GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO Ở NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM - Pdf 74

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO Ở NGÂN
HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM
3.1. CHIẾN LƯỢC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA NHCSXH VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN TỚI
Theo chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia áp dụng cho
giai đoạn 2000-2005, đầu năm 2000, Việt nam có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm
17,2% tổng số hộ trong cả nước (cả nước có khoảng 16,3 triệu hộ). Trong giai đoạn
tới (2006-2010), Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ LĐ, TB&XH xây dựng chuẩn
nghèo theo hướng tiếp cận dần với chuẩn nghèo quốc tế thì dự kiến hộ thuộc diện đói
nghèo giai đoạn này chiếm khoảng 30% tổng số hộ (khoảng 4,9 triệu hộ). Hơn nữa,
theo tính toán, những người vẫn nghèo tới năm 2010 ở Việt Nam chính là bộ phận “rất
khó thoát nghèo”, khoảng 37% người nghèo sẽ là dân tộc thiểu số, trong khi các dân
tộc thiểu số chỉ chiếm có 13% dân số, đồng thời, rất nhiều trong số hộ nghèo sẽ là
những hộ di cư ra thành thị.
Bảng 4: DỰ TÍNH TÌNH TRẠNG NGHÈO ĐÓI CỦA VIỆT NAM TỚI NĂM 2010
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tỷ lệ hộ nghèo theo
tiêu chuẩn quốc tế (%)
Tỷ lệ hộ nghèo theo
tiêu chuẩn quốc gia (%)
Số hộ nghèo theo tiêu
chuẩn quốc gia
(triệu hộ)
30
17
2,7
30
17
2,7
29
25

Trước tình hình đó, ngân hàng cần mở rộng các hình thức huy động vốn trong
xã hội và tranh thủ các nguồn vốn từ nước ngoài. NHCSXH hình thành và phát triển
các công cụ để huy động được các nguồn lực trong toàn dân, đảm bảo sự nghiệp xóa
đói giảm nghèo trở thành sự nghiệp của toàn xã hội. Tiến tới từng bước thực hiện bản
chất vốn có của một trung gian tài chính là “đi vay để cho vay” với phương châm
trước mắt coi trọng các nguồn vốn có lãi suất thấp và coi trọng công tác thu nợ - thu
lãi, nâng cao dần vòng quay vốn để ngày càng nhiều hộ nghèo được tiếp cận với vốn
của ngân hàng. Triệt để khai thác mọi nguồn vốn trong dân cư nhằm tiến dần đến sự
độc lập tương đối trong hoạt động của ngân hàng. Qua đó, đảm bảo sự bền vững và ổn
định trong hoạt động của ngân hàng, để vốn của ngân hàng đến với hộ nghèo càng
nhiều và càng lâu dài càng tốt. Đồng thời, nâng cao vị thế của ngân hàng trong hệ
thống tài chính của đất nước và trong con mắt của các tổ chức nước ngoài. NHCSXH
tiến tới là tổ chức tín dụng đầu tiên bền vững thật sự, cung cấp tín dụng cho người
nghèo một cách hiệu quả.
Về dư nợ cho vay hộ nghèo, ngân hàng tính toán trên cơ sở dự tính về nhu cầu
vốn của hộ nghèo tới năm 2010: dư nợ cho vay bình quân là từ 4-7 triệu đồng/hộ, tổng
dư nợ cho vay hộ nghèo đạt 9.500 tỷ đồng đến 18.000 tỷ đồng. Căn cứ vào nhu cầu
của hộ nghèo để cho vay vốn nhằm đảm bảo nguyên tắc vốn đến tay người cần vốn,
đạt hiệu quả kinh tế, chính trị và xã hội. Để làm được điều này, trong thời gian tới,
NHCSXH cấp cơ sở sẽ phối hợp chặt chẽ với các tổ chức liên quan tại địa phương để
tiến hành thu thập thông tin, đánh giá và phân tích khách hàng, trên cơ sở đó, tổng hợp
và xây dựng kế hoạch cho vay và huy động vốn. Thực tế cho thấy, việc thiếu thông tin
về khách hàng nhiều khi được xem như là một nguyên nhân vì sao hộ nghèo không
dám vay vốn ngân hàng và vì sao họ được coi là những khách hàng vay bấp bênh
nhất. Mặt khác, ngân hàng kiên quyết không để bất kỳ người nào, tổ chức nào xâm
tiêu tiền vốn của ngân hàng. Đối với các trường hợp có khả năng trả nợ nhưng cố tình
chây ỳ, NHCSXH kết hợp với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương có các biện pháp
thích hợp, kể cả biện pháp cưỡng chế để thu hồi nợ. Đảm bảo nguồn vốn xóa đói giảm
nghèo được bảo toàn và phát triển.
Tổ chức triển khai tốt hơn các hoạt động tuyên truyền, quảng bá về NHCSXH

thời gian tới, ngân hàng cần tiếp tục tập trung huy động các nguồn vốn có lãi suất
thấp. Các nguồn vốn ngân hàng có được từ cho, tặng, tiền gửi tự nguyện không phải
trả lãi hoặc lãi suất thấp. Xóa đói giảm nghèo là sự nghiệp có tính chất xã hội hóa, là
nhiệm vụ thường xuyên của các cấp chính quyền, đoàn thể, các cơ quan, tổ chức và cá
nhân. NHCSXH nên phát động các phong trào, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ
biến để tranh thủ các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng, vốn quyên góp, ủng
hộ, tiền gửi không lấy lãi của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Các khoản tiết kiệm
trong cộng đồng người nghèo cũng cần được ngân hàng quan tâm hơn. Nguồn này tuy
không lớn nhưng là vốn ổn định và có chi phí thấp (theo tính toán của NHCSXH lãi
suất nguồn này vào khoảng 0,26%/tháng). Để huy động được nguồn này, ngân hàng
quy định bắt buộc đối với tất cả các thành viên trong Tổ tiết kiệm và vay vốn phải
thực hiện đóng góp tiết kiệm ban đầu và tiết kiệm định kỳ hàng tháng, khoản tiền này
được hưởng lãi suất không kỳ hạn (0,15%/tháng). Cuối cùng, NHCSXH đẩy mạnh
huy động vốn từ các tổ chức nước ngoài như vốn ODA (lãi suất từ 0,06%-
0,17%/tháng, thời gian sử dụng dài, có thời gian ân hạn), vốn cấp theo các dự án…
Về lâu dài, các nguồn vốn theo lãi suất thị trường sẽ quyết định khả năng bền
vững của ngân hàng. Để huy động được các nguồn vốn này thì NHCSXH phải chấp
nhận cạnh tranh với các NHTM khác để chiếm lĩnh thị phần, tức là các vấn đề về lãi
suất huy động, phương thức huy động, năng lực, uy tín của ngân hàng sẽ là yếu tố
quyết định. Ít ai có tiền nhàn rỗi lại chịu gửi vào NHCSXH trong khi lãi suất của các
tổ chức khác cao hơn rất nhiều. Tuy vậy, thực tế cũng cho thấy rằng, lãi suất chỉ là
một trong hàng loạt yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu về các dịch vụ tiết kiệm. Các yếu
tố khác bao gồm: sự an toàn, tính thuận tiện, bảo hiểm tiền gửi, quyền lợi của người
gửi tiền được xác định rõ ràng... cũng quan trọng không kém trong việc thu hút tiền
tiết kiệm của khách hàng. Song, NHCSXH dường như vẫn chưa quan tâm đúng mức
đến những khía cạnh này, công cụ huy động không đa dạng, thiếu độ tin cậy đối với
khách hàng, thiếu khả năng tiếp cận, hoạt động quảng cáo nghèo nàn và thiếu tinh
thần trách nhiệm là những yếu tố hạn chế khả năng huy động tiết kiệm của ngân hàng.
Khi ngân hàng tiếp xúc với khách hàng chỉ là những người đi vay thì họ thường bỏ qua thông tin hữu ích
về hành vi tiết kiệm của những khách hàng này. Những thông tin đó có thể giúp đánh giá độ tin cậy đối với khách

của Chính phủ thì chắc chắn sẽ được đông đảo dân chúng hưởng ứng tham gia. Một
nguồn vốn mà NHCSXH đang bỏ qua là vay vốn từ Bảo hiểm xã hội. Theo tính toán,
ngân hàng có thể vay khoảng 1.000 tỷ đồng từ BHXH trong thời gian khoảng 60
tháng.
Các hình thức khuyến khích người gửi tiền như phát hành xổ số, trao giải
thưởng, tặng quà... đã tỏ ra rất thành công trong việc khuyến khích tăng tiết kiệm tại
các nước đang phát triển, nên các hình thức này cũng cần được NHCSXH nghiên cứu,
xem xét. Ví dụ trường hợp của Ngân hàng nhân dân Inđonexia sau khi khảo sát đã
thấy rằng người gửi tiết kiệm thích có cơ hội nhận được quà khi họ mở tài khoản tiết
kiệm nên ngân hàng đã thực hiện trao các phần thưởng may rủi cho mỗi một sản phẩm
tiết kiệm của họ. Các hình thức sổ xố cần được thiết kế theo hướng khuyến khích tiền
gửi không kỳ hạn cũng như tiền gửi trung và dài hạn. Các nỗ lực huy động tiết kiệm
cần được hỗ trợ bởi quá trình quảng cáo, trong đó nhấn mạnh đến: khả năng tiếp cận
dễ dàng, đơn giản, tính an toàn của khoản tiền gửi (ở nhiều nước khách hàng thỉnh
thoảng được tới xem két sắt nơi tiền của họ được giữ), dễ rút tiền khi cần thiết…Bộ
mặt của ngân hàng thông qua việc trang trí ở Hội sở, các chi nhánh và cách thức đón
tiếp khách hàng của nhân viên ngân hàng cũng có tác động quan trọng đến việc đánh
giá của khách hàng về tiềm lực của ngân hàng. Hiện nay, khi mà NHCSXH chỉ mới
thành lập đến các phòng giao dịch ở cấp huyện thì có thể áp dụng hình thức ngân hàng
lưu động thông qua việc cử nhân viên ngân hàng định kỳ đến tận các thôn, bản để giới
thiệu sản phẩm và thu tiền tiết kiệm…NHCSXH có thể tham khảo áp dụng hình thức
khoán mức tiền tiết kiệm huy động được từng thời kỳ đối với mỗi cán bộ ngân hàng
tại các chi nhánh như đã được áp dụng đối với hệ thống NHNo. Qua đó sẽ kích thích
tính năng động, tự chủ của các chi nhánh, cán bộ. Nếu chi nhánh huy động được đủ
vốn với chi phí thấp thì sẽ được trích một phần vào thu nhập của chi nhánh.
Cuối cùng, ngân hàng nên quan tâm đến hình thức truyền miệng vì đây là hình
thức quảng cáo đơn giản mà hiệu quả nhất. Để đảm bảo tính xác thực trong việc
truyền miệng, dịch vụ huy động tiết kiệm phải đúng hạn, chu đáo và trung thực. Tiền
của các hộ nghèo là tiền họ kiếm được từ mồ hôi và nước mắt, nếu ngân hàng mất uy
tín một lần thì việc lôi kéo hộ đó đến với ngân hàng lần sau sẽ không dễ dàng.

ngành, lĩnh vực ưu tiên và không có sự kiểm soát chặt chẽ sẽ gây ra lãng phí trong sử
dụng các nguồn lực. Cho vay với lãi suất ưu đãi tạo nên lượng cầu quá tải và có thể
dẫn đến hình thức phân chia khẩu phần thông qua quan hệ cá nhân giữa khách hàng và
cán bộ tín dụng. Cuối cùng, lãi suất cho vay ưu đãi quá mức cần thiết và vượt quá khả
năng của NSNN thì gánh nặng tài chính sẽ đè lên vai Nhà nước. Ngược lại, nếu cho
vay theo lãi suất thị trường thì trong thời kỳ đầu, hộ nghèo sẽ gặp nhiều khó khăn về
tài chính vì trong sân chơi của nền kinh tế thị trường, họ là người yếu thế hơn cả, do
vậy vấn đề kích thích đầu tư cho vùng nghèo, lĩnh vực cần ưu tiên sẽ không thực hiện
được.
Do vậy, đối với hộ nghèo, trong thời kỳ đầu cần phải được vay vốn theo lãi suất
ưu đãi nhưng ưu đãi ở mức độ nào thì cần phải tính toán cho hợp lý và trong tương lai
cần phải hướng họ theo lãi suất thị trường. Tuy nhiên, trước hết, vị trí của lãi suất ưu
đãi trong công thức trên cần phải được điều chỉnh lại như sau:
Lãi sất huy động vốn trên thị trường < lãi suất cho vay ưu đãi < lãi suất cho vay trên
thị trường.
Theo tính toán, lãi suất ưu đãi hiện nay chủ yếu ở mức 0,5%/tháng, nếu điều
chỉnh lên mức 0,6%/tháng, cao hơn lãi suất huy động vốn hiện nay của các NHTM,
thì với mức tăng 0,1%/tháng này và với mức dư nợ năm 2003 là khoảng 12.000 tỷ
đồng thì trong một năm, NHCSXH tăng thu được 144 tỷ đồng, NSNN sẽ giảm được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status