Mục lục
Danh mục Các từ viết tắt, sơ đồ và bảng biểu
2
Lời mở đầu
3
Chơng 1: mở rộng Cho vay đối với hộ nghèo của ngân hàng
chính sách
5
1.1. Tổng quan về Ngân hàng Chính sách
5
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Chính sách
5
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Chính sách
6
1.2. Hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách
10
1.2.1. Đặc điểm của hộ nghèo
10
1.2.2. Các quan điểm về cho vay đối với ngời nghèo
12
1.2.3. Hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của NHCS
17
1.3. Mở rộng cho vay đối với hộ nghèo của NHCS
24
1.3.1. Các chỉ tiêu đo lờng mức độ mở rộng cho vay đối với hộ nghèo của NHCS
24
1.3. 2. Các nhân tố ảnh hởng đến mở rộng cho vay đối với hộ nghèo của NHCS
27
Chơng 2: Thực trạng cho vay đối với hộ nghèo ở NHCSXH
Việt Nam
35
71
3.3. Kiến nghị nhằm mở rộng cho vay đối với hộ nghèo tại NHCSXH Việt nam
81
Kết luận
88
danh mục tàI liệu tham khảo
89
- 2 -
Danh mục CáC Từ VIếT TắT
NHNN Ngân hàng Nhà nớc
NHTM Ngân hàng thơng mại
NHCSXH Ngân hàng Chính sách xã hội
NHCS Ngân hàng Chính sách
NHNo Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt nam
NHNg Ngân hàng Phục vụ Ngời nghèo
QTDND Quỹ Tín dụng Nhân dân
Bộ LĐ, TB&XH Bộ Lao động, thơng binh và xã hội
UBND ủy ban nhân dân
DNNN Doanh nghiệp Nhà nớc
ODA Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
WB Ngân hàng Thế giới
ADB Ngân hàng Phát triển Châu á
HĐQT Hội đồng quản trị
NGO Tổ chức phi Chính phủ
Danh mục sơ đồ, bảng biểu
Sơ đồ 1: Vòng luẩn quẩn của đói nghèo
12
Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
39
nguyên tắc tín dụng kết hợp với một số u đãi nhằm đa vốn đến đúng đối tợng là hộ
nghèo cần vốn, bảo toàn và quay vòng vốn, đảm bảo sự bền vững của ngân hàng
là một trách nhiệm không đơn giản đối với NHCSXH Việt nam.
Với mục đích phân tích thực trạng cho vay hộ nghèo của NHCSXH từ khi là
Ngân hàng Phục vụ ngời nghèo, đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá
trình cho vay này, trên cơ sở đó đa ra giải pháp và đề xuất kiến nghị nhằm mở
rộng cho vay đối với hộ nghèo của ngân hàng trong thời gian tới, tác giả chọn
đề tài: Mở rộng cho vay đối với hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách xã hội
Việt nam.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Đề tài làm rõ các vần đề lý thuyết về hộ nghèo, hoạt động cho vay đối với hộ
nghèo của NHCS và các chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng cho vay hộ nghèo của
NHCS.
- Đánh giá thực trạng mở rộng cho vay hộ nghèo của NHCSXH Việt nam thông
qua các chỉ tiêu lý thuyết và phân tích các hạn chế và nguyên nhân trong mở rộng
cho vay hộ nghèo của ngân hàng.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng cho vay đối với hộ nghèo ở
NHCSXH Việt nam.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
- 4 -
- Đối tợng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động cho vay hộ
nghèo của NHCS.
- Phạm vi nghiên cứu: Họat động cho vay đối với hộ nghèo của NHCSXH Việt
nam. Đánh giá hoạt động cho vay hộ nghèo đến thời điểm 31/12/2003.
4. Kết cấu của đề tài:
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận đợc kết cấu bao gồm ba chơng chính:
Chơng 1: Cho vay đối với hộ nghèo của ngân hàng chính sách
Chơng 2: Thực trạng mở rộng cho vay đối với hộ nghèo ở NHCSXH Việt Nam.
Chơng 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với hộ nghèo của NHCSXH Việt nam.
- 5 -
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, phân phối lại thu nhập của quốc
gia. Mặt khác, vốn của ngân hàng thờng có nguồn gốc từ NSNN, tỷ trọng vốn huy
động trên thị trờng nhỏ.
NHCS là tổ chức tài chính thực hiện tài trợ u tiên có hạn chế của Nhà nớc
nhằm thực hiện các công cuộc đầu t đặc biệt, các hoạt động nhằm mục tiêu phi lợi
nhuận càng nhiều thì tính hỗ trợ càng lớn. Để đảm bảo sự tồn tại bền vững của
mình, NHCS đợc sự hỗ trợ lớn từ phía Nhà nớc (cung cấp vốn u đãi, cấp bù lãi
- 6 -
suất, bảo lãnh cho các khoản đi vay và cho vay của ngân hàng, không phải trích dự
trữ bặt buộc, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp) và đợc đặt dới sự kiểm soát của
các cơ quan quản lý có thẩm quyền. Các hỗ trợ này rất quan trọng, cho phép ngân
hàng đạt đợc các mục tiêu sinh lời cùng với các mục tiêu kinh tế, xã hội khác, hỗ
trợ càng lớn thì phạm vi hoạt động và ảnh hởng của ngân hàng càng rộng và ngợc
lại. Hoạt động của ngân hàng có sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nớc, trong nhiều
trờng hợp các cơ quan quản lý đã can thiệp trực tiếp vào mọi quyết định cho vay
của ngân hàng, gây tâm lý ỷ lại, không chịu trách nhiệm của cán bộ ngân hàng.
Các khoản trợ giúp của Nhà nớc nếu không có cơ chế sử dụng và kiểm soát tốt th-
ờng là đối tợng của các hoạt động tham nhũng và lãng phí. Các NHCS thành công
đều dựa trên xây dựng mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý Nhà nớc và ngân
hàng sao cho đảm bảo Nhà nớc có hỗ trợ cho ngân hàng, đồng thời các quyết định
cho vay của ngân hàng phải dựa trên tính hiệu quả của các món vay.
Là công cụ để Nhà nớc thực hiện các chính sách và kế hoạch của mình,
NHCS cũng thực hiện các hoạt động cơ bản nh các NHTM.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Chính sách:
NHCS là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ thực hiện các hoạt động
cơ bản là huy động vốn, cho vay và các hoạt động khác.
1.1.2.1. Huy động vốn:
Hoạt động huy động vốn của NHCS xuất phát từ tính chất của các món cho
vay mà ngân hàng cung ứng. Đó là các món vay có tỷ lệ sinh lời thấp (cho vay xoá
đói giảm nghèo, tạo việc làm), thời gian dài (cho vay đối với đầu t phát triển), rủi
mà ngân hàng không dễ thực hiện và nhiều khi những điều kiện này làm cho vốn
đắt lên và hiệu quả sử dụng thấp đi.
- 8 -
Huy động trên thị trờng trong và ngoài nớc:
Vốn NHCS huy động trên thị trờng bao gồm huy động tiền gửi, tiết kiệm
của dân c và đi vay. Ngân hàng khuyến khích mở tài khoản tiền gửi và tiết kiệm
đối với các tổ chức và cá nhân có vốn tạm thời nhàn rỗi cha sử dụng. Đặc biệt, các
NHCS thờng tập trung vận động các tổ chức lớn nh bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tiền
gửi, các dự án, NHTM, công ty tài chính gửi tiền vào ngân hàng dới hình thức tiền
gửi thanh toán, tiền gửi không hởng lãi hoặc hởng lãi suất thấp. Ngân hàng phát
hành trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng có bảo lãnh của Chính phủ để huy động vốn
trong và ngoài nớc. Một số NHCS hiện nay phụ thuộc rất lớn vào vốn vay từ
NHTW, từ các tổ chức tín dụngĐây là nguồn vốn có vai trò quan trọng đối với
ngân hàng, đánh giá vị thế của ngân hàng trên thị trờng tài chính.
Để huy động đợc nguồn này, chính sách huy động của ngân hàng phải tính
đến khả năng cạnh tranh với các NHTM khác liên quan đến các vấn đề về lãi suất
huy động, hình thức huy động, uy tín của ngân hàngMột số NHCS đợc Chính
phủ đảm bảo khả năng thanh toán đối với các nguồn mà ngân hàng huy động vì
ngân hàng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên nếu không đợc Chính phủ
đảm bảo khả năng thanh toán thì việc huy động vốn của những ngân hàng này sẽ
rất khó khăn.
1.1.2.2. Hoạt động cho vay:
Cho vay theo các chơng trình, chính sách (cho vay chính sách) của Nhà nớc
là hoạt động chủ yếu của NHCS, bao gồm các khoản cho vay bắt buộc để hỗ trợ
chính sách kinh tế của Chính phủ và cho vay các hoạt động không đáp ứng các tiêu
chí thơng mại nhng lại có tác dụng chính trị, xã hội quan trọng.
Đối với loại thứ nhất thờng bao gồm các khoản cho vay nh: (1) Cho vay các
ngành công nghiệp có tầm chiến lợc quốc gia quan trọng; (2) Cho vay các công
trình tuy khả thi về tài chính nhng vì quá lớn hoặc thời gian hoàn vốn quá dài (các
công trình đờng cao tốc, đờng dây tải điện); (3) Cho vay các doanh nghiệp Nhà
tế thị trờng, không chỉ ở các nớc đang phát triển mà ở cả các nớc t bản phát triển.
Đó là do:
Thứ nhất, do yêu cầu của chính sách kinh tế, xã hội. Với vai trò quản lý xã
hội về mọi mặt, bộ máy các cơ quan quản lý Nhà nớc phải hoạch định các chính
sách kinh tế, xã hội hợp lý nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối, đảm
bảo sự tồn tại cho một số ngành, lĩnh vực cần thiết cho xã hội nhng bản thân nó lai
không mang lại lợi nhuận; bảo đảm cho xã hội ổn định, không có chênh lệch giàu
nghèo quá đáng tức là phải đầu t phát triển những ngành kinh tế then chốt đồng
thời có chiến lợc xoá đói giảm nghèo hợp lý. Trong phạm vi chức năng, nghiệp vụ
của mình, các tổ chức kinh tế xã hội của Nhà nớc, trong đó có NHTM quốc doanh
phải có trách nhiệm thực hiện chính sách, yêu cầu của Chính phủ.
Thứ hai, do tính chất nguồn vốn và yêu cầu quay vòng vốn. Trong nhiều tr-
ờng hợp, Nhà nớc không thể dùng quỹ NSNN để cấp phát trực tiếp cho doanh
nghiệp, hộ gia đình. Với các nguồn vốn đợc cấp và tự huy động, các NHTM có thể
cho vay cho các đối tợng theo các nguyên tắc tín dụng và qua đó sẽ bù đắp một
phần chi phí của ngân hàng. Qua đó, vốn sẽ đợc quay vòng, tạo điều kiện mở rộng
đối tợng đợc hởng lợi, góp phần cho các chính sách của đất nớc đợc thực hiện
trong giai đoạn dài.
- 10 -
Bên cạnh hai hoạt động cơ bản trên, giống nh các NHTM khác, cùng với
hoạt động huy động và sử dụng vốn, NHCS cũng thực hiện một số hoạt động khác
nh: bảo lãnh, trung gian thanh toán, t vấn
1.2. Hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của NHCS
1.2.1. Đặc điểm của hộ nghèo:
Theo định nghĩa của WB, nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phơng
diện: thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo ra thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo
tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thơng trớc những đột biến bất lợi,
ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và khó khăn tới những ngời có khả năng giải
quyết, cảm giác bị xỉ nhục, không đợc ngời khác tôn trọng
Thứ nhất, hộ nghèo chủ yếu là các hộ nông dân. Hộ nông dân nghèo với
Thứ năm, các hộ nghèo thờng là nạn nhân của tình trạng nợ nần. Rất nhiều
hộ nghèo rơi vào tình trạng nợ nần do phải đi vay để trang trải các khoản chi tiêu
khẩn cấp nh chi phí cho y tế, hoặc đi vay để đầu t vào một vụ kinh doanh bị thất bại.
Nợ nần gây ra áp lực kinh tế và tâm lý nặng nề cho các thành viên trong hộ.
Cuối cùng, hộ nghèo là hộ rất dễ bị tổn thơng. Nguy cơ dễ bị tổn thơng
bởi những khó khăn theo thời vụ, bởi những đột biến xảy ra với hộ gia đình và
những cuộc khủng hoảng xảy ra với cộng đồng là một khía cạnh quan trọng của
nghèo đói. Những hộ nghèo ít vốn hoặc ít đất đai (hoặc cả hai) và những hộ chỉ có
khả năng trang trải đợc các chi tiêu lơng thực và phi lơng thực thiết yếu khác đều
rất dễ bị tổn thơng trớc mọi biến cố khiến họ hoặc phải bỏ thêm chi phí hoặc phải
giảm thu nhập. Tuy vậy, tình trạng không an toàn không chỉ đơn thuần là vấn đề
kinh tế. Do thiếu thông tin về các quy hoạch phát triển đô thị và giải phóng mặt
bằng nên nhiều hộ không thể biết đợc thời gian họ còn đợc phép sống ở khu vực c
trú hiện tại, các tệ nạn xã hội nh nghiện hút, trộm cắp làm cho các thành viên trong
hộ cảm thấy không an toàn
Cơ hội là một trong những kênh quan trọng nhất để giảm nghèo. Cơ hội có
thể đợc xem là sự kết hợp giữa hai yếu tố: sở hữu tài sản (hoặc ít nhất đợc tiếp cận
với tài sản) và tạo ra lợi nhuận từ tài sản đó. Nhiều khi tài sản chính của ngời
nghèo chỉ là sức lao động, nhng nếu không có những hoạt động sử dụng sức lao
động đó để tạo ra thu nhập tốt thì một mình tài sản này không đủ để đảm bảo cho
sự tồn tại của hộ. Đó là các hoạt động sản xuất kinh doanh dù ở bất kỳ quy mô
nào, nhng để tiến hành các hoạt động này phải có vốn. Thiếu vốn kết hợp với thiếu
cách làm ăn hiệu quả sẽ dẫn đến nghèo đói.
Sơ đồ 1: Vòng luẩn quẩn của đói nghèo.
Tăng vốn là một cách hữu hiệu để tăng khả năng đầu t, từ đó năng suất lao động đ-
ợc tăng lên, khi đó thu nhập tăng lên là điều kiện tiên quyết để vòng đói nghèo đợc
xoá bỏ và cũng là mục tiêu chính của xoá đói giảm nghèo.
1.2.2. Các quan điểm về cho vay đối với ngời nghèo:
- 12 -
Thiếu vốn
rất ít có khả năng thành công. Từ giữa thập kỷ 70, một khối lợng lớn ấn phẩm bình
luận về chính sách cho vay ở các nớc đang phát triển đã xuất hiện.
Thứ nhất, nhận định rằng ngời nghèo không có khả năng tiết kiệm, và không
hởng ứng những khuyến khích hoặc cơ hội để tiết kiệm là không đúng. Trên thực tế,
ngời nghèo vẫn có thể tiết kiệm và đầu t mặc dù hình thức tiết kiệm và đầu t của họ
không cần thiết dới dạng có tính lỏng cao (bằng tiền mặt), mà bằng hình thức tài
sản có thể tạo đợc thu nhập khá hơn và chống đợc rủi ro lạm phát. Nhiều cuộc
nghiên cứu thực tế đã tiến hành ở Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, ấn
Độ chứng minh rằng ngời nghèo có khả năng tiết kiệm lớn với mức lãi suất thực tế
dơng.
Thứ hai, kết quả không mong đợi của lãi suất thấp. Tỷ lệ lãi suất thấp tạo ra
những hậu quả tiêu cực và đôi khi nó còn làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn tr ớc.
Tỷ lệ lãi suất cho vay thấp không thể tạo đợc mức lãi suất hấp dẫn đối với ngời tiết
kiệm, ít nhất, tỷ lệ lãi suất cho vay phải tơng đơng với lãi suất tiết kiệm cộng với
các chi phí giao dịch. Chi phí giao dịch ở các nớc đang phát triển rất cao. Tỷ lệ lãi
suất thấp cũng gây ra cầu về vốn vay tăng vợt quá cung, kéo theo các hoạt động
tiêu cực để đợc vay vốn, có xu hớng khuyến khích hỗ trợ những ngời giàu và sản
- 13 -
xuất lớn hơn là ngời nghèo, do mối quan hệ cá nhân, khả năng hối lộ quan chức, u
tiên cấp vốn và hoàn trả
Thứ ba, tỷ lệ hoàn trả thấp. Tín dụng trợ giá thờng có tỷ lệ hoàn trả rất thấp,
nghiên cứu thực tế cho thấy trừ một vài trờng hợp cá biệt, tỷ lệ không trả đợc của
các chơng trình cho vay trợ giá ở các nớc đang phát triển dao động từ 40% đến
95%. Nguyên nhân của tình trạng này là (i) không có khả năng trả đợc nợ (ví dụ
nh mất mùa); (ii) không muốn trả (do nhận thức rằng tiền vay là một khoản trợ cấp
hoặc đợc hởng chính sách). Trong đó nguyên nhân thứ hai phổ biến ở các nớc đang
phát triển hơn là nguyên nhân đầu.
Quan điểm này khá phổ biến và đợc áp dụng rộng rãi tại các nớc đang phát
triển trong những năm 60 70 và vẫn còn ảnh hởng mạnh mẽ đến ngày nay trong
các chính sách cho vay đối với ngời nghèo ở một số nớc.
cho tiền cũng không giải quyết đợc vấn đề một cách triệt để vì hàng hoá có thể đợc
đổi lấy tiền và sau đó tiền đợc sử dụng cho các mục tiêu khác.
Thứ ba, đảm bảo lãi suất thực dơng. Tỷ lệ lãi suất cho vay cao sẽ đảm bảo
cho các tổ chức tài chính có khả năng chi trả đợc mọi khoản chi phí phát sinh. Hệ
thống tài chính tự lập yêu cầu tỷ lệ lãi suất cho vay phải đủ để trang trải 3 yếu tố
sau: (i) lãi suất trả cho ngời gửi tiết kiệm (ii) chi phí giao dịch bình quân (iii) và
chi phí rủi ro dự phòng trang trải cho khả năng không trả đợc nợ. Vì vậy, giảm chi
phí giao dịch là vấn đề nan giải bậc nhất. Một yếu tố quan trọng khác trong chi phí
giao dịch đó là chi phí hành chính. Về phía cho vay, lãi suất thấp làm méo mó tơng
quan về giá giữa các cơ hội đầu t thông qua dánh giá thấp chi phí thực của vốn
trong các khu vực khác nhau. Điều này dẫn đến xu hớng thiên về kỹ thuật sử dụng
ít lao động, do đó ảnh hởng tiêu cực đến tình trạng d thừa lao động ở các nớc đang
phát triển, đồng thời dẫn đến việc quyết định đầu t vào các dự án có mức sinh lời
thấp mà đáng lẽ ra đã bị bác bỏ. Cuối cùng, lãi suất dới mức cân bằng tạo ra d cầu
vốn vay kéo theo cần thiết có sự cung cấp hạn chế vốn cho vay, điều này đến lợt nó
lại mở lối cho những cân nhắc phi kinh tế hoặc mang tính chính trị trong việc phân
bổ số vốn khan hiếm. Kết cục là những ngời nghèo, những ngời vốn là mục tiêu
của các chơng trình tài trợ lãi suất thấp lại bị thay thế bằng nhữngngơì giàu có
quan hệ chính trị tốt hơn.
Thứ t, ngời nghèo vẫn có thể gửi tiền tiết kiệm. Hiện nay ngời ta đã công
nhận rằng ngay cả những ngời nghèo nhất cũng có cái gì đó để tiết kiệm. Mặc dù
thu nhập của họ không đều đặn hoặc khả năng của họ chỉ giới hạn ở tiết kiệm
những khoản nho nhỏ mỗi lần, thực tế cho thấy rằng họ có thể và họ thực sự tiết
kiệm. Hầu hết các hộ nghèo đều có một vài nhu cầu dành giụm tiền, ví dụ nh để dự
phòng cho thu nhập tiền mặt theo mùa, gây dựng một quỹ dự phòng tài chính, tiết
kiệm cho các khoản cho tiêu tiền mặt định kỳ (học phí cho con cái) hay thậm chí
là tiết kiệm để mua tài sản có giá trị cao và đầu t. Việc tiết kiệm đối với ngời
nghèo có vai trò vô cùng quan trọng trong việc gây dựng một quỹ dự phòng tài
chính và vì vậy trong việc giảm nguy cơ dễ bị tổn thơng. Kinh nghiệm cho thấy lãi
suất chỉ là một trong hàng loạt các yếu tố ảnh hởng đến nhu cầu về các dịch vụ tiết
Thông thờng, những khoản cho vay đầu tiên là những món tiền nhỏ đợc sử
dụng trong thời gian ngắn để mua tài sản lu động, sau đó mới đến những món vay
lớn hơn để hình thành tài sản cố định với thời gian hoàn trả dài hơn. Nếu hộ nghèo
ở vùng thành thị thì chu kỳ thu nhập ngắn nên thời hạn vay ngắn hơn (thờng từ ba
tới sáu tháng) để phù hợp nhu cầu về vốn hình thành tài sản lu động của những ng-
ời bán rong trên đờng và những cơ sở sản xuất tại nhà. Nếu hộ nghèo sinh sống ở
nông thôn và làm nông nghiệp thì thời hạn vay có thể dài hơn (khoảng sáu tháng
đến một năm). Có quan điểm cho rằng không bao giờ cho vay hộ nghèo với thời
hạn vay kéo dài hơn một năm, nh vậy là quá mạo hiểm vì nguy cơ dễ bị tổn thơng
của ngời nghèo (bệnh tật, tai nạn nghề nghiệp, mất mùa, biến động bất lợi của giá
nông sản)
Việc thanh toán đầy đủ một khoản vay sẽ tạo cơ hội cho lần vay tiếp theo và
đợc vay với số tiền lớn hơn. Đây đợc coi là biện pháp khuyến khích khách hàng trả
nợ đúng hạn vì đối với ngân hàng, việc thu hồi vốn cho vay và quay vòng vốn là
một trong những nguyên tắc cơ bản.
Các bộ tín dụng thờng xuyên tiếp xúc với khách hàng, tất cả các thủ tục của
ngân hàng thể hiện sự thân thiện với khách hàng, thiết kế mẫu đơn xin vay đơn
giản và giới hạn thời gian từ khi đề đơn đến khi giải ngân chỉ trong vòng vài ngày.
Tạo bầu không khí thoải mái và thân mật, khi khách hàng cảm thấy thoải mái thì
cán bộ tín dụng dễ đợc cung cấp nhng thông tin cần thiết. Đồng thời, thân thiện với
khách hàng sẽ giúp ngân hàng biết đợc kế hoạch sản xuất của hộ và hộ cần giúp đỡ
gì từ phía ngân hàng.
Nguyên tắc 2: Các món vay phải đợc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi.
Thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi hay ít nhất là gốc vay là nguyên tắc cơ bản
trong hoạt động của bất kỳ loại hình ngân hàng nào, thông qua một số phơng pháp:
- Trách nhiệm liên đới: trách nhiệm này đợc thể hiện thông qua hình thức cho vay
theo nhóm thông qua sử dụng sức ép của những ngời trong cùng một nhóm nh là
sự thay thế cho tài sản thế chấp. Sự chậm trả của một thành viên thờng có nghĩa là
việc cho vay tiếp đối với các thành viên khác trong nhóm sẽ bị đình chỉ đến khi
- 17 -
những yêu cầu nghiêm ngặt về tài sản thế chấp. Để khắc phục điều này, NHCS
chấp nhận cho vay theo nhóm thông qua sử dụng nhóm là công cụ bảo lãnh cho
vốn vay của các thành viên trong nhóm đó.
Hình thức này đợc ngân hàng áp dụng rộng rãi ở các khu vực đô thị. Bắt đầu
và phổ biến ở Châu Mỹ La tinh và hiện đang đợc mở rộng ra ở Châu phi và Châu á.
Với phơng pháp này, 3 đến 4 ngời là bạn bè hoặc đồng nghiệp đại diện hộ có thể
thành lập một nhóm để vay vốn. Mỗi thành viên đợc nhận một phần của khoản vay
để sử dụng theo mục đích riêng của mình và các thành viên trong nhóm bảo lãnh
- 18 -
lẫn cho nhau. Điều này có nghĩa họ cùng chịu trách nhiệm về khoản vay của
nhóm. Trong trờng hợp nếu trong tháng có một thành viên gặp khó khăn và không
có khả năng hoàn trả vốn vay thì các thành viên khác phải chịu trách nhiệm hoàn
trả phần vốn vay, nếu không thì khoản vay của cả nhóm sẽ bị coi là quá hạn. Sau
đó, thành viên gặp khó khăn sẽ hoàn trả lại số vốn các thành viên đã trợ giúp. Theo
phơng thức này, NHCS sẽ không phải theo dõi thu hồi nợ quá hạn hàng kỳ mà
nhóm vay vốn sẽ chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ này. ở một số nớc nh
Bangladesh (Ngân hàng Grameen), nhóm này đợc gọi là trung tâm. Hàng tuần, cán
bộ tín dụng của ngân hàng sẽ xuống làm việc, trao đổi với nhóm và thực hiện giải
ngân vốn cho vay.
Nh đã phân tích, cho vay theo nhóm có u điểm quan trọng là sử dụng sức ép
của những thành viên trong nhóm thay thế cho tài sản thế chấp vì các thành viên
không muốn bỏ rơi các thành viên khác trong nhóm hoặc không muốn phả chịu
bất kỳ hình phạt nào vì sự chậm trả. Nếu thấy nguyên nhân chậm trả của thành
viên là hợp pháp (gia đình có ngời bị ốm, bị mất trộm) thì các thành viên khác sẽ
sẵn sàng giúp đỡ cho đến khi khó khăn đợc giải quyết. Một lợi thế khác của cho
vay theo nhóm là giảm chi phí giao dịch của ngân hàng thông qua chuyển việc
xem xét và giám sát cho nhóm.
Nhợc điểm của cho vay theo nhóm là tác động dây chuyền dẫn đến mất khả
năng hoàn trả của nhóm bởi các nguyên nhân khách quan nh mất mùa, hạn hán
o Cho vay cá nhân, từng hộ:
- Kích thích khách hàng năng động trong việc sử dụng vốn, biết tính toán làm ăn
và chi tiêu;
- Hạn chế rủi ro mất vốn cho ngân hàng;
- Vốn quay vòng nhanh nên nhiều ngời sẽ đợc vay hơn;
- Đảm bảo mối quan hệ thờng xuyên giữa ngân hàng và khách hàng
Về lãi suất vốn vay:
Hiện có hai quan điểm trái ngợc nhau về lãi suất cho vay đối với ngời
nghèo. Quan điểm thứ nhất cho rằng cho ngời nghèo đói vay vốn phải đợc hiểu nh
một nội dung của chính sách xã hội, do vậy nên lãi suất cho vay phải là lãi suất u
đãi, là mức lãi suất thấp hơn lãi suất thơng mại trên thị trờng. Quan điểm thứ hai
thì hoàn toàn ngợc lại. Các món cho vay đối với ngời nghèo đã đợc cung ứng bởi
nhiều hình thức khác nhau và ngời ta dễ dàng thấy ngời nghèo vay vốn hoàn trả
sòng phẳng và lại vay món mới của những ngời cho vay nặng lãi với mức lãi suất
cao hơn rất nhiều so với mức lãi suất mà các trung gian tài chính đa ra.
Hộ nghèo vay vốn với những món vay nhỏ thờng có xu hớng giữ nguyên
mức vốn vay ngay cả khi lãi suất tăng. Điều này cho thấy rằng trong một phạm vi
nào đó, họ không phải là đối tợng khách hàng có tính nhạy cảm cao với lãi suất.
Trên thực tế, ngời ta sẵn sàng trả mức lãi suất cao để có thể đợc hởng các dịch vụ
tốt hơn, bao gồm: tính sẵn có của dịch vụ, thủ tục đơn giản, vay tiền đợc nhanhlà
điều khách hàng là hộ nghèo cần nhất.
Các chơng trình cho vay với lãi suất u đãi thờng:
- Không đủ trang trải các chi phí liên quan đến món vay;
- Tạo ra tâm lý ỷ lại, tính toán làm ăn không cẩn then và kém năng động cho ngời
ngời sử dụng vốn vay;
- 20 -
- Tạo ấn tợng cho rằng chơng trình nghiêng về phúc lợi hơn là cho vay, thậm chí
ngời vay thấy không cần thiết phải trả nợ;
- Lãi suất ban đầu thấp nếu sau đó muốn nâng lên sẽ rất khó;
- Lựa chọn sai khách hàng (hộ nghèo), tranh giành vốn vay, tăng nhu cầu vốn giả
tạo, tiêu cực trong cho vay;
ở một số nớc, ngân hàng yêu cầu các thành viên trong nhóm đóng góp vào
quỹ đảm bảo của nhóm, và quỹ này sẽ đợc sử dụng trong trờng hợp một hoặc
nhiều thành viên không trả đợc nợ. Sử dụng quỹ của nhóm đôi khi là theo ý muốn
- 21 -
của chính bản thân nhóm đó và đôi lúc do chính ngân hàng quyết định. Nếu theo ý
muốn của nhóm thì nhóm đó thờng cho các thành viên của mình, những ngời
không thể hoàn trả món vay, vay tiền từ quỹ này. Thành viên nào vay tiền từ quỹ
phải có trách nhiệm hoàn trả cho quỹ. Nếu quỹ sử dụng theo yêu cầu của ngân hàng
thì quỹ này sẽ bị tịch thu tuỳ theo quy mô của món nợ không thanh toán đợc, có nghĩa
là các thành viên trong nhóm sẽ bồi thờng cho những thâm hụt tạm thời. Nếu việc này
không thành công thì toàn bộ nhóm sẽ không đợc vay vốn nữa.
Cho vay dựa trên uy tín và tính cách: Ngân hàng cho vay dựa trên danh tiếng tốt
của khách hàng trong cộng đồng. Để đánh giá đợc điều này thì cán bộ tín dụng
phải tới thăm nơi khách hàng sống, hỏi mọi ngời xung quanh về đặc điểm cũng nh
hành vi đối xử của khách hàng. Đồng thời, trong quá trình khách hàng sử dụng vốn
nay thì cán bộ tín dụng tiến hành viếng thăm thờng xuyên để đảm bảo rằng khách
hàng vẫn đang duy trì hoạt động kinh doanh và sẽ hoàn trả món vay. Viếng thăm
giúp ngân hàng hiểu rõ hơn về hoạt động kinh doanh của khách hàng và tính phù
hợp của món vay (về số tiền, thời hạn cho vay, kỳ hạn nợ). Những cuộc thăm
viếng nh vậy cũng làm tăng sự tôn trọng đôi bên giữa khách hàng và nhân viên tín
dụng. Nhìn chung, cho vay món nhỏ là các món vay t cách, ngân hàng đánh giá
tính cách của ngời vay và đa ra quyết định ai sẽ dợc vay.
Bên cạnh những hình thức ngân hàng sử dụng để thay thế cho tài sản thế
chấp thì ở một số nớc vẫn có những hình thức thế chấp cho món vay nh:
Tiết kiệm bắt buộc: Theo đó, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có số d trên tài
khoản tiết kiệm tại ngân hàng. Gọi là tiết kiệm bắt buộc vì tiền trên tài khoản tiết
kiệm sẽ không đợc rút nếu nh món vay vẫn còn d nợ. Do vậy tiết kiệm bắt buộc đ-
ợc coi nh một hình thức thế chấp một phần cho món vay. Do yêu cầu phải tiết
kiệm, ngời vay không đợc phép sử dụng số tiền đó để đầu t vào hoạt động kinh
doanh hay một hoạt động tạo ra thu nhập nào khác. Tiết kiệm bắt buộc có thể sẽ có
lợng công việc ngân hàng phải giải quyết cũng sẽ tăng thêm, rủi ro tín dụng đối
với vốn cho vay càng cao. Việc tăng số lợng khách hàng trên mỗi nhân viên tín
dụng phải cân bằng với khả năng của họ trong việc cung cấp một mức độ phù hợp
vốn vay cho khách hàng và đảm bảo thu hồi đợc gốc và lãi vay.
o Mức tăng d nợ cho vay đối với hộ nghèo:
Chỉ tiêu thứ hai đánh giá nỗ lực của ngân hàng trong mở rộng cho vay hộ
nghèo là tăng d nợ cho vay đối với hộ nghèo. D nợ cho vay của ngân hàng đối với
hộ nghèo là chỉ tiêu phản ánh số tiền ngân hàng hiện đang cho vay hộ nghèo tính
đến thời điểm cụ thể. Chỉ tiêu này đợc xem xét trên hai giác độ là d nợ cho vay hộ
nghèo của ngân hàng và d nợ cho vay bình quân một hộ nghèo. Khi ngân hàng gia
tăng đợc số lợng hộ vay vốn thì mức d nợ của ngân hàng sẽ tăng. Mức tăng d nợ
cho vay hộ nghèo phụ thuộc vào nỗ lực của ngân hàng trong việc tăng số hộ đ ợc
vay, tăng quy mô món vay, và tăng số lần đợc vay vốn của mỗi hộ.
