Báo cáo thực tập : Tài liệu kế toán potx - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 1 KHOA KINH TẾ NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Báo cáo thực tập :
Tài liệu kế toán
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
2
Bảng chữ cái viết tắt
- Tài khoản: TK
- Kiểm kê thường xuyên: KKTX
- Kiểm kê định kỳ: KKĐK
- Giá vốn hàng bán: GVHB
- Doanh thu: DT
- Hàng bán bị trả lại: HBBTT
- Tài sản cố định: TSCĐ
- Hàng hoá: HH
- Thuế giá trị gia tăng: Thuế GTGT

thích nghi được với sự chuyển đổi của nền kinh tế nước nhà đòi hỏi các doanh
nghiệp cần phải có sự đổi mới về cơ chế quản lý, về sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá để tồn tại và phát triển.
Thật vậy, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã khẳng định vai trò của
thương mại nói chung và tiêu thụ hàng hoá nói riêng trong đời sống kinh tế xã
hội. Việc kinh doanh thương mại cũng như bất kỳ hoạt động nào khác của các
doanh nghiệp đều nhằm một mục đích cuối cùng là tạo ra được lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Chính vì vậy, các doanh nghiệp đã coi việc tiêu thụ hàng hoá
đóng một vai trò hết sức quan trọng và nó quyết định đến sự tồn tại hay phá sản
của doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm mà không tiêu
thụ được sẽ dẫn tới không có doanh thu, không thu lợi nhuận, sẽ dẫn tới phá sản.
Ngược lại, nếu sản phẩm sản xuất ra mà tiêu thụ hết thì không những nó sẽ giúp
doanh nghiệp thu hồi vốn để tái sản xuất, tạo ra lợi nhuận mà còn giúp cho các
doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Nhận thức được đúng đắn tầm quan trọng của việc tiêu thụ sản phẩm sẽ
giúp cho các doanh nghiệp có bước đi đúng, tồn tại và phát triển đồng thời giúp
cho sự lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế thị trường.Vấn đề này đã được
công ty TNHH Thiên Hoà AN hết sức coi trọng và coi đó là vấn đề sống còn
quyết định sự tồn tại và phát triển cuả Công ty. Xuất phát từ những vấn đề lý
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
4luận và thực tiễn trên đây, em xin chọn đề tài "Hoàn thiện công tác kế toán bán
hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Thiên Hoà AN làm nội
dung nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề bao gồm 03 (ba) chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán lưu chuyển hàng hoá và xác định

kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại.
I, Sự cần thiết của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong
doanh nghiệp thương mại.
1. Khái niệm về bán hàng và kết quả kinh doanh.
1.1. Khái niệm về bán hàng.
Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá gắn với lợi ích
hoặc rủi do cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận
thanh toán.
Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản – kinh doanh, đây là quá
trình chuyển hoá vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hoá sang hình thái vốn tiền
tệ hặc vốn trong thanh toán.
1.2. Khái niệm về kết quả kinh doanh.
Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng về mặt tài chính của hoạt động sản
xuất kinh doanh. Nói cách khác, kết quả kinh doanh là phần chênh lệch giữa doanh
thu bán hàng,các khoản giảm trừ doanh thu với trị giá vốn hàng bán, chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng
để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Vai trò, Nhiệm vụ của công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.
2.1. Vai trò của công tác bán hàng và xác định kết quả.
Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Trong khi đó, thành
phẩm, hàng hóa tiêu thụ được thì doanh nghiệp mới có lợi nhuận. Vì thế có thể nói
bán hàng có quan hệ mật thiết với kết quả kinh doanh. Bán hàng tốt thể hiện uy tín
sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường, thể hiện sức cạnh tranh cũng như khả
năng đáp ứng nhu cầu thị trường của doanh nghiệp.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
6
NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
7đó, nhà quản trị có thể tính được mức độ hoàn thành kế hoạch, xu hướng tiêu dùng,
hiệu quả quản lý chất lượng cũng như nhược điểm trong công tác bán hàng của
từng loại sản phẩm hàng hóa. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp xác định được kết quả
kinh doanh, thực tế lãi cũng như số thuế nộp ngân sách Nhà Nước. Và cuối cùng
nhà quản trị sẽ đề ra được kế hoạch sản xuất của từng loại sản phẩm trong kỳ hạch
toán tới, tìm ra biện pháp khắc phục những yếu điểm để hoàn thiện công tác bán
sản phẩm, hàng hoá trong doanh nghiệp.
2.2. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.
* Nhiệm vụ của kế toán bán hàng
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các đơn vị mua bán hàng hoá
trong nước phải bám sát thị trường, tiến hành hoạt động mua bán hàng hoá theo cơ
chế tự hạch toán kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh, các đơn vị phải thường
xuyên tìm hiểu thị trường, nắm bắt nhu cầu và thị hiếu của dân cư để có tác động
tới phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hoá.
Hàng hoá của doanh nghiệp gồm nhiều loại, nhiều thứ phẩm cấp nhiều thứ
hàng cho nên yêu cầu quản lý chúng về mặt kế toán không giống nhau. Vậy nhiệm
vụ chủ yếu của kế toán hàng hoá là:
- Phản ánh giám đốc tình hình thu mua, vận chuyển bảo quản và dự trữ hàng
hoá, tình hình nhập xuất vật tư hàng hoá. Tính giá thực tế mua vào của hàng hoá đã
thu mua và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua, dự trữ và bán
hàng nhằm thúc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá.
- Tổ chức tốt kế toán chi tiết vật tư hàng hoá theo từng loại từng thứ theo
đúng số lượng và chất lượng hàng hoá. Kết hợp chặt chẽ giữa kế toán chi tiết với
hạch toán nghiệp vụ ở kho, ở quầy hàng, thực hiện đầy đủ chế độ kiểm kê hàng hoá
ở kho, ở quầy hàng đảm bảo sự phù hợp số hiện có thực tế với số ghi trong sổ kế
toán.

