trong thời đại
hiện nay khi mà tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão thì việc
đầu tư thay đổi công nghệ là vấn đề các nhà kinh doanh phải thường xuyên
quan tâm.
 Văn hóa - xã hội: Đối với chiến lược trung và dài hạn có thể nói đây là loại
nhân tố thay đổi nhanh chóng theo hướng du nhập những lối sống mới. Đây
cũng là cơ hội cho các nhà sản xuất, đồng thời cũng đặt ra những khó khăn
cho doanh nghiệp trong việc nhìn nhận, đánh giá và xác định xu hướng tiêu
dùng mới, căn cứ theo độ tuổi, sở thích, địa vị công việc của người tiêu
dùng để nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như có những chiến lược cạnh
tranh hợp lý trong từng thời điểm.
 Môi trường tự nhiên: các nhà kinh doanh phải quan tâm đến các yếu tố về

một ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và
quyết định gia nhập ngành. Đây là mối đe dọa cho các doanh nghiệp hiện
tại. Các doanh nghiệp hiện tại muốn tìm cách ngăn cản các doanh nghiệp
muốn gia nhập vào ngành thì phải tạo hàng rào lối vào một cách vững chắc.
Đó là:
• Những ưu thế tuyệt đối về chi phí: phải làm chủ một công nghệ đặc
thù, những sáng chế, cải tiến kỹ thuật, làm chủ được nguồn nguyên
liệu, quản lý sản xuất, ứng dụng công nghệ thông tin, nguồn nhân
lực có tay nghệ cao. Tất cả những yếu tố trên nhằm nâng cao năng
suất lao động, tạo chi phí thấp. Tận dụng được những ưu thế này, rõ
ràng các doanh nghiệp đã giảm thiểu được chi phí cho sản xuất và 20

như thế, tăng khả năng cạnh tranh của mình với các doanh nghiệp
khác.
• Khác biệt hóa sản phẩm: tạo sự khác biệt cho những hình ảnh, nhãn
hiệu sản phẩm đã rất thân thiện với khách hàng. Chi phí cho việc tạo
sự thay đổi này là rất cao và mạo hiểm.
• Kinh tế quy mô: chính là số lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ
tăng lên thì tất cả chi phí cho một đơn vị sản phẩm sẽ giảm.
• Kênh phân phối: chủ yếu đã được các doanh nghiệp hiện tại thiết
lập nên sẽ là vật cản đối với các doanh nghiệp muốn nhảy vào chia
sẻ thị trường.
 Nhà cung cấp: là lực lượng thứ ba trong lực lượng cạnh tranh. Các nhà
cung cấp có thể được coi là áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá
bán đầu vào hoặc giảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp,
làm giảm tính cạnh tranh của nhà sản xuất. Áp lực của các nhà cung cấp
thường thể hiện trong các tình huống: nhà cung cấp độc quyền, không

 Sản phẩm thay thế: lực lượng cuối cùng trong mô hình Porter là sự đe
doạ của sản phẩm thay thế. Là sản phẩm khác thỏa mãn được nhu cầu
của người tiêu dùng. Đe dọa này đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự phân
tích và theo dõi thường xuyên những tiến bộ công nghệ nhằm đổi mới
công nghệ, đổi mới sản phẩm. Các nguy cơ thay thế thể hiện ở: chi phí
chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm, xu hướng sử dụng sản phẩm thay
thế của khách hàng, tương quan giữa giá cả và chất lượng các mặt hàng
thay thế.
1.2.2.3. Lý thuyết về môi trường bên trong doanh nghiệp
 Lý thuyết chuỗi giá trị : là quy trình tạo ra giá trị, được phân thành họat
động chính và hoạt động phụ trợ
Các hoạt động chính bảo gồm các hoạt động liên quan đến cơ sở hạ tầng (cấu trúc
và lãnh đạo), nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, quản lý vật tư, chế tạo tiếp
thị bán hàng và dịch vụ
Các hoạt động hỗ trợ là các hoạt động chức năng giúp cho các hoạt động chính
như hoạt động chế tạo và Marketing. Chức năng quản lý vật tư, kiểm soát lưu
chuyển vật tư qua chuỗi giá trị từ cung cấp đến sản xuất và đi vào phân phối góp 22

