Cẩm nang dành cho người nuôi tôm càng xanh - Pdf 11

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TP. HỒ CHÍ MINH
TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
CẨM NANG
DÀNH CHO NGƯỜI NUÔI
TÔM CÀNG XANH

Chòu trách nhiệm nội dung và xuất bản:
TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2009
2 3
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
I. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 7
1.1. Phân loại, vòng đời 7
1.2. Các yếu tố môi trường. 7
1.3. Đặc điểm dinh dưỡng 8
1.4. Đặc tính sinh trưởng 10

3.2.5. Theo dõi môi trường ao nuôi 38
3.2.6. Thu hoạch 39
Một số trở ngại thường gặp trong nuôi tôm 41
Tài li
ệu tham khảo 42
Danh sách trại giống tôm càng xanh 43
Một số mô hình nuôi tôm càng xanh ở
TP. Hồ Chí Minh 44
5
LỜI NÓI ĐẦU

Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)
là một trong những loài thủy sản có giá trị kinh tế quan
trọng trong nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản. Khu
vực Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều sông ngòi, kênh
rạch, ao, vườn, ruộng được xem là vùng có tiềm năng
rất lớn cho nghề nuôi tôm càng xanh. Nghề nuôi tôm
hiện nay phổ biến với nhiều hình thức như nuôi kết hợp
trên ruộng lúa, nuôi trong mương vườn, nuôi ao và
nuôi đăng quầng. Năng suất thường đạt 100 – 300
kg/ha đối với nuôi ru
ộng, 500 – 1.200 kg/ha đối với
nuôi ao và 1,2 - 5 tấn/ha/vụ đối với nuôi trong đăng
quầng. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với nghề nuôi
tôm càng xanh hiện nay là yếu tố con giống và kỹ thuật
nuôi. Đối với con giống, hiện đã sản xuất nhân tạo
thành công con giống tôm càng xanh, mở ra hướng chủ
động cho các vùng nuôi; trong tương lai gần việc
nghiên cứu quy trình sản xuất ra con giống rặt đực đi
vào ổn định là tri

Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ chân bơi: Natantia
Phân bộ: Caridae
Họ: Palaemonidae
Giống: Macrobrachium
Loài: M. rosenbergii de Man 1879
1.2. Các yếu tố môi trường:
Tôm càng xanh là loại giáp xác 10 chân, sống
chủ yếu ở tầng đáy. Tôm sống hầu hết các thủy vực
nước ngọt trong nội
địa và vùng nước lợ. Tôm là loài
giáp xác vừa bơi vừa bò.
* Độ pH: Tôm sinh trưởng tốt trong môi trường
nước trung tính, pH dao động từ 7 - 8. pH từ 5,5 - 6,5
tôm có thể sống, nhưng tăng trưởng rất kém. pH < 5,5
tôm sẽ chết. Điều này cần lưu ý khi nuôi tôm ở vùng
8
Bình Chánh, Củ Chi, Nhà Bè, đặc biệt là những vùng bị
nhiễm phèn nặng.
* Nhiệt độ: Tôm thích ứng ở nhiệt độ 25 - 30
o
C,
không chịu được quá lạnh hay quá nóng 35 - 38
o
C,
hoặc nhiệt độ thay đổi một cách đột ngột. Vì thế, nuôi
tôm trong mùa khô, phải đảm bảo đủ độ sâu tối thiểu
của mức nước trong ao, ruộng nuôi là 0,8 m.
* Oxy hòa tan: Tôm thích sống trong môi
trường nước sạch, không nhiễm mặn, phèn và nhiễm