nhiên, với phương thức này doanh nghiệp cũng có thể gặp nguy cơ khủng hoảng
thừa trong tiêu thụ do doanh nghiệp bị ngăn cách với người tiêu dùng cuối cùng
bởi người mua trung gian hoặc bị chiếm dụng vốn do bên mua thiếu thiện chí,
chậm thanh toán. Theo phương thức này có hai hình thức bán buôn.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
93.1.1 Bán buôn qua kho.
Bán buôn qua kho là hình thức bán hàng mà bán được xuất ra từ kho bảo
quản của doanh nghiệp. Bán buôn qua kho bao gồm theo hình thức giao hàng trực
tiếp hoặc bán buốn qua kho theo hình thức chuyển hàng.
Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Là hình thức bán hàng
trong đó doanh nghiệp xuất kho hàng hóa giao trực tiếp cho đại diện của bên mua.
Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Là hình thức bán hàng trong
đó doanh nghiệp căn cứ vào đơn đặt hàng hoặc hợp đồng đã ký kết xuất kho hàng
hóa.
3.1.2. Bán buôn vận chuyển thẳng.
Bán buôn vận chuyển thẳng là hình thức bán mà doanh nghiệp thương mại
sau khi tiến hành mua hàng không đưa về nhập kho mà chuyển thẳng đến cho bên
mua. Thuộc hình thức này bao gồm bán buôn vận chuyển thẳng trực tiếp và bán
buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng.
Bán buôn vận chuyển thẳng trực tiếp: Là hình thức bán mà người mua cử
đại diện đến nhận hàng do doanh nghiệp bán chỉ định theo hóa đơn của người bán
đã nhận.
Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: Là hình thức bán hàng
mà bên bán tự vận chuyển hàng từ các điểm nhận hàng đến địa điểm của bên mua
theo hợp đồng bằng phương tiện vận chuyển tự có hoặc thuê ngoài.

Là hình thức bán hàng mà người bán cấp tín dụng cho người mua. Vì theo hình
thức này, người mua không phải thanh toán toàn bộ tiền hàng một lần cho DN mà
khách hàng được trả tiền mua hàng thành nhiều lần. Hàng hóa bán trả góp vẫn
được coi là tiêu thụ. DNTM bán hàng theo hình thức này ngoài số tiền thu theo giá
bán thông thường còn thu thêm người mua một khoản lãi do trả chậm.
3.6. Phương thức tiêu thụ nội bộ.
Là phương thức bán hàng các đơn vị thành viên trong cùng doanh nghiệp
với nhau giữa đơn vị bị chính với các đơn vị trực thuộc hoặc sử dụng sản phẩm,
hàng hóa cho mục đích biếu tặng, quảng cáo hay để trả công cho người lao động
thay tiền lương.
3.7. Hình thức bán hàng tự động:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
11 Hình thức này không cần nhân viên bán hàng đứng quầy giao hàng và nhận tiền
tiền của khách. Khách hàng tự động nhét thẻ tín dụng của mình vào máy bán hàng
và nhận hàng (Hình thức này chưa phổ biến rộng rãi ở nước ta nhưng ngành xăng
dầu cũng đã bắt đầu áp dụng bằng việc tạo ra một số cây xăng bán hàng tự động ở
các trung tâm thành phố lớn)
4. Các phương thức và hình thức thanh toán:
- Trong hoạt động kinh doanh thương mại, thường xuyên diễn ra các quan hệ
thanh toán, nhất là quan hệ thanh toán tiền hàng. Quá trình thanh toán có thể diễn
ra bằng nhiều phương thức khác nhau tùy theo trị giá lô hàng, uy tín của DN với
nhà cung ứng, khả năng tài chính của DN v.v… Tùy theo từng điều kiện, từng đối
tượng mà DN lựa chọn phương thức thanh toán cho phù hợp với quy mô, đặc điểm
sản xuất kinh doanh của DN mình.
4.1 Phương thức thanh toán.

giúp cho bên bán có khả năng thu tiền nhanh, tránh được rủi ro trong thanh toán
nhưng hình thức này chỉ áp dụng trong trường hợp hàng hóa bán ra có giá trị không
lớn.
* Hình thức thanh toán bằng hàng hóa: Theo hình thức này, khi bên bán
chuyển giao hàng cho bên mua thì bên mua cũng xuất một lô hàng có giá trị tương
ứng với giá trị lô hàng đã nhận được từ bên bán để giