Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở cá lóc - Pdf 11



Phòng và trị một số bệnh
thường gặp ở cá lóc

BỆNH XUẤT HUYẾT
Tác nhân gây bệnh :
-Do nhiều loài thuộc giống Aromonas, Pseudomonas … gây
ra
-Dấu hiệu bệnh lý
-Xuất huyết da, nắp mang; đốm đỏ xuất hiện trên thân
-Xuất huyết hậu môn
-Góc vi, hàm dưới nắp mang bị tụ máu thành những lớp màu
đỏ
-Xoang bụng xuất huyết nội tạng
Điều kiện phát triển bệnh :
-Bệnh xuất hiện ở tất cả các giai đoạn ương giống và nuôi
thịt
- Bệnh phát triển trong điều kiện cá bị sốc và chuyển mùa,
thời tiết bất lợi
- Môi trường ương nuôi nhiễm bẩn, nhiều khí độc, hàm
lượng oxy thấp
Phòng bệnh :
- Chọn giống tốt, vận chuyển đúng cách tránh xay xát
-Ương nuôi ở mật độ vừa phải
-Tăng sức đề kháng định kỳ bổ sung khoáng VITALET-
fish và FISH C, VB12, FOLIC
- Xử lý nước định kỳ 1L VBK/1200-1500m3 nước ao cá
Trị bệnh :
-Sử dụng (1kg NOROCINE+1kg VB-COTRIM)/10 tấn cá
nuôi liên tục 5-7 ngày

bị bệnh cá kiệt sức và chết.
Quan sát bên ngoài cá thấy xuất hiện nhiều vết nhỏ màu xám
hay đỏ. Mang, quanh mắt và da xuất huyết, toàn thân có màu
xám tối. Thương tổn lan rộng thành những vết loét lớn trên
vẩy, thân cá Khi cá bệnh nặng sẽ thấy máu chảy ở hậu môn.
Giải phẫu cá sẽ thấy bóng hơi xuất huyết và teo dần, gan thận
cũng xuất huyết. Khoang bụng có dấu hiệu tích nước, có
nhiều dịch nhờn và xuất huyết.
Phòng bệnh cho cá :
Phòng bệnh có tính chất quyết định đến kết quả nuôi, trong
đó tẩy dọn ao, bể nuôi theo đúng qui trình kỹ thuật để diệt
các tác nhân gây bệnh là rất quan trọng. Quản lý tốt môi
trường nuôi, cung cấp nước nuôi cá bằng nước sạch. Ổn định
môi trường, kìm hãm sự phát triển của mầm bệnh bằng cách
xử lý định kì 15 ngày/lần bằng dung dịch Vimekon (1g/1m3
nước). Tránh làm cá bị xây xát, không để cá bị nhiễm các
loại bệnh ngoài da sẽ tạo điều kiện cho bệnh cá phát triển.
Cho cá ăn đủ thức ăn với hàm lượng dinh dưỡng cao làm cá
khỏe sẽ có sức đề kháng tốt. Thường xuyên trộn thức ăn với
men tiêu hóa, vitaminC, premix.
Khoa Thủy sản (ĐH Cần Thơ) khuyến cáo cách phòng trị
bệnh ghẻ cá, xử lý ao nuôi bằng vôi, giữ cho môi trường ổn
định, dùng hóa chất formon và thuốc tím làm giảm bớt mật
độ vi khuẩn và diệt nấm ký sinh trùng, dùng kháng sinh diệt
vi khuẩn làm lành vết thương trên da cho cá.
Trị bệnh :
Khi cá có dấu hiệu bị bệnh cần thay 50% nước bằng nước
sạch, vệ sinh xung quanh ao nuôi. Xử lý nước bằng Fresh
Water với lượng 1 kg (650 gói A + 350 gói B) cho 1.000-
1.500m3 nước. Trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn cho cá


Triệu chứng : Mang bị viêm và sưng to, các tia mang bị đứt
rời, mang tiết ra nhiều nhớt làm cho cá nghẹt thở và chết , cá
thường nổi đầu và tập trung nơi có dòng nước chảy.

Phòng bệnh :
- Cá giống trước khi thả nuôi tắm cho cá bằng nước muối 2-
3% trong thời gian 10-15 phút.
- Thừơng xuyên thay nước ao, tránh thức ăn thừa gây bẩn.

Trị bệnh :
- Dùng muối liều lượng 0,5-1kg/100 lít nước (đối với cá
nhỏ), 3-4 kg/100 lít nước đối với cá lớn , tắm trong 15-30
phút.

BỆNH TRÙNG MỎ NEO

Dấu hiệu bệnh lý : Trùng thường ký sinh ở da, mang, vây,
mắt của cá. Khi nhiễm bệnh cá kém ăn, gầy dần, xung
quanh chỗ trùng bám bị viêm và xuất huyết. Bị bệnh trùng
mỏ neo ký sinh là yếu tố đầu tiên dẫn đến bệnh nhiễm khuẩn
.

Phòng trị bệnh :
- Dùng lá xoan bó thành bó hoặc băm nhỏ thả xuống ao với
liều lượng 30 - 50 kg/1.000m2.
- Tắm cho cá bằng thuốc tím 10-25ppm trong 1 giờ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status