ngành tảo dạng sợi thuộc ngành tảo lục (Chlorophyta),
tảo lam (Cyanophyta), tảo silic (Bacilariophyta) và tảo
vàng ánh (Chrysophyta). Ngoài những thức ăn tự
nhiên, tôm còn ăn các loại thức ăn khác như cua, ốc, cá
vụ
n, khoai mì, cơm dừa, xác động vật thối rữa và thức
ăn tổng hợp.
Tôm tìm kiếm thức ăn bằng cơ quan xúc giác,
chúng dùng râu quét ngang dọc phía trước đường đi,
dùng chân ngực thứ I kẹp, giữ thức ăn, dùng chân hàm
đưa thức ăn vào miệng. Ở tôm càng xanh trong quá
trình hoạt động bắt mồi, có sự tranh giành thức ăn, các
10
cá thể nhỏ thường bị đánh dạt ra khỏi khu vực có mồi.
Tôm ưa ăn đồng loại, khi trong đàn có những con yếu,
những con nhỏ, hoặc những con vừa lột xác vỏ còn
mềm. Hiện tượng tôm ăn thịt lẫn nhau tăng cao khi
thức ăn cung cấp không đủ. Do vậy cần lưu ý khi nuôi,
tôm càng xanh là giáp xác bậc cao, sống và ăn ở tầng
đáy, ăn tạp thiên về động vậ
t, hàm lượng đạm trong
thức ăn chiếm trung bình từ 20-25%.
1.4. Đặc tính sinh trưởng:
Tôm càng xanh tăng trưởng khá nhanh. Khi tăng
trưởng, tôm cần lột xác. Thường thì tôm lột xác khoảng
2 - 3 lần trong một tháng tùy thuộc vào chất lượng
nguồn nước, chất lượng thức ăn và giai đoạn tuổi. Khi
lột xác, tôm thường cặp mé, hoặc tìm những nơi cạn
hay vùng có rong, lục bình, chất chà trú ẩn để lột. Tôm
thường lột xác vào ban đ


1.5. Đặc điểm khác:
Di cư sinh sản: Tôm ôm trứng di cư ra sông, tới
gần cửa sông nơi có độ mặn thích hợp cho ấu trùng nở
và sinh sống, phát triển. Xuất hiện bầy đàn di chuyển
tìm thức ăn ở giai đoạn ấu trùng.
Di cư di chuyển: Do sự thay đổi các yếu tố môi
trường.

12
II. CÁC MÔ HÌNH ƯƠNG TÔM CÀNG XANH
2.1. Ương trong ao, ruộng lúa
Chọn ao có diện tích 200 - 500m
2
. Đối với ao
đất, trước khi ương cần tiến hành xử lý, cải tạo ao:
+ Đầm nén kỹ nền đáy, sên bùn, xảm mọi, xả cạn
nước và tiến hành bón vôi.
+ Lượng vôi thường dùng 10 - 12kg/100m
2
,
trong giai đoạn cải tạo ao, dùng vôi sống là tốt nhất.
Bón vôi xong, phơi nắng 3 - 5 ngày, lấy nước thông
qua lưới chắn cá tạp, mức nước tốt nhất là 1,2 – 1,5m.
Sau khi lấy nước, dùng thêm dây thuốc cá lượng
1kg/100m
3
ao. Sau 3 ngày gây màu nước bằng DAP
lượng 300-500g/m
2

đó, khi tôm lớn, tháo lưới để tôm tản ra khắp ao.
+ Thời gian chuyển tôm bột vào lúc sáng sớm,
chiều mát. Khi thả cần có thời gian ngâm bao oxy chứa
tôm bột xuống ao (bể, giai) dự kiến thả giống trong thời
gian 15 - 30 phút, để các thông số hai môi trường cân
b
ằng nhau.
14
+ Mật độ ương dao động tùy theo mô hình và
điều kiện ương, trung bình từ 300 – 500 con/m
2
(cỡ tôm
post 12 - 15mm).
+ Thức ăn cho tôm con giai đoạn này gồm:
Trong 10 ngày đầu ăn cá biển hấp chín, tán nhuyễn, rải
quanh khu ương nuôi. Sau 10 ngày, bổ sung thêm trùn
chỉ, cám viên dạng nhỏ. Ngày cho tôm ăn 3 - 4 lần,
thức ăn cho vào máng, chủ động điều chỉnh theo nhu
cầu sử dụng của tôm. Lượng ăn mỗi ngày cho 15.000
Postlarvae gồm 1kg cá biển, 2 lòng đỏ trứng, 2g
Vitamine C, 2g Premix. Tất cả xay nhuyễn, hấp chín,
rải đều cho tôm sử dụng.
+ Trong môi trường ương tôm post, dùng dây
nylon, lục bình làm giá thể để tôm bám, trú ẩn, lột xác,
hạn chế tôm ăn thịt lẫn nhau. Diện tích giá thể chiếm ½
diện tích mặt nước ương.
III. CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM CÀNG XANH
3.1. Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh trong ao
3.1.1. Chọn vị trí:
Gần những kênh, rạch, mương lớn, sông, suối…