Chỉ tiêu d nợ cho vay có quan hệ với chỉ tiêu doanh số cho vay. Doanh số
cho vay trong kỳ là tổng số tiền ngân hàng đã cho vay trong kỳ.
Thông thờng, đối với hộ nghèo, những món vay đầu tiên bao giờ cũng là
món vay nhỏ. Khách hàng của ngân hàng là những hộ nghèo, thiếu kinh nghiệm sử
dụng vốn vay và quản lý tiền vay nên khi nhận đợc một khoản tiền lớn đầu tiên họ
sẽ bỡ ngỡ trong việc sử dụng và hiệu quả sử dụng không cao, lãng phí vốn. Với
những món vay nhỏ, không những hộ nghèo có thể thấy đợc liệu món vay có thể
giúp đợc công việc của họ tiến triển hay không mà còn giúp ngân hàng kiểm tra
- 23 -
chất lợng hoàn trả của khách hàng. Một số quan điểm còn cho rằng món vay nhỏ
ban đầu có tác dụng lựa chọn đúng đối tợng là hộ nghèo. Sau những món vay nhỏ
đầu tiên, phần thởng cho những hộ sử dụng và hoàn trả món vay tốt là đợc vay
những món vay lớn hơn. Trớc khi cho vay tiếp, ngân hàng xem xét mức cho vay
lần trớc là bao nhiêu, thu nhập bình quân của khách hàng đạt đợc vì nó liên quan
đến việc hoàn trả món vay lớn hơn sau này.
o Tăng số lần đợc vay vốn đối với hộ nghèo.
Trong điều kiện có nhiều hộ nghèo lần đầu tiên đợc tiếp cận với vốn của
- 24 -
cha đợc trả thì sẽ bị chuyển thành nợ quá hạn. Đối với ngân hàng, việc khách hàng
không trả nợ đúng hạn có liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản. Một bộ
phận của nợ quá hạn mà ngân hàng phải quan tâm đặc biệt là nợ khó đòi, đó là một
lời cảnh báo cho ngân hàng rằng hy vọng thu lại tiền cho vay trở nên mong manh,
ngân hàng cần có biện pháp hữu hiệu để giải quyết. Nợ quá hạn tăng sẽ làm giảm
khả năng tài chính của ngân hàng trong mở rộng cho vay vì khi đó vốn bị thất
thoát, kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng không đảm bảo ảnh hởng đến khả năng
thanh khoản của ngân hàng.
Cho vay hộ nghèo với đối tợng khách hàng rộng lớn, vốn vay để tiêu dùng
và đa vào sản xuất nhỏ, sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thấp kém nên không
thể tránh khỏi nợ quá hạn. Đối với các món cho vay hộ nghèo, việc ngân hàng áp
dụng các biện pháp phạt tài chính nh chuyển nợ quá hạn, áp dụng lãi phạt,
ngừng không giải ngân tiếp vốn cho vay thờng không mạng lại hiệu quả mong
muốn bằng việc đánh giá từng bớc tình hình sử dụng vốn của hộ, phân tích nguyên
nhân nảy sinh rủi ro, cùng hộ tìm biện pháp giải quyết. Đối với phần lớn hộ nghèo
không thể trả đợc nợ do thất bại trong làm ăn do các nguyên nhân khách quan hoặc
do cha có kinh nghiệm sản xuất kinh doanh thì ngân hàng cần có biện pháp hỗ trợ.
Trong khi đó, những hộ sử dụng vốn vay sai mục đích, cố ý chây lỳ không trả nợ
thì ngân hàng cần áp dụng các biện pháp phát nh trên. Bên cạnh những nguyên
nhân từ phía hộ nghèo cũng có nguyên nhân từ phía ngân hàng nh xác định kỳ hạn
trả nợ không đúng với nhu cầu sử dụng vốn nên khi đến hạn dĩ nhiên hộ sẽ không
trả đợc nợ, gây ra nợ quá hạn.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hởng đến mở rộng cho vay đối với hộ nghèo của NHCS:
1.3.2.1. Nhận thức đúng về ngời nghèo và cho vay đúng đối tợng là hộ nghèo:
Đói nghèo không phải là sản phẩm của ngời nghèo mà là sản phẩm tất yếu
của tồn tại xã hội, chính cái tồn tại xã hội ấy là tác nhân kìm hãm xã hội phát
huy khả năng làm ăn của một bộ phận cộng đồng mà đói nghèo đã ngự trị họ. Hiện
nay có hai quan điểm trái ngợc nhau về ngời nghèo:
Một là, ngời nghèo là ngời hèn kém, không biết làm ăn nên qua bao đời