Mở rộng cho vay đối với hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt nam - Pdf 11

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
..........................................................................................................................................................
2
LỜI MỞ ĐẦU
..........................................................................................................................................................
3
CHƯƠNG 1: MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG
CHÍNH SÁCH
..........................................................................................................................................................
5..........................................................................................................................................................
1.1. Tổng quan về Ngân hàng Chính sách
.......................................................................................................................................
5
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Chính sách
............................................................................................................................
5
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Chính sách
............................................................................................................................
6
1.2. Hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách
.......................................................................................................................................
10
1.2.1. Đặc điểm của hộ nghèo
.......................................................................................................................................
10
1.2.2. Các quan điểm về cho vay đối với người nghèo
.......................................................................................................................................
12
1.2.3. Hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của NHCS
.......................................................................................................................................

2.2.2. Nhu cầu về vốn của các hộ nghèo ở Việt Nam
.......................................................................................................................................
48
.......................................................................................................................................

2.2.3.Hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của NHCSXH Việt nam
- 2 -
.......................................................................................................................................
51
2.3. Đánh giá quá trình mở rộng cho vay đối với hộ nghèo ở NHCSXH Việt nam
.......................................................................................................................................
56
2.3.1. Kết quả đạt được trong mở rộng cho vay đối với hộ nghèo ở NHCSXH
Việt nam
.......................................................................................................................................
56
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân trong mở rộng cho vay đối với hộ nghèo
ở NHCSXH Việt nam
.......................................................................................................................................
59
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
Ở NHCSXH VIỆT NAM
..........................................................................................................................................................
68
3.1. Chiến lược xoá đói giảm nghèo của NHCSXH Việt nam trong thời gian tới
.......................................................................................................................................
68
3.2. Giải pháp nhằm mở rộng cho vay đối với hộ nghèo ở NHCSXH Việt nam
.......................................................................................................................................
71

12
Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
.......................................................................................................................................
39
Bảng 1: Cơ cấu vốn của NHNg và NHCSXH
.......................................................................................................................................
42
Bảng 2: Dư nợ cho vay các đối tượng chính sách của NHNg và NHCSXH
- 4 -
.......................................................................................................................................
45
Bảng 3: Các chỉ tiêu đo lường mức độ mở rộng cho vay đối với hộ nghèo tại NHCSXH
.......................................................................................................................................
56
Bảng 4: Dự tính tình trạng nghèo đói của Việt nam tới năm 2010
.......................................................................................................................................
67
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nghèo đói là tình trạng chung của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia
đang phát triển, trong đó có Việt nam. Theo tính toán, trong thời gian tới, tỷ lệ
nghèo đói của Việt nam theo chuẩn nghèo quốc tế vẫn đạt ở mức khoảng 30%,
đây được đánh giá là bộ phận rất khó thoát nghèo, chủ yếu là các hộ nông dân từ
nông thôn di cư ra thành thị và các nhóm dân tộc thiểu số.
Nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo được xác định là nhiệm vụ mang tính chất xã
hội hóa ở Việt nam, song hiện nay đã được giao cho một tổ chức trực tiếp chịu
trách nhiệm, đó là Ngân hàng Chính sách xã hội Việt nam. Sự ra đời của
NHCSXH có ý nghĩa to lớn, lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta đã thiết lập được
một kênh tín dụng chính thức hỗ trợ cho hộ nghèo có vốn sản xuất, tạo công ăn
việc làm, tăng thu nhập, từng bước giúp hộ nghèo làm quen với nền sản xuất hàng

nghèo của NHCS.
- Phạm vi nghiên cứu: Họat động cho vay đối với hộ nghèo của NHCSXH Việt
nam. Đánh giá hoạt động cho vay hộ nghèo đến thời điểm 31/12/2003.
4. Kết cấu của đề tài:
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận được kết cấu bao gồm ba chương chính:
Chương 1: Cho vay đối với hộ nghèo của ngân hàng chính sách
Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay đối với hộ nghèo ở NHCSXH Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với hộ nghèo của NHCSXH Việt nam.
- 6 -
- 7 -
CHƯƠNG 1
MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA
NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Chính sách:
Quá trình phát triển của các trung gian tài chính gắn liền với quá trình phát
triển kinh tế. Các ngân hàng như ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng đầu
tư (NHĐT), các tố chức tài chính phi ngân hàng (Quỹ đầu tư, Công ty tài chính…)
đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thu hút tiết kiệm từ dân cư và tài trợ cho
phát triển, hạn chế rủi ro và tăng khả năng sinh lời cho các hoạt động kinh tế. Mục
tiêu chung của các tổ chức này là an toàn và sinh lời. Nhưng bên cạnh đó cũng có
một số tổ chức hoạt động với mục tiêu và đối tượng phục vụ đặc biệt, sinh lời
không phải là mục tiêu hàng đầu cần đạt tới, ngân hàng Chính sách (NHCS) là
một tổ chức trong số này.
Ngân hàng Chính sách là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là
cho vay theo chính sách và kế hoạch của Nhà nước (cho vay chính sách).
Là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, NHCS là công cụ để các cơ quan
quản lý trực tiếp thực hiện các chính sách của mình. Các kế hoạch và chính sách
của Nhà nước nhằm mục tiêu đạt được sự tăng trưởng bền vững cho đất nước như
phát triển cao và ổn định, nhiều công ăn việc làm, phân phối thu nhập công bằng,

hàng, đồng thời các quyết định cho vay của ngân hàng phải dựa trên tính hiệu quả
của các món vay.
Là công cụ để Nhà nước thực hiện các chính sách và kế hoạch của mình,
NHCS cũng thực hiện các hoạt động cơ bản như các NHTM.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Chính sách:
NHCS là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ thực hiện các hoạt động
cơ bản là huy động vốn, cho vay và các hoạt động khác.
1.1.2.1. Huy động vốn:
Hoạt động huy động vốn của NHCS xuất phát từ tính chất của các món cho
vay mà ngân hàng cung ứng. Đó là các món vay có tỷ lệ sinh lời thấp (cho vay xoá
- 9 -
đói giảm nghèo, tạo việc làm…), thời gian dài (cho vay đối với đầu tư phát triển),
rủi ro cao nên yêu cầu đối với ngân hàng là phải huy động vốn có lãi suất tương
đối thấp, thời gian sử dụng dài và chịu đựng rủi ro. Vốn cho hoạt động của ngân
hàng bao gồm:
Vốn có nguồn gốc từ Nhà nước:
Nhà nước hỗ trợ vốn cho NHCS thể hiện vai trò chủ sở hữu của Nhà nước
đối với ngân hàng, cung ứng vốn khi ngân hàng mới đi vào hoạt động (vốn ban
đầu) và bổ sung trong quá trình hoạt động khi cần thiết (vốn chủ sở hữu). Nguồn
này một phần được ngân hàng sử dụng để hình thành nên các tài sản cố định của
ngân hàng (trụ sở, phương tiện làm việc và đi lại, thiết bị…), một phần hòa cùng
các nguồn khác để cho vay.
Một phần từ chi NSNN hàng năm cho đầu tư phát triển, từ phát hành trái
phiếu Chính phủ trong và ngoài nước …được chuyển sang thành vốn của ngân
hàng. Tuy vậy, đây là nguồn eo hẹp, phải phân chia cho nhiều mục tiêu của đất
nước nên NHCS chi nên dựa vào nguồn này khi mới đi vào hoạt động hoặc khi
gặp khó khăn trong thanh toán. Vốn từ nguồn này kết hợp với vốn huy động trên
thị trường tạo ra vốn hỗn hợp có lãi suất phù hợp với các món cho vay chính sách
của ngân hàng. Trong một số trường hợp, vốn hỗ trợ của Nhà nước có thể thực
hiện bởi NHTW thông qua các nghiệp vụ mua lại các khoản nợ, bảo lãnh của ngân

phủ đảm bảo khả năng thanh toán đối với các nguồn mà ngân hàng huy động vì
ngân hàng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên nếu không được Chính phủ
đảm bảo khả năng thanh toán thì việc huy động vốn của những ngân hàng này sẽ
rất khó khăn.
1.1.2.2. Hoạt động cho vay:
Cho vay theo các chương trình, chính sách (cho vay chính sách) của Nhà
nước là hoạt động chủ yếu của NHCS, bao gồm các khoản cho vay bắt buộc để hỗ
trợ chính sách kinh tế của Chính phủ và cho vay các hoạt động không đáp ứng các
tiêu chí thương mại nhưng lại có tác dụng chính trị, xã hội quan trọng.
Đối với loại thứ nhất thường bao gồm các khoản cho vay như: (1) Cho vay
các ngành công nghiệp có tầm chiến lược quốc gia quan trọng; (2) Cho vay các
công trình tuy khả thi về tài chính nhưng vì quá lớn hoặc thời gian hoàn vốn quá
dài (các công trình đường cao tốc, đường dây tải điện…); (3) Cho vay các doanh
nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ nhưng chưa thể ra quyết định giải thể vì chưa trả
hết nợ…
- 12 -
Loại thứ hai gồm các khoản cho vay (1) Cho vay các hộ gia đình nghèo để
duy trì sản xuất và ổn định đời sống; (2) Cho vay các hộ nông dân là nạn nhân của
thiên tai, bão lụt nhằm khôi phục sản xuất; (3) Cho vay học sinh, sinh viên có
hoàn cảnh khó khăn để đảm bảo điều kiện học tập và tốt nghiệp…
Những khoản cho vay trên tuy khác nhau về đối tượng, thể loại nhưng đều
có đặc điểm chung nhất là không đáp ứng tiêu chí thương mại trong hoạt động của
ngân hàng. Cụ thể, khi thực hiện các khoản cho vay này, ngân hàng có thể không
có lợi nhuận tức là doanh thu từ cho vay không đủ bù đắp các chi phí bỏ ra.
Như vậy, cho vay chính sách là hoạt động của ngân hàng không đáp ứng
các tiêu chí kinh doanh thương mại, mang lại ít hoặc không mang lại lợi nhuận
cho ngân hàng, nhưng các ngân hàng được chỉ định bắt buộc phải thực hiện nhằm
hỗ trợ các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội của bộ máy quản lý Nhà nước.
Theo tính chất của đối tượng vay, cho vay chính sách có thể chia làm ba loại:
- Cho vay xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là các hộ nông dân nghèo, đây là một

thể cho vay cho các đối tượng theo các nguyên tắc tín dụng và qua đó sẽ bù đắp
một phần chi phí của ngân hàng. Qua đó, vốn sẽ được quay vòng, tạo điều kiện
mở rộng đối tượng được hưởng lợi, góp phần cho các chính sách của đất nước
được thực hiện trong giai đoạn dài.
Bên cạnh hai hoạt động cơ bản trên, giống như các NHTM khác, cùng với
hoạt động huy động và sử dụng vốn, NHCS cũng thực hiện một số hoạt động khác
như: bảo lãnh, trung gian thanh toán, tư vấn…
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NHCS
1.2.1. Đặc điểm của hộ nghèo:
Theo định nghĩa của WB, nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương
diện: thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo ra thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo
tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất
lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và khó khăn tới những người có khả năng
giải quyết, cảm giác bị xỉ nhục, không được người khác tôn trọng
- 14 -
Thứ nhất, hộ nghèo chủ yếu là các hộ nông dân. Hộ nông dân nghèo với
trình độ học vấn thấp và khả năng tiếp cận đến các thông tin và kỹ năng chuyên
môn bị hạn chế, có ít đất canh tác hoặc không có đất nhưng có rất ít cơ hội có thể
tạo ra thu nhập ổn định từ các hoạt động phi nông nghiệp. Những người sống dưới
ngưỡng nghèo thường là thành viên của những hộ có chủ hộ là nông dân tự do.
Thứ hai, hộ nghèo là những hộ không có khả năng có được một dạng thu
nhập ổn định nào đó từ công ăn việc làm hay từ các khoản chuyển nhượng của
phúc lợi xã hội. Tại nhiều quốc gia, nhiều vùng, chỉ tiêu “có một công việc tốt”
hay “có lương hưu” là những tiêu chuẩn để xếp các hộ vào các nhóm sung túc hơn
mặc dù thu nhập từ những nguồn này thường không cao song ý nghĩa chủ yếu của
chúng là sự ổn định và đảm bảo.
Thứ ba, hộ nghèo là những hộ có trình độ học vấn thấp. Do vậy, bản thân
các hộ nghèo đều hiểu được rằng trình độ học vấn là chìa khoá quan trọng để thoát
nghèo. Ở thành thị, các thành viên trong hộ cần phải có trình độ cao hơn mức phổ
thông cơ sở thì mới có cơ hội kiếm được một công việc ổn định; ở nông thôn, các