, Ca
+
): >20mg/lít
+ Độ kềm tổng cộng (HCO
3
-
): >20mg/lít
3.1.5. Thiết kế ao:

THIẾT KẾ AO NUÔI TÔM HÌNH VUÔNG
BỜ AO
1.5m
1.0m
1.2m
1.0m
1.5m
1.5m
20m
0.2m
1m/3m
ĐÁY AO
MẶT NƯỚC
CỐNG THOÁT

Hình 1a
: Mặt cắt đứng ao nuôi tôm hình vuông THIẾT KẾ AO NUÔI TÔM HÌNH CHỮ NHẬT
MẶT NƯỚC

cống bọng. Tiến hành bón vôi cho ao, dùng vôi sống
CaO, hoặc vôi nông nghiệp CaCO
3
bón cho ao lượng
10 - 12 kg/ 100m
2
, sau khi bón vôi phơi nắng 5 - 7
ngày. Nếu là ao cũ hoặc ao có phèn, thì lượng vôi bón
15 – 20 kg/100m
2
.
3.1.7. Chuẩn bị ao:
Bao lưới quanh khu vực ao nuôi, ngăn chặn sự
xâm nhập của cá dữ, địch hại vào trong ao nuôi. Lưới
cao từ 1 - 1,5m (cỡ lưới 5mm), chân lưới chôn sâu
18
xuống chân bờ 0,2 – 0,3m. Lấy nước vào ao qua túi lọc
nước, hoặc lưới chắn tạp ngăn đầu cống cấp. Mức nước
lấy vào ao từ 1,2 - 1,5m, tiến hành gây màu nước ao
nuôi. Dùng phân chuồng đã ủ hoai, lượng 25 -
30kg/100m
2
. Tốt nhất là dùng phân vô cơ như DAP
lượng 200 - 300g/100m
2
ao nuôi. Khi nước ao nuôi có
màu xanh noãn chuối non, hoặc màu vàng vỏ đậu xanh
thì tiến hành thả giống.
3.1.8. Bố trí chất chà quanh ao:
Chà thường là những nhánh bần, cành mắm -

Giống nhân tạo cỡ 0,5g/con thả 10-15 con/m
2
.
Nếu dùng con giống tự nhiên thả với mật độ 5 - 7
con/m
2
. Thời gian thả tôm nên thực hiện vào lúc sáng
sớm, chiều mát. Nếu chuyển giống từ xa về, khi thả cần
có thời gian ngâm bao oxy chứa tôm con, xuống ao dự
kiến thả giống trong thời gian 15 - 30 phút, để các
thông số hai môi trường cân bằng nhau, hạn chế sốc
20
cho tôm con. Khi nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao
tôm tương đối cân bằng, mở miệng bao cho nước bên
ngoài vào trong bao, sau đó hạ từ từ cho tôm bơi ra
ngoài. Không nên thả tập trung mà phải thả nhiều nơi
và cách bờ khoảng 2,0m.
3.1.13. Chăm sóc và quản lý:

Thức ăn và cho ăn: Có thể sử dụng 2 dạng thức
ăn gồm: thức ăn viên và thức ăn tươi sống. Mặc dù, hiện
nay thức ăn tươi được dùng chủ yếu, nhưng thức ăn viên
hay thức ăn tự chế bổ sung cho tôm càng xanh cũng rất
quan trọng. Nói chung, do việc nuôi tôm theo hình thức
bán thâm canh nghĩa là thức ăn tự nhiên vẫn còn vai trò
quan trọng, đan lồng trong việc dùng thứ
c ăn viên, nhằm
hạ giá thành sản xuất, giảm chi phí đầu tư, nên cần chọn
thức ăn có hàm lượng đạm từ 25 - 30%.
Bảng 1: Thức ăn cho tôm theo giai đoạn tăng trưởng.

lượng môi trường ao nuôi, ao dơ hay những ngày mưa
lớn, nắng to, khi điều trị bệnh, khi thay nước, khi tôm
lột xác… Nên chủ động giảm lượng thức ăn, kết hợp
sàng ăn và rải thành nhiều điểm trong ao, để có thể
đánh giá đúng lượng thức ăn tôm sử dụng. Nên cho tôm
ăn hơi thiếu, vẫn tốt hơn là cho ăn dư thừa.
Tôm nhận biế
t và sử dụng thức ăn do mùi (cơ
22
quan xúc giác râu a1 và a2) chứ không phải thấy. Ở
giai đoạn nhỏ (1 tháng sau khi thả nuôi), tôm bắt được
thức ăn qua bơi lội và hầu hết là thức ăn tự nhiên. Giai
đoạn này cơ quan xúc giác phát triển chưa đầy đủ, nên
chúng chưa thể tìm mồi tốt, thức ăn cần rải khắp ao,
cũng có thể trộn phối hợp thức ăn chế biến và tươi sống
để gây mùi, kích thích tôm ăn. Các giai
đoạn tiếp theo,
cơ quan thính giác của tôm phát triển hoàn chỉnh và
tôm tự đi tìm thức ăn được, nên có thể cho tôm ăn ở
những điểm nhất định trong ao.
Theo dõi tăng trưởng và tình trạng sức khỏe tôm:
Do đặc tính của các loài giáp xác nói chung, tôm nói
riêng, muốn lớn lên, phải trải qua giai đoạn lột xác. Chu
kỳ lột xác dài hay ngắn, tùy thuộc vào kích cỡ và điều
kiện môi trường sống. Kể từ 1,5 tháng tu
ổi trở đi, hàng
tuần phải theo dõi quá trình sinh trưởng (tính đồng đều)
của tôm thông qua sàng ăn, chài và kết hợp với chu kỳ
lột xác, để có thể chủ động kích thích tôm lột xác đồng
loạt. Chủ động thay đổi thức ăn, và khẩu phần ăn phù

pH nước trong ao. Dùng vôi với lượng 8 - 10kg/100m
2
,
xử lý phần xung quanh ao trước những cơn mưa lớn
nhằm tránh sự rửa trôi phèn từ bờ vào ao. Đo pH nước
sau khi mưa. Nếu pH nước xuống nhỏ hơn 7 thì dùng
vôi với lượng 1 - 1,5kg/100m
2
pha với nước tạt khắp ao
để nâng pH nước.
Quản lý độ đục và độ trong của nước ao: Sau
những cơn mưa nguồn nước lấy vào ao chứa nhiều hạt
phù sa, chất hữu cơ lơ lửng … làm nước vẩn đục, hay
sự phát triển quá mức của tảo có thể gây trở ngại đối
với tôm nuôi. Có thể làm cho nước trong ao trở nên
trong lại bằng cách dùng vôi pha nước và tạt khắ
p ao
để lắng tụ, kết tủa các hạt mùn bã (1kg/100m
2
).
Độ trong của ao thấp thì cần chủ động thay nước,
và giữ trong phạm vi 25 - 40 cm. Nếu độ trong thấp,
màu nước vẫn đục thì thay 20 - 30% và điều chỉnh lại
lượng thức ăn sử dụng. Ao có màu nước sẫm và trong
thì phải thay nhiều nước, và phải bón vôi 5 - 10 kg/
1.000m
3
. Trường hợp độ trong vượt quá 40cm thì phải
bón thêm phân hữu cơ, hoặc phân vô cơ để tăng màu
nước (10- 15 kg/ 100m

