Pháp luật của WTO về chống trợ cấp trong
nông nghiệp Trần Thị Hiền Dung Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: PGS.TS. Hoàng Phước Hiệp
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Nghiên cứu, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về hiệp định về nông
nghiệp, hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO. Tìm hiểu một
cách đầy đủ có hệ thống nội dung cơ bản các cam kết của Việt Nam về chống trợ
cấp trong nông nghiệp và nghiên cứu, đánh giá những quy định của pháp luật Việt
Nam trước và sau khi gia nhập WTO và ảnh hưởng của các chính sách pháp luật đến
nền kinh tế đặc biệt là trong nông nghiệp. Đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn
thiện pháp luật Việt Nam để thực thi có hiệu quả các cam kết của Việt Nam với
WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp.
Keywords. Luật Quốc tế; Pháp luật; Nông nghiệp; WTO Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới
ngày 11/01/2007 là một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước phát triển mới cho nền kinh tế
trong nước. Trong 04 năm vừa qua, Việt Nam đã có nhiều cố gắng để nhận thức và thực thi
đăng trên các trang web như: www.farmsubsidy.org, ipsnews… Nghiên cứu về trợ cấp và
phân tích những chính sách trợ cấp nông nghiệp của Mỹ của Agence France Presse [9].
Những nghiên cứu của Christopher Conte và Albert R. Karr về trợ cấp nông nghiệp và lịch sử
quá trình hình thành và phát triển các quy định về trợ cấp nông nghiệp Mỹ [9]… Thực tiễn
các nước trên thế giới đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển đã và đang nghiên cứu
sâu sắc và toàn diện hơn các quy định về chống trợ cấp trong nông nghiệp để sử dụng có hiệu
quả nhất. Tại Việt Nam, tình hình nghiên cứu các chính sách về chống trợ cấp trong nông
nghiệp vẫn còn ít, kinh nghiệm thực tế trong việc áp dụng chưa nhiều. Do vậy, cần nghiên
cứu các kinh nghiệm của các quốc gia khác để tìm ra giải pháp về sử dụng các hình thức trợ
cấp có hiệu quả, cách thức sử dụng các biện pháp chống trợ cấp trong nông nghiệp theo đúng
tinh thần quy định pháp luật của WTO.
Trước tình hình đó, việc chọn đề tài “Pháp luật của WTO về chống trợ cấp trong nông
nghiệp” để nghiên cứu thật sự là yêu cầu bức thiết hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chống trợ cấp trong nông nghiệp và tình hình thực thi các quy định về chống trợ cấp
trong nông nghiệp luôn là vấn đề quan trọng.
2.1. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ở trong nước vấn đề trợ cấp nông nghiệp đã được quan tâm nghiên cứu đã có những
cuộc hội thảo, nhiều bài viết và một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: Hội thảo
của Bộ tài chính và Ngân hàng phát triển Châu Á về Trợ cấp và gia nhập WTO: Tính tuân
thủ quy định WTO và tác động về mặt chính sách đối với Việt Nam, 2005. Sổ tay về trợ cấp
nông nghiệp và một số sách chuyên khảo có đề cập đến trợ cấp và trợ cấp trong nông nghiệp
như Cam kết thuế quan và phi thuế quan trong nông nghiệp của Việt Nam gia nhập WTO của
Dương Ngọc Thí, 2007. WTO và ngành nông nghiệp Việt Nam của Bộ nông nghiệp và Phát
triển nông thôn và CEG/ AusAID, 2005. Cẩm nang doanh nghiệp về WTO và cam kết của
Việt Nam của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Trang (chủ biên), 2009. Thành viên thứ 150 bài học từ
các nước đi trước, Nguyễn Văn Thanh, 2007. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với
phát triển nông nghiệp Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Từ (chủ biên), 2008. Báo cáo phát triển thế
giới 2008 Tăng cường nông nghiệp cho phát triển. Một số bài viết trên trang Web của Bộ
nông nghiệp và phát triển nông thôn, VCCI, Bộ công thương. Trong các giáo trình giảng dạy
Nam trước và sau khi gia nhập WTO và ảnh hưởng của các chính sách pháp luật đến nền kinh
tế đặc biệt là trong nông nghiệp.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này với khuôn khổ Luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trung đi sâu
vào nghiên cứu những quy định của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp; thực tiễn giải
quyết một số tranh chấp trong lĩnh vực này nêu các đề xuất để sử dụng có hiệu quả các chính
sách trợ cấp được phép và phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống trợ cấp
trong nông nghiệp.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Duy vật Biện chứng và Duy vật Lịch sử,
tác giả đã sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu,
làm rõ các nội dung, đạt được mục đích của luận văn.
5. Điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu vào phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và có
hệ thống các quy định của WTO về chống trợ cấp, nghiên cứu, đánh giá những điểm hợp lý
và bất hợp lý của quy định về chống trợ cấp trong nông nghiệp của Hoa kỳ, EU, Việt Nam….
Nghiên cứu để tìm ra những phương hướng và giải pháp góp phần xây dựng các tiêu chí và
đòn bẩy kinh tế, hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về chống trợ cấp trong nông nghiệp
trong nước phù hợp với các cam kết khi đã là thành viên của WTO.
6. Ý nghĩa và kết cấu luận văn
6.1. Ý nghĩa của luận văn
Chúng tôi mong rằng, những kiến nghị trong luận văn sẽ được sử dụng trong công
cuộc pháp điển hóa pháp luật, sẽ là đóng góp có ý nghĩa thiết thực cho tất cả những ai mong
muốn tìm hiểu các quy định của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp.
6.2. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu như sau: Phần mở đầu, ba chương nội dung, kết luận, các phụ
lục và tài liệu tham khảo.
Ba chương có nội dung chính là:
Chương 1: Tổng quan pháp luật của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp.
Chương 2: Những vấn đề thực tiễn pháp luật của WTO về chống trợ cấp trong nông
sản xuất;
(c) Trợ cấp để bù cho các hoạt động kinh doanh thua lỗ của một doanh nghiệp, trừ khi
nó là một biện pháp nhất thời một lần và không lặp lại với doanh nghiệp đó và được cấp chỉ
thuần túy để cho phép có thời gian tìm kiếm một giải pháp lâu dài và tránh phát sinh một vấn
đề xã hội gay gắt;
(d) Trực tiếp xóa nợ như xóa một khoản nợ Nhà nước hay cấp kinh phí để thanh toán
nợ.
1.1.4. Quan niệm của WTO về trợ cấp và trợ cấp trong nông nghiệp
Trong Điều 1 Hiệp định SCM có tiêu đề “Định nghĩa trợ cấp” đã nêu ra các điều kiện
mà ở đó một trợ cấp được tồn tại
(i) Chính phủ chuyển giao ngân quỹ trực tiếp bao gồm cả các chuyển giao trực tiếp
các khoản vốn (cấp phát, cho vay, hay góp cổ phần), có khả năng chuyển hoặc nhận nợ trực
tiếp (bảo lãnh tiền vay);
(ii) Các khoản thu phải nộp cho Chính phủ đã được bỏ qua hay không thu (các ưu đãi
tài chính hay miễn thuế)
(iii) Chính phủ cung cấp hàng hóa hay dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở chung
hoặc mua hàng.
(iv) Trợ cấp cũng được xem là tồn tại nếu Chính phủ thực hiện chi trả theo một cơ chế
tài trợ, hoặc giao phó hoặc trực tiếp cho một tổ chức tư nhân để thực thi một hoặc hơn các
chức năng trên của Chính phủ.
1.2. Phân loại sản phẩm nông nghiệp theo WTO
Trong WTO, hàng hóa được chia làm hai (02) nhóm chính: Nông sản và phi nông sản.
1.3. Các loại hình trợ cấp
1.3.1. Trợ cấp không thể đối kháng
Trợ cấp không thể đối kháng là loại trợ cấp không có sự giúp đỡ giá cả đối với người
sản xuất, không có trợ giá hoặc chỉ trợ giá một ít đối với thương mại hàng nông sản.
1.3.2. Trợ cấp có thể đối kháng
Là những hình thức có thể bóp méo giá trị thương mại nhưng ở mức tối thiểu và vì
vậy không yêu cầu phải cam kết cắt giảm.