sống ở khu vực cư trú hiện tại, các tệ nạn xã hội như nghiện hút, trộm cắp làm cho
các thành viên trong hộ cảm thấy không an toàn…
Cơ hội là một trong những kênh quan trọng nhất để giảm nghèo. Cơ hội có
thể được xem là sự kết hợp giữa hai yếu tố: sở hữu tài sản (hoặc ít nhất được tiếp
cận với tài sản) và tạo ra lợi nhuận từ tài sản đó. Nhiều khi tài sản chính của người
nghèo chỉ là sức lao động, nhưng nếu không có những hoạt động sử dụng sức lao
động đó để tạo ra thu nhập tốt thì một mình tài sản này không đủ để đảm bảo cho
sự tồn tại của hộ. Đó là các hoạt động sản xuất kinh doanh dù ở bất kỳ quy mô
nào, nhưng để tiến hành các hoạt động này phải có vốn. Thiếu vốn kết hợp với
thiếu cách làm ăn hiệu quả sẽ dẫn đến nghèo đói.
Sơ đồ 1: VÒNG LUẨN QUẨN CỦA ĐÓI NGHÈO.
- 16 -
Thiếu vốn
Thiếu khả
năng đầu tư
Năng suất lao
động thấp
Tiết kiệm
thấp
Thu nhập
thấp
Tăng vốn là một cách hữu hiệu để tăng khả năng đầu tư, từ đó năng suất lao động
được tăng lên, khi đó thu nhập tăng lên là điều kiện tiên quyết để vòng đói nghèo
được xoá bỏ và cũng là mục tiêu chính của xoá đói giảm nghèo.
1.2.2. Các quan điểm về cho vay đối với người nghèo:
Vốn có mối liên hệ mật thiết với phát triển kinh tế, tuy nhiên, mức độ tác
động của phương thức cung ứng vốn đến quá trình phát triển và giảm nghèo đói
lại chủ yếu dựa vào các chính sách mà Chính phủ ở các nước áp dụng. Các chính
sách khác nhau xuất phát từ các quan điểm khác nhau về hoạt động cho vay đối
với người nghèo. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, mỗi quan điểm

những hậu quả tiêu cực và đôi khi nó còn làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn
trước. Tỷ lệ lãi suất cho vay thấp không thể tạo được mức lãi suất hấp dẫn đối với
người tiết kiệm, ít nhất, tỷ lệ lãi suất cho vay phải tương đương với lãi suất tiết
kiệm cộng với các chi phí giao dịch. Chi phí giao dịch ở các nước đang phát triển
rất cao. Tỷ lệ lãi suất thấp cũng gây ra cầu về vốn vay tăng vượt quá cung, kéo
theo các hoạt động tiêu cực để được vay vốn, có xu hướng khuyến khích hỗ trợ
những người giàu và sản xuất lớn hơn là người nghèo, do mối quan hệ cá nhân,
khả năng hối lộ quan chức, ưu tiên cấp vốn và hoàn trả...
Thứ ba, tỷ lệ hoàn trả thấp. Tín dụng trợ giá thường có tỷ lệ hoàn trả rất
thấp, nghiên cứu thực tế cho thấy trừ một vài trường hợp cá biệt, tỷ lệ không trả
được của các chương trình cho vay trợ giá ở các nước đang phát triển dao động từ
40% đến 95%. Nguyên nhân của tình trạng này là (i) không có khả năng trả được
nợ (ví dụ như mất mùa); (ii) không muốn trả (do nhận thức rằng tiền vay là một
khoản trợ cấp hoặc được hưởng chính sách). Trong đó nguyên nhân thứ hai phổ
biến ở các nước đang phát triển hơn là nguyên nhân đầu.
Quan điểm này khá phổ biến và được áp dụng rộng rãi tại các nước đang
phát triển trong những năm 60 – 70 và vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngày nay
trong các chính sách cho vay đối với người nghèo ở một số nước.
1.2.2.2. Các quan điểm tiếp cận mới:
Nội dung chủ yếu của các quan điểm này:
- 18 -
Thứ nhất, tài chính như một quá trình trung gian. Nếu quan điểm cổ điển
coi vốn là một đầu vào quan trọng của sản xuất thì quan điểm mới lại nhấn mạnh
vốn là yếu tố trung gian của quá trình sản xuất. Vai trò của thị trường tài chính là
trung gian chuyển các nguồn lực từ người và khu vực “dư thừa” sang người và
khu vực có nhu cầu về các nguồn lực đó. Quan điểm này ủng hộ chính sách lãi
suất cao, cho rằng lãi suất có chức năng quan trọng trong việc bù đắp cho những
người tiết kiệm cũng như trong việc phân bổ vốn. Lãi suất là giá cả của vốn, cũng
giống như giá cả của các hàng hoá khác trên thị trường, lãi suất cần giữ ở mức
phản ánh được các chi phí thực chứ không phải là công cụ cho mục tiêu chính trị