phần cho việc giảm chi phí tạo ra giá trị. Chức năng nghiên cứu và phát triển nhằm
phát triển sản phẩm mới, phát triển công nghệ có thể hạ thấp chi phí chế tạo và tạo
ra những sản phẩm hấp dẫn hơn, bán được giá cao hơn, chức năng này ảnh hưởng
đến chức năng Marketing, góp phần tạo ra giá trị. Chức năng quản lý nhân lực
đảm bảo rằng doanh nghiệp sử dụng hợp lý những người có kỹ năng để thực hiện
hiệu quả các hoạt động tạo ra giá trị. Hoạt động hỗ trợ cuối cùng là cơ sở hạ tầng,
là khung cảnh chung của toàn doanh nghiệp trong đó xảy ra các họat động tạo ra
giá trị. Để đạt được những mục tiêu về hiệu quả, chất lượng, đổi mới sản phẩm và
thỏa mãn khách hàng thì doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh bao

có tiềm lực tài chính tốt, phát huy tốt tiềm lực đó tấy yếu sẽ thu được
nguồn lợi nhuận cao.
• Quản lý sản xuất: là lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp gắn liền
với việc tạo ra sản phẩm. Đây là một trong những hoạt động chính
yếu của doanh nghiệp, quản lý sản xuất tốt sẽ tiết kiệm được chi phí,
nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, góp vào sự
thành công chung của doanh nghiệp.
• Hoạt động Marketing: là quá trình quảng bá, giới thiệu sản phẩm,
nghiên cứu thị trường, tung sản phẩm ra thị trường nhằm chiếm lĩnh
thị phần, nâng cao thương hiệu sản phẩm, đánh bóng tên tuổi doanh
nghiệp và sản phẩm để sản phẩm có thể tiếp cận và gần gũi với
người tiêu dùng.
• Vị trí địa lý của doanh nghiệp: đây cũng là yếu tố hết sức quan
trọng. Vị trí địa lý thuận lợi sẽ hấp dẫn khách hàng, tạo cơ hội cho
doanh nghiệp phát triển
1.2.2.4. Lý thuyết phân tích SWOT
Ma trận SWOT dùng để tổng hợp những nghiên cứu về môi trường bên ngoài và
bên trong doanh nghiệp. Phân tích môi trường bên ngoài để phát hiện cơ hội và
những đe dọa đối với doanh nghiệp. Phân tích môi trường nội bộ để xác định thế
mạnh và điểm yếu của chính doanh nghiệp. 24

Trên cơ sở phân tích các yếu tố trong ma trận, căn cứ vào mục tiêu, phương hướng
phát triển kinh doanh và các nguồn lực của mình, doanh nghiệp có thể thiết lập các
kết hợp. Về nguyên tắc có 4 loại kết hợp:
• Cơ hội với điểm mạnh (O- S)
• Cơ hội với điểm yếu (O- W)
• Đe dọa với điểm mạnh (T- S)

trong bằng cách tận dụng
những cơ hội bên ngoài.
Đôi khi những cơ hội lớn
bên ngoài đang tồn tại,
nhưng doanh nghiệp có
những điểm yếu bên trong
ngăn cản nó khai thác
những cơ hội này

Nguy cơ
(T)
Là chiến lược sử dụng các điểm mạnh
của doanh nghiệp để tránh khỏi hay
giảm đi ảnh hưởng của những mối đe
doạ bên ngoài. Điều này không có nghĩa
là một tổ chức hùng mạnh luôn luôn gặp
Là các chiến lược phòng
thủ nhằm làm giảm đi
những điểm yếu bên trong
và tránh khỏi những mối
đe doạ từ bên ngoài. Một 25

phải những mối đe doạ từ bên ngoài

tổ chức đối đầu với vô số
mối đe doạ bên ngoàii và
những điểm yếu bên trong

Đó là:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status