3
(ammoniac), tồn tại trong nước ao dưới
dạng ion (NH
3
) và dạng kết hợp NH
3
, NH
3
rất độc đối
với tôm nuôi, nhất là trong điều kiện pH cao.
CO
2
(carbonic), là khí độc đối với tôm nuôi khi
hàm lượng cao, nhất là vào ban đêm, khi quá trình hô
hấp xảy ra. Nồng độ khí này tăng cao, độc hơn, khi
cường độ hô hấp tăng cao.

Quản lý các yếu tố này qua trao đổi nước tích
cực sẽ giúp loại bỏ các chất khí độc này ra khỏi ao nhất
là tầng nước dưới đáy ao. Ngoài ra, tảo chết cũng sinh
ra một lượng khí độc đáng kể. Công việc điều chỉ
nh
mật độ tảo (qua màu nước) không chỉ giúp hấp thu các
khí độc mà còn hạn chế phát sinh khí độc.
26
3.1.15. Thu hoạch:
Trong nuôi Tôm càng xanh, công tác thu hoạch
thường được tiến hành một lần vào cuối vụ hay thu tỉa.
Công tác thu tỉa rất quan trọng là có thể thu tôm lớn 3
lần trong vụ nuôi. Thu tỉa có thể tiến hành sau 4 tháng


THIẾT KẾ RUỘNG NUÔI TÔM
MẶT RUỘNG
MƯƠNG BAO
BỜ
BỜ
LƯỚI B AO

Hình 2a:
Mặt cắt đứng ruộng nuôi tôm

28
THIẾT KẾ RUỘNG NUÔI TÔM
CỐNG CẤP
CỐNG THOÁT
MẶT RUỘNG-TRẢNG
BỜ BAO
MƯƠNG
LƯỚI B AO

Hình 2b:
Mặt cắt đứng ruộng Lúa nuôi tôm

3.2.2. Chuẩn bị ruộng nuôi tôm:
* Sau khi thu hoạch lúa, dọn sạch rơm rạ, cỏ trên
ruộng lúa; sên vét lớp bùn đáy ở mương bao, cho nước
vào ngập ruộng ngâm vài ngày rồi xả bỏ. Những ruộng
có hệ thống mương bao mới đào thì cần lấy nước vào
ngâm vài lần để rửa phèn.
* Bón vôi: Sử dụng vôi sống (CaO) 10 - 15

* Mùa vụ:
Thường tận dụng vụ lúa Hè - Thu để nuôi tôm.
Lúc này nước nhiều và thời gian ngập nước trong
ruộng kéo dài, tôm có điều kiện ăn được thức ăn trên
30
ruộng. Nuôi tôm tốt nhất nên nuôi trên các ruộng cấy
lúa vì lúa cấy có khoảng trống nên tôm có thể bơi xen
giữa lúa ăn được thức ăn trên ruộng. Nếu nuôi trên lúa
sạ thì nên sạ lúa thưa hơn sạ bình thường. Thả giống tốt
nhất khi cây lúa 2 tuần sau khi sạ hay 1 tuần sau khi
cấy. Lịch thời vụ 2 lúa + 1 tôm (sơ đồ 1).

Lúa Hè -
Thu
Lúa Đông -
Xuân

Tôm càng xanh
4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3

Tháng
Sơ đồ 1:
Lịch thời vụ sản xuất lúa và nuôi tôm
xen canh

Lúa Đông -
Xuân

Tôm càng xanh
4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3
32

* Cách chọn tôm giống tốt để thả nuôi:

Yêu cầu kỹ thuật
Chỉ tiêu
Tôm bột Tôm giống
1. Sạch bệnh - Tôm khỏe mạnh không có dấu hiệu bị nhiễm bệnh.
2. Chiều dài toàn
thân (mm)
10 -12
(Số tôm chiều dài nhỏ và lớn hơn
qui định không nhiều hơn 10% tổng
số).
25 - 30
(Số tôm chiều dài nhỏ và lớn hơn qui
định không nhiều hơn 15% tổng số).
3. Màu sắc - Màu hồng, màu cam nhạt hoặc
màu xám trong.
- Màu xám xanh trong suốt.
4. Ngoại hình - Hình thái cấu tạo ngoài đã hoàn chỉnh như tôm trưởng thành. Thân và các
bộ phân bên ngoài không bị tổn thương.
5. Trạng thái hoạt
động
- Khi ngừng sục khí tôm hoạt động
mạnh.
- Tôm thường bơi hướng về phía
trước, mặt bụng úp xuống.

trong thời gian dài 12 – 20 giờ cần giả
m mật độ, mỗi
bao chứa khoảng 1.500 con và được vận chuyển lạnh.
Đối với xe tải phải rải một lớp nước đá cục dưới sàn xe,
trải tấm lót lên sau đó mới đặt bao tôm lên.
Nên thả tôm lúc sáng sớm hay chiều mát. (xem
mục 3.1.12)
3.2.4. Thức ăn:
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự
thành công trong nuôi tôm là thức ăn. Tôm cần phải
được cung cấp thức
ăn đầy đủ về số lượng và chất
lượng để có thể phát triển tốt. Vì vậy, việc xác định
nguồn thức ăn đảm bảo giá trị dinh dưỡng và ổn định là
điều cần thiết đối với người nuôi tôm.
35
Thức ăn tự nhiên: là thức ăn có sẵn trong thủy
vực bao gồm động thực vật thủy sinh, thức ăn tự nhiên
giữ vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của các đối
tượng thủy sản nuôi.
Thức ăn tươi: bao gồm cá, tép, cua, ốc, hến,
các phế phẩm từ nhà máy chế biến thủy sản. Thức ăn
tươi rất dễ làm chất lượng n
ước xấu đi nhanh chóng, hệ
số tiêu tốn thức ăn cao.
Thức ăn viên (công nghiệp), thức ăn chế biến:
các thành phần dinh dưỡng đã được phối chế phù hợp
với từng giai đoạn tăng trưởng của tôm. Quy trình công
nghệ sản xuất thức ăn hiện đại đảm bảo chất lượng thức
ăn, thời gian bảo quản lâu, hệ số thứ

Bột cá
Bột xương
Cám
Bột gòn (chất kết dính)
Premix khoáng
Dầu cá hoặc dầu mực
200
100
250
20
350
50
20
10

Các nguyên liệu trên được phối trộn nấu, sau đó
ép viên, phơi hanh nắng, dùng trong 2 - 3 ngày.
* Cách cho ăn:
- Trong thời gian đầu tôm còn nhỏ yêu cầu thức ăn
có chất lượng dinh dưỡng cao, do đó nên sử dụng thức
ăn viên (hàm lượng đạm từ 35 - 40%), thức ăn được rải
đều khắp ao hoặc mương bao. Cho ăn 3 - 4 lần/ngày.
37
- Khi tôm đạt kích cỡ trên 10g/con dùng thức ăn
viên kết hợp luân phiên với thức ăn tươi sống. Thức ăn
tươi sống phải được rửa kỹ và đặt trong sàn ăn để tiện
theo dõi điều chỉnh liều lượng cho ăn tránh dư thừa.
Cho ăn 2 - 3 lần/ngày.
Sàng ăn thường có dạng hình vuông, khung được
làm bằng kim loại hoặc gỗ với kích cỡ 1m

38
3.2.5. Theo dõi môi trường ao nuôi:
* Nhiệt độ:
Nên giữ nhiệt độ nước trong ao nuôi ổn định, khi
nhiệt độ tăng cao 37 – 38
0
C làm ảnh hưởng đến sự phát
triển của tôm. Ngoài ra khi nhiệt độ tăng cao sẽ làm
giảm oxy và làm tăng hàm lượng khí độc. Để giảm tình
trạng nhiệt độ tăng cao cần lưu ý duy trì độ sâu mực
nước 1,2 - 1,5 m.
* pH:
Trong ao nuôi pH luôn biến động và phụ thuộc
theo sự phát triển tảo trong ao (pH tăng cao khi tảo
quang hợp mạnh) và sự phân hủy các hợp chất hữu cơ

đáy ao (pH thấp ở tầng đáy), hay do mưa rửa phèn từ
bờ ao xuống làm pH thấp. Khi có sự biến động pH của
ao (lên cao hoặc xuống thấp) đều ảnh hưởng đến sức
khỏe tôm vì vậy, nên luôn giữ pH trong ao ổn định
trong khoảng 7 - 8,5. Để điều chỉnh pH trong ao ta có
thể rải vôi xung quanh bờ ao trước khi trời mưa, hoặc
rải vôi trực tiếp xuố
ng ao bằng cách pha loãng với liều
lượng thấp hoặc thay nước.
* Oxy:
Tôm càng xanh yêu cầu hàm lượng oxy trong
39
nước cao, do đó không được để màu nước ao quá xanh
hay xám đen, điều này sẽ dẫn đến oxy giảm thấp vào


41
* MỘT SỐ TRỞ NGẠI THƯỜNG GẶP TRONG
NUÔI TÔM
+ Tôm đóng rong: tôm đực đôi càng phát triển
rất lớn: nguyên nhân là do tôm chậm lột xác trong thời
gian dài, dinh dưỡng kém và chất lượng nước không
tốt. Khắc phục bằng cách thay nước mới, tăng cường
thức ăn giàu dinh dưỡng.
+ Tôm bị đen mang: do nền đáy bị bẩn, nước có
nhiều chất hữu cơ lơ lửng, pH thấp. Khắ
c phục bằng
cách thay nước mới, giảm cho ăn, bón đá vôi nghiền
(CaCO
3
) 7 - 10kg/100m
2
. 42

2. Trại giống Khoa thủy sản - Khu 2 Trường ĐH
Cần Thơ. Đường 3 - 2. TP. Cần Thơ. ĐT: 0913.817359.
3. Trại tôm giống Phường 7 - Thị xã Bến Tre,
tỉnh Bến Tre - ĐT: 075. 3829926.
4. Trại tôm giống Sơn Đông - Ấp 2- Xã Sơn Đông
- Thị xã Bến Tre, tỉ
nh Bến Tre. ĐT: 075. 3823149.
5. Trại tôm giống Thanh Hùng - 113/9B – Quốc
Lộ 22B - Khu phố 3 - Phường 3 - Thị xã Tây Ninh, tỉnh
Tây Ninh. ĐT: 066. 3822790.
6. Trại giống Tư Mật - Quốc Lộ 1A - Cây số
1975 - Ấp Đông - Xã Long Định – Huyện Châu Thành
– Tỉnh Tiền Giang. ĐT: 073. 3834981. 44
MỘT SỐ MÔ HÌNH NUÔI TÔM CÀNG XANH
Ở TP.HCM

1. Hộ ông Nguyễn Văn Lập
Địa chỉ: P. Long Phước – Q.9
2. Hộ Bà Nguyễn Thị Ánh Loan
Địa chỉ: HTX Tương Lai – Xã Phước Hiệp –
Huyện Củ Chi
3. Hộ ông Nguyễn Văn Sơn
Địa chỉ: Phường Phú Hữu – Quận 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status