vốn trong các khu vực khác nhau. Điều này dẫn đến xu hướng thiên về kỹ thuật sử
dụng ít lao động, do đó ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng dư thừa lao động ở các
nước đang phát triển, đồng thời dẫn đến việc quyết định đầu tư vào các dự án có
mức sinh lời thấp mà đáng lẽ ra đã bị bác bỏ. Cuối cùng, lãi suất dưới mức cân
bằng tạo ra dư cầu vốn vay kéo theo cần thiết có sự cung cấp hạn chế vốn cho vay,
điều này đến lượt nó lại mở lối cho những cân nhắc phi kinh tế hoặc mang tính
chính trị trong việc phân bổ số vốn khan hiếm. Kết cục là những người nghèo,
những người vốn là mục tiêu của các chương trình tài trợ lãi suất thấp lại bị thay
thế bằng nhữngngươì giàu có quan hệ chính trị tốt hơn.
Thứ tư, người nghèo vẫn có thể gửi tiền tiết kiệm. Hiện nay người ta đã
công nhận rằng ngay cả những người nghèo nhất cũng có cái gì đó để tiết kiệm.
Mặc dù thu nhập của họ không đều đặn hoặc khả năng của họ chỉ giới hạn ở tiết
kiệm những khoản nho nhỏ mỗi lần, thực tế cho thấy rằng họ có thể và họ thực sự
tiết kiệm. Hầu hết các hộ nghèo đều có một vài nhu cầu dành giụm tiền, ví dụ như
để dự phòng cho thu nhập tiền mặt theo mùa, gây dựng một quỹ dự phòng tài
chính, tiết kiệm cho các khoản cho tiêu tiền mặt định kỳ (học phí cho con cái) hay
thậm chí là tiết kiệm để mua tài sản có giá trị cao và đầu tư. Việc tiết kiệm đối với
người nghèo có vai trò vô cùng quan trọng trong việc gây dựng một quỹ dự phòng
tài chính và vì vậy trong việc giảm nguy cơ dễ bị tổn thương. Kinh nghiệm cho
thấy lãi suất chỉ là một trong hàng loạt các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu về các
dịch vụ tiết kiệm, các yếu tố khác bao gồm:
o An toàn: gửi tiết kiệm có an toàn không?
o Thuận tiện: gửi và rút tiền tiết kiệm có dễ dàng hay không?
- 20 -
o Khả năng chuyển đổi: tiền gửi tiết kiệm có được rút bằng tiền mặt một cách
nhanh chóng hay không?
o Bí mật: số dư tiền gửi của cá nhân có bị tiết lộ hay không?
Thứ năm, về tài sản thế chấp. Người nghèo, đặc biệt là nông dân nghèo
luôn vấp phải những khó khăn trong vấn đề tài sản thế chấp khi đi vay. Quan điểm
này cho rằng, vấn đề trên có thể được giải quyết bằng “tín chấp” thông qua sự đảm

mùa, biến động bất lợi của giá nông sản…)
Việc thanh toán đầy đủ một khoản vay sẽ tạo cơ hội cho lần vay tiếp theo
và được vay với số tiền lớn hơn. Đây được coi là biện pháp khuyến khích khách
hàng trả nợ đúng hạn vì đối với ngân hàng, việc thu hồi vốn cho vay và quay vòng
vốn là một trong những nguyên tắc cơ bản.
Các bộ tín dụng thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, tất cả các thủ tục
của ngân hàng thể hiện sự “thân thiện” với khách hàng, thiết kế mẫu đơn xin vay
đơn giản và giới hạn thời gian từ khi đề đơn đến khi giải ngân chỉ trong vòng vài
ngày. Tạo bầu không khí thoải mái và thân mật, khi khách hàng cảm thấy thoải
mái thì cán bộ tín dụng dễ được cung cấp nhưng thông tin cần thiết. Đồng thời,
- 22 -
thân thiện với khách hàng sẽ giúp ngân hàng biết được kế hoạch sản xuất của hộ
và hộ cần giúp đỡ gì từ phía ngân hàng.
Nguyên tắc 2: Các món vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi.
Thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi hay ít nhất là gốc vay là nguyên tắc cơ bản
trong hoạt động của bất kỳ loại hình ngân hàng nào, thông qua một số phương pháp:
- Trách nhiệm liên đới: trách nhiệm này được thể hiện thông qua hình thức cho
vay theo nhóm thông qua sử dụng sức ép của những người trong cùng một nhóm
như là sự thay thế cho tài sản thế chấp. Sự chậm trả của một thành viên thường có
nghĩa là việc cho vay tiếp đối với các thành viên khác trong nhóm sẽ bị đình chỉ
đến khi nào món vay được hoàn trả. Đây là mô hình được áp dụng rộng rãi trong
cho vay đối với người nghèo, những người không thể đáp ứng các đòi hỏi về thế
chấp truyền thống của hầu hết các NHTM.
- Khuyến khích khách hàng: hứa cho vay, số tiền vay tăng dần và mức giá ưu đãi
cho những khách hàng trả tiền vay đúng hạn.
Kinh nghiệm của những ngân hàng thành công trong thu hồi vốn cho thấy:
các ngân hàng quản lý khách hàng hoàn trả các khoản vay thông qua thế chấp tài
sản hoặc qua nhóm liên đới thống nhất, có những chính sách khuyến khích bằng
tiền hoặc có những hình phạt đối với cả nhân viên và khách hàng nhằm khuyến
khích trả đúng hạn, có hệ thống quản lý thông tin hoàn hảo, điều này cho phép

khoản vay của nhóm. Trong trường hợp nếu trong tháng có một thành viên gặp
khó khăn và không có khả năng hoàn trả vốn vay thì các thành viên khác phải chịu
trách nhiệm hoàn trả phần vốn vay, nếu không thì khoản vay của cả nhóm sẽ bị coi
là quá hạn. Sau đó, thành viên gặp khó khăn sẽ hoàn trả lại số vốn các thành viên
đã trợ giúp. Theo phương thức này, NHCS sẽ không phải theo dõi thu hồi nợ quá
hạn hàng kỳ mà nhóm vay vốn sẽ chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ này. Ở một
số nước như Bangladesh (Ngân hàng Grameen), nhóm này được gọi là trung tâm.
Hàng tuần, cán bộ tín dụng của ngân hàng sẽ xuống làm việc, trao đổi với nhóm
và thực hiện giải ngân vốn cho vay.
Như đã phân tích, cho vay theo nhóm có ưu điểm quan trọng là sử dụng sức
ép của những thành viên trong nhóm thay thế cho tài sản thế chấp vì các thành
viên không muốn bỏ rơi các thành viên khác trong nhóm hoặc không muốn phả
- 24 -
chịu bất kỳ hình phạt nào vì sự chậm trả. Nếu thấy nguyên nhân chậm trả của
thành viên là hợp pháp (gia đình có người bị ốm, bị mất trộm…) thì các thành viên
khác sẽ sẵn sàng giúp đỡ cho đến khi khó khăn được giải quyết. Một lợi thế khác
của cho vay theo nhóm là giảm chi phí giao dịch của ngân hàng thông qua chuyển
việc xem xét và giám sát cho nhóm.
Nhược điểm của cho vay theo nhóm là tác động dây chuyền dẫn đến mất khả
năng hoàn trả của nhóm bởi các nguyên nhân khách quan như mất mùa, hạn hán…
o Cho vay cá nhân, từng hộ:
Đối tượng cho vay vẫn là hộ nghèo, nhưng không thực hiện cho vay theo
nhóm như trên. Do khách hàng không có tài sản thế chấp nên ngân hàng chấp
nhận tài sản thế chấp không mang tính truyền thống như các NHTM (ví dụ: cày,
bừa, máy khâu…) hoặc bảo lãnh của bên thứ ba (họ hàng, bạn bè, tổ chức xã
hội…). Vì giá trị của những tài sản này không cao và không dễ bán để thu nợ nên
ngân hàng không thu nợ từ việc bán hay thu hồi tài sản thế chấp mà chỉ sử dụng
tài sản thế chấp để tránh việc lạm dụng vốn vay. Để xác định quy mô vốn cho vay,
cán bộ tín dụng thường tiến hành lập một bản luân chuyển vốn đơn giản của hộ.
Một công cụ quan trọng mà ngân hàng sử dụng để đảm bảo an toàn cho vay là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status