Các khoản trợ cấp được nêu tại định nghĩa, không một thành viên nào thông qua việc
1.4.1. Chế tài đối với trợ cấp bị cấm
1.4.2. Chế tài đối với trợ cấp có thể bị đối kháng
1.4.3. Tham vấn và chế tài đƣợc phép trong trợ cấp không thể đối kháng
1.5. Biện pháp chống trợ cấp
1.5.1. Khái niệm
Biện pháp chống trợ cấp là những cách thức do quốc gia bị thiệt hại tiến hành nhằm
ngăn ngừa hoặc triệt tiêu những hành vi trợ cấp ở mức độ cần thiết và hợp lý.
1.5.2. Các biện pháp chống trợ cấp
Các biện pháp hiện nay trên thế giới sử dụng để chống trợ cấp là:
Biện pháp thuế quan.
Biện pháp phi thuế quan.
Để đối phó với trợ cấp của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu có thể áp dụng biện pháp
chống trợ cấp bằng cách đánh thêm thuế chống trợ cấp ngoài thuế nhập khẩu thông thường
đối với hàng nhập khẩu hoặc Nhà nước nhập khẩu hàng hóa bị trợ cấp có thể cam kết triệt
tiêu trợ cấp do nhà sản xuất, nhà xuất khẩu hàng hóa tự nguyện cam kết.
1.6. Quan hệ tƣơng thích giữa pháp luật của WTO với pháp luật quốc gia về chống trợ
cấp trong nông nghiệp
1.6.1. Chính sách trợ cấp của Việt Nam
Việt Nam bắt đầu trợ cấp trực tiếp từ ngân sách cho xuất khẩu kể từ năm 1998, bao
gồm các biện pháp hỗ trợ lãi xuất, thưởng xuất khẩu, bù lỗ cho Doanh nghiệp xuất khẩu gạo,
thịt lợn, rau quả đóng hộp và cà phê.
1.6.1.1. Giai đoạn 1999 đến trƣớc ngày 11/01/2007
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ và trợ cấp xuất khẩu nông sản bằng
nhiều quyết định của Chính phủ và các Bộ (số 195/1999/QĐ – TTg, 764/1998/QĐ – TTg,
63/2001/QĐ – BTC, 65/2001/QĐ – BTC…).
1.6.1.2. Giai đoạn sau 11/01/2007
* Sự phù hợp giữa pháp luật của WTO với pháp luật quốc gia về chống trợ cấp trong nông
nghiệp
Thứ nhất, Trợ cấp không bị đối kháng
(i) Trợ cấp cho các dịch vụ chung, (ii) Dự trữ vì an ninh lương thực, (iii) Cứu trợ
hỗ trợ chương trình thu mua nông sản can thiệp thị trường. Khó khăn lớn nhất của Việt Nam
là không xây dựng trước thành chương trình can thiệp thị trường của Chính phủ, mà thường
chỉ ban hành ngay khi gặp khó khăn để giải quyết vấn đề mang tính tình thế. Điều này không
đảm bảo tính minh bạch theo yêu cầu của WTO.
CHƢƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN PHÁP LUẬT CỦA WTO VỀ CHỐNG TRỢ CẤP
TRONG NÔNG NGHIỆP
2.1. Thực tiễn của Hoa Kỳ áp dụng các quy định của WTO về chống trợ cấp trong nông
nghiệp
2.1.1. Tổng quan nền nông nghiệp Hoa Kỳ
2.1.2. Quan niệm về trợ cấp theo pháp luật Mỹ
Tại mục 771 (5)(D) Luật thuế Hoa Kỳ có quy định về trợ cấp có thể đối kháng. Tại
mục 771 (5)(B)(i),(ii) và (iii) thì trợ cấp được chia làm 2 loại:
Thứ nhất, Trợ cấp trực tiếp là việc Chính phủ cung cấp vốn trực tiếp cho nhà sản xuất
hay xuất khẩu một mặt hàng hóa nhất định.
Thứ hai, Trợ cấp gián tiếp là việc Chính phủ chi trả cho một quỹ vốn để cung ứng một
khoản tài chính hoặc ủy thác hoặc chỉ đạo một đơn vị tư nhân thực hiện việc cung ứng tài
chính, những trợ cấp này phải là những trợ cấp riêng biệt.
2.1.3. Thực tiễn của Hoa Kỳ áp dụng các quy định của WTO về chống trợ cấp
2.1.3.1. Lƣợc sử chính sách trợ cấp của Mỹ
2.1.3.2.Chính sách trợ cấp trong Luật Nông trại 2002 của Hoa Kỳ
Luật nông trại 2002 quy định rất chi tiết về trợ cấp, trong đó trợ cấp thường được chia
làm hai loại như sau: (i) Trợ cấp trực tiếp; (ii) Trợ cấp nghịch kỳ.
Chính phủ trợ giúp nông dân bằng cách hoàn lại một phần tiền mua bảo hiểm, nghĩa
là một hình thức trợ cấp gián tiếp. Ngoài bảo hiểm, còn quy định Chính phủ phải thiết lập
nhiều chương trình giúp nông dân vay tiền. Ngoài những chương trình cho vay của Chính
phủ, còn có thêm hệ thống tín dụng nông trại gồm có các ngân hàng và hiệp hội tín dụng.
2.3.1. Tổng quan nền nông nghiệp Nhật Bản
2.3.2. Tình hình hỗ trợ nông nghiệp của Nhật Bản
Trong chế độ trợ cấp nông nghiệp, Nhật Bản sẽ áp dụng chính sách trợ cấp mới thông
qua chính sách thuế thu nhập ưu đãi cho người nông dân và chỉ trợ cấp cho những người đáp
ứng đủ một số điều kiện nhất định về diện tích trồng trọt. Ngoài ra, chính sách giảm thiểu sự
can thiệp của Chính phủ trong nông nghiệp sẽ được xem xét theo hướng xóa bỏ dần sự điều
tiết của Chính phủ trong sản xuất nông nghiệp.
2.3.3. Trợ cấp trong nƣớc
Nhật Bản là nước đứng đầu về chính sách can thiệp vào cơ chế thị trường. Tính ước
lượng trợ cấp sản xuất trong năm 2009 là 59%. Chính sách lúa gạo của Nhà nước vẫn ít nhiều
nằm trong sự quản lý, rà soát vì một số nông dân không tuân thủ việc cắt giảm sản xuất vẫn
được hưởng lợi từ chính sách hỗ trợ cho nông dân của Chính phủ.
2.4. Thực tiễn của một số nƣớc Châu Á khác áp dụng các quy định của WTO về chống
trợ cấp trong nông nghiệp
2.4.1. Trung Quốc
2.4.1.1. Tổng quan nền nông nghiệp Trung Quốc
2.4.1.2. Tình hình trợ cấp nông nghiệp của Trung Quốc
Năm 2007 Trung Quốc trợ cấp trực tiếp cho hàng trăm triệu nông dân một khoản trị
giá 5,6 tỷ USD tăng 63% so với năm 2006. Nông dân sẽ được trợ cấp về giống và vật tư nông
nghiệp như phân bón và thuốc trừ sâu. Trung Quốc đã xem xét lại chính sách trợ cấp, bao
gồm cả lãi suất Ngân hàng Nhà nước ở mức thấp. Trung Quốc cam kết sẽ hạn chế và giảm
dần các hình thức trợ cấp này.
Hiện nay mức trợ cấp của Trung Quốc chỉ đạt khoảng 2%, gia nhập WTO với danh
nghĩa là nước đang phát triển có nghĩa là vẫn có quyền nâng cao trợ giá đối trong lĩnh vực
nông nghiệp.
2.4.2. Thái Lan
2.4.2.1. Tổng quan nền nông nghiệp Thái Lan
2.4.2.2. Tình hình trợ cấp cho nông nghiệp của Thái Lan
Trợ cấp giá nông sản đã gia tăng hàng năm so với mức trung bình 50% (19 tỷ Baht/
năm) mà Thái Lan đã cam kết với WTO. Nông sản được trợ giá chủ yếu là gạo, cao su, trái
2.5.3.3. Trợ cấp bị cấm
Trợ cấp trong phạm vi trợ cấp bị cấm đang tập trung vào một số nông sản và đối
tượng được hưởng lợi chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh.
2.5.4. Trợ cấp trong nƣớc theo khuôn khổ WTO giai đoạn sau 11/01/2007
2.5.4.1. Trợ cấp không bị đối kháng
Việt Nam thực hiện chương trình dịch vụ vào các trợ cấp như: Các dịch vụ chung, dự trữ
quốc gia vì mục tiêu an toàn lương thực, Trợ cấp lương thực trong nước, trợ cấp đầu tư nhằm
hỗ trợ việc điều chỉnh cơ cấu tài chính hoặc cơ sở vật chất của người sản xuất để giải quyết
những bất lợi về cơ cấu…
Thực tế trong hai năm 2007 – 2008 do khả năng tài chính hạn hẹp nên Việt Nam chưa có
điều kiện áp dụng một số hình thức trợ cấp sau:
(i) Chương trình an toàn và bảo hiểm thu nhập cho nông dân; (ii) Trợ cấp điều chỉnh cơ
cấu thông qua các chương trình hỗ trợ về hưu cho người sản xuất;
(iii) Thanh toán theo các chương trình môi trường.
2.5.4.2. Trợ cấp có thể bị đối kháng
Việt Nam là nước đang phát triển do vậy được hưởng các quy chế đối xử đặc biệt và
khác biệt dành cho nước đang phát triển (S&D). Trong phần chính sách trợ cấp trong nước,
Việt Nam áp dụng một số chính sách để khuyến khích phát triển sản xuất là các biện pháp
miễn trừ cam kết cắt giảm, không thuộc diện bị đánh thuế đối kháng:
Việt Nam sử dụng hình thức trợ cấp thông qua hỗ trợ lãi suất đầu tư bằng cách: Chính
phủ bù phần chênh lệch giữa lãi suất thị trường và lãi suất ưu đãi cho ngân hàng thương mại
đối với các khoản vay tín dụng đầu tư trung và dài hạn cho các dự án xây dựng cơ sở chế biến
nông sản, trồng cây lâu năm theo quy định của Chính phủ.
- Trợ cấp đầu vào cho những người sản xuất có thu nhập thấp hoặc thiếu tư liệu sản
xuất thông qua cho vay tín dụng ngắn hạn ưu đãi dành cho nông dân nghèo; ngân sách Nhà
nước để hỗ trợ cước phí vận chuyển các mặt hàng thiết yếu và vật tư nông nghiệp cho các
vùng miền núi và vùng sâu vùng xa bằng cách: Nhà nước thành lập mạng lưới ngân hàng
dành cho người nghèo cho phép người nghèo được tiếp cận đến các khoản vay ngắn hạn có
lãi suất ưu đãi tương đương 50% lãi suất thị trường để phát triển sản xuất nông nghiệp.
- Trợ cấp nhằm khuyến khích từ bỏ cây thuốc phiện thông qua ngân sách Nhà nước hỗ
nước thành viên đã áp dụng trợ cấp xuất khẩu thì phải cắt giảm cả về khối lượng được nhận
trợ cấp và giá trị trợ cấp.
Việt Nam đã cam kết không trợ cấp xuất khẩu ngay khi gia nhập. Cam kết này không
làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của Việt Nam theo các quy định hiện hành của WTO.
Điều này được hiểu là Việt Nam sẽ được hưởng điều khoản S&D trong trợ cấp xuất khẩu và
chỉ được áp dụng trong hai hình thức:
(i) Trợ cấp nhằm giảm chi phí tiếp thị xuất khẩu, bao gồm chi phí vận chuyển, nâng
phẩm cấp và các chi phí chế biến khác, chi phí vận tải quốc tế và cước phí; (ii) Phí vận tải nội
địa và cước phí của các chuyến hàng xuất khẩu do Chính phủ cung cấp hoặc ủy quyền với
điều kiện thuận lợi hơn so với các chuyến hàng nội địa.
Trong quá trình tìm giải pháp và nâng cao hiệu quả của sức cạnh tranh, trợ cấp là con
dao hai lưỡi. nếu không khéo xử lý về cường độ và thời gian áp dụng, trợ cấp có thể gây tâm
lý ỷ lại, trông chờ và tạo sức ỳ lớn, chưa kể tới những hiện tượng lệch lạc theo kiểu “lách luật
để hưởng trợ cấp”. Kết quả điều tra của dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam cho
thấy, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực là những yếu tố quan trọng nhất tác động đến quyết
định đầu tư của doanh nhân trong nước và ngoài nước.
2.6. Vụ tranh chấp giữa Brazil và Hoa Kỳ trong vụ kiện về trợ cấp bông – Việc áp dụng
Hiệp định trợ cấp đối với lĩnh vực nông nghiệp
Vụ tranh chấp trong WTO này về cơ bản tập trung vào hai vấn đề.
Một là liệu các trợ cấp này có bị cấm theo Hiệp định nông nghiệp không.
Hai là nếu có thì liệu những trợ cấp có thể bị kiện thuộc Hiệp định trợ cấp SCM này
có gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích thương mại của Brazil không.
Phán quyết đưa ra một số nội dung sau:
Trước tiên, hai trợ cấp (thanh toán trực tiếp và thanh toán hợp đồng sản xuất linh
hoạt) không thuộc diện Hộp xanh lá cây vì các biện pháp này đưa ra hạn chế về việc sử dụng
đất. Tuy nhiên, các biện pháp này không gây thiệt hại nghiêm trọng. Do ảnh hưởng đó nên
Mỹ bị yêu cầu khai báo lại về trợ cấp trong nước trong một số năm gần đây.
Thứ hai, ba loại trợ cấp (thanh toán hỗ trợ tổn thất thị trường, thanh toán cho chi phí
đảo lộn chu kỳ và thanh toán khoản vay để tiếp cận thị trường) bị kết luận là có gây tổn thất
nghiêm trọng do nó tạo tác động tiêu cực thông qua việc gây áp lực đáng kể lên giá bông của
trợ cấp trong nông nghiệp
- Xác định vị trí pháp lý phù hợp của hệ thống quy phạm pháp luật về chống trợ cấp
nông nghiệp trong pháp luật Việt Nam.
- Khoa học pháp lý cũng cần phải làm sáng tỏ những đặc điểm, những yêu cầu cần
điều chỉnh đối các quy định về chống trợ cấp trong nông nghiệp.
Vì vậy, khoa học pháp lý Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng được vai trò là
cơ sở lý luận và cơ sở khoa học xây dựng nên một hệ thống quy phạm pháp luật về chống trợ
cấp trong nông nghiệp hoàn chỉnh.
3.1.3.2. Hệ thống quy phạm pháp luật về chống trợ cấp trong nông nghiệp chƣa có vị trí
tƣơng xứng, chƣa đầy đủ
Do vậy, pháp luật về chống trợ cấp trong nông nghiệp cũng cần hoàn chỉnh để “không
kém hiệu lực hơn các quy định của pháp luật quốc tế cũng như luật trong nước của các nước
có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh”
3.1.3.3. Công tác thực thi pháp luật về chống trợ cấp trong nông nghiệp luôn gắn liền
với xây dựng pháp luật
Hiện tại việc thực thi pháp luật về chống trợ cấp trong nông nghiệp còn nhiều hạn chế
trên các phương diện: Hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện
pháp luật, hoạt động tuân thủ pháp luật của các chủ thể nhưng hơn hết là Việt Nam hầu như
chưa có vụ kiện nào về trợ cấp trong nông nghiệp do vậy chưa có nhiều kinh nghiệm trong
vấn đề này.
3.2. Những đề xuất để sử dụng có hiệu quả các chính sách trợ cấp đƣợc phép
Việt Nam cần phải dự kiến các công cụ bảo hộ mới phù hợp với luật thương mại quốc
tế. Biện pháp chống trợ cấp vừa là công cụ bảo hộ hợp pháp cho nhà sản xuất trong nước, vừa
đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng với các nhà sản xuất nước ngoài. Biện pháp chống trợ cấp
cần được xem xét trong tổng thể các biện pháp bảo hộ khác, đặc biệt là tự vệ và thuế chống
bán phá giá.
Sử dụng thuế chống trợ cấp chỉ có thể được áp dụng sau khi có đầy đủ thông tin về trợ
cấp và có tổ chức bộ máy hoàn thiện để có thể áp dụng thuế chống trợ cấp một cách hiệu quả.
Việt Nam cũng cần quan tâm và xem xét đến yếu tố thuế trong đó bao gồm cách thức
và tỷ lệ thu thuế nông nghiệp sao cho phù hợp với các quy định của WTO và các khoản trợ
hợp tác kinh tế trong thời kỳ toàn cầu hóa, Tổ chức thương mại thế giới WTO được thành lập
để giải quyết các vấn đề trở ngại chung giữa các quốc gia nói chung và giải quyết các tranh
chấp thương mại, trong đó có các vụ tranh chấp về trợ cấp trong nông nghiệp nói riêng.
Trong quá trình hoạt động của mình, WTO đã xây dựng một hệ thống pháp luật để điều chỉnh
những quan hệ giữa các quốc gia về chống trợ cấp trong nông nghiệp như: Hiệp định Nông
nghiệp, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng, Phụ lục 2 quy định thỏa thuận về
các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp… Những quy định này không
những là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp khi các bên đưa vụ tranh chấp giải quyết
tại Cơ quan Giải quyết tranh chấp của WTO mà còn có giá trị như khuôn mẫu về kỹ thuật lập
pháp để xây dựng các văn bản pháp luật trong nước chặt chẽ, phù hợp. Tuy nhiên, cùng với
quá trình phát triển, vấn đề xây dựng các văn bản pháp luật về phát triển nông nghiệp đặc biệt
là chống trợ cấp trong nông nghiệp cần có nhiều nỗ lực cố gắng nhằm hoàn thiện hơn hệ
thống pháp luật về chống trợ cấp trong nông nghiệp quốc gia. Hiện nay vấn đề này bước đầu
đã được quan tâm và dần được quy định trong các văn bản pháp lý như: Pháp lệnh số
22/2004/PL – UBTVQH 11 ngày 20/8/2004 về chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào
Việt Nam. Nghị định số 89/2005/NĐ – CP của Chính phủ ngày 11/7/2005 quy định chi tiết
thi hành một số điều của pháp lệnh Chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam.
Các văn bản pháp luật khác như Nghị định số 04/2006/NĐ – CP về thành lập và quy định
chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống
trợ cấp và tự vệ. Thông tư số 106/2005/TT – BTC về hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế
chống bán phá giá, chống trợ cấp và các khoản bảo đảm thanh toán thuế chống bán phá giá,
thuế chống trợ cấp… Nhờ những nỗ lực cố gắng như vậy nên thời gian qua pháp luật Việt
Nam về chống trợ cấp trong nông nghiệp đã góp phần quan trọng hoàn thiện pháp luật Việt
Nam. Tuy nhiên, cùng với những kết quả đã đạt được, pháp luật Việt Nam về chống trợ cấp
trong nông nghiệp còn một số hạn chế đó là:
- Còn thiếu những công trình nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện làm cở sở khoa học
pháp lý để xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật về chống trợ cấp trong nông nghiệp đáp
ứng được yêu cầu của thực tiễn.
- Chưa quan tâm thỏa đáng đến vị trí, vai trò của công tác xây dựng, ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật về chống trợ cấp trong nông nghiệp; Các quy phạm pháp luật chống
3. Nguyễn Như Bình (2009), "Thể chế thương mại thế giới", Nhà xuất bản Văn hóa thông
tin, Hà Nội.
4. Hoàng văn Châu (2009), "Thương mại Việt Nam hậu WTO", Nhà xuất bản Lao động xã
hội, Hà Nội.
5. Đặng Đình Đào (2010), "Kinh tế Việt Nam 3. năm gia nhập WTO", Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
6. Nguyễn Quốc Đạt (2005), "Giải đáp các vấn đề về thủ tục gia nhập WTO" Nhà xuất bản
Thế giới, Hà Nội.
7. Nguyễn Tấn Dũng (2004), "Việt Nam sẵn sàng gia nhập Tổ chức thương mại thế giới",
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
8. Đào Thị Thu Giang (2009), "Biện pháp vượt rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa xuất
khẩu của Việt Nam", Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
9. Nguyễn Thanh Hà (2006), "Kinh nghiệm của Trung Quốc trên con đường gia nhập WTO"
Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội.
10. Nguyễn Hồng Hạnh (2003), "WTO những quy tắc cơ bản", Nhà xuất bản Khoa học xã
hội, Hà Nội.
11. Hoàng Phước Hiệp (2006), "Báo cáo tổng thuật kết quả rà soát, so sánh giai đoạn II
(2001. - 2005) các văn bản pháp luật Việt Nam với yêu cầu của BTA, quy định của WTO",
Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội.
12. Hoàng Phước Hiệp (2009), "Luật lệ của WTO về thương mại hàng hóa và cam kết của
Việt Nam với WTO", Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội.
13. Trương Duy Hòa (2009), "Kinh tế Thái Lan một số chính sách công nghiệp hóa hướng
về xuất khẩu" Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội.
14. Vũ Huy Hoàng (2009), "Hai năm Việt Nam gia nhập WTO, đánh giá tác động hội nhập
kinh tế quốc tế", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
15. Trần Quốc Hùng (2002), "Nhận diện nền kinh tế toàn cầu hóa", Nhà xuất bản trẻ, Hồ Chí
Minh.
16. Trần Quốc Hùng (2003), "Trung Quốc và ASEAN trong hội nhập: Thử thách mới, cơ hội
mới", Nhà xuất bản Trẻ, Hồ Chí Minh.
17. Nguyễn Mạnh Hùng (2004), "Sổ tay về phát triển thương mại và WTO" Nhà xuất bản
33. Nguyễn Văn Thường (2008), "Kinh tế Việt Nam năm 2007. năm đầu tiên gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới", Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
34. Nguyễn Thị Thu Trang (2009), "Cẩm nang doanh nghiệp về WTO và cam kết WTO của
Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
35. Nguyễn Từ (2008), "Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông
nghiệp Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
36. Lương Văn Tự (2007), "Tiến trình gia nhập WTO" Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.
37. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (2007), “Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết
lần thứ 4” Nhà xuất bản Chính Trị Quốc gia, Hà Nội.
38. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2007), “Việt Nam - WTO những cam kết liên quan
đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn và doanh nghiệp,” Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
39. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), " Quyết định 3615/QĐ - BNN - HTQT
ngày 6/11/2007. của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành chương trình hành
động của Chính phủ khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO giai
đoạn 2007. - 2010".
40. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2005), "Các tiêu chuẩn dịch vụ của WTO và
tác động của chúng tới ngành nông nghiệp Việt Nam", Hà Nội.
41. Bộ Tài chính (2005), "Thông tư số 106/2005/TT - BTC của Bộ Tài chính ngày
05/12/2005. về hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và
các khoản đảm bảo thanh toán thuê chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp".
42. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2005), "WTO và ngành nông nghiệp Việt
Nam", Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
43. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), "Các cam kết của Việt Nam với WTO
trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn". Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội.
44. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), "Nghị quyết số 612/QĐ - BNN - HTQT
ngày 9/3/2007. của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành chương trình hành
động Hội nhập Kinh tế quốc tế ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007. - 2010)".
45. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2009), "Báo cáo tình hình hỗ trợ nông nghiệp
giai đoạn 2007. - 2008", Hà Nội.
ngày 08/3/2004. về việc bảo vệ chống lại hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp từ các nước
không phải là thành viên Liên minh Châu Âu (được sửa đổi từ Quy định số 2026/1997. ngày
6/10/1997. và quy định số 1973/2002. ngày 05/11/2002".
61. Ngân Hàng thế giới (2007), "Báo cáo phát triển thế giới Tăng cường cho nông nghiệp
phát triển", Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội.
62. Nhật Bản "Pháp luật về trợ cấp và các biện pháp đối kháng".
63. Nhóm công tác về các vấn đề kỹ thuật Việt Nam - Hoa Kỳ (2010), "Thực tiễn về thuế
chống trợ cấp của Hoa kỳ" và “Các quy định về luật chống bán phá giá, chống trợ cấp của
Hoa Kỳ và những yêu cầu tuân thủ”, Hà Nội.
64. Quốc hội (2001), "Hiến pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. (sửa
đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10. ngày 25/12/2001. của Quốc Hội)".
65. Quốc hội (2005), "Bộ luật Dân sự".
66. Thái Lan "Pháp luật về trợ cấp và các biện pháp đối kháng".
67. Trung Quốc "Pháp luật về trợ cấp và các biện pháp đối kháng".
68. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2004), "Việt Nam sẵn sàng gia nhập
Tổ chức thương mại thế giới", Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
69. Ủy Ban thường vụ Quốc hội (2004), "Pháp lệnh số 22/2004/PL - UBTVQH11ngày
20/8/2004. về Chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam".
70. Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2005), "Các văn kiện cơ bản của Tổ chức
thương mại thế giới", Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội,
71. Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2006), "Các văn kiện gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới WTO của Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
72. Viện Nghiên cứu thương mại (2008), “Kinh tế thương mại Việt Nam trong điều kiện
hình thành khu vực mậu dịch tự do Asean + 3. và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới”,
Hà Nội.
73. WTO "Hiệp định các biện pháp tự vệ".
74. WTO "Hiệp định Nông nghiệp".
75. WTO "Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
1994".
76. WTO "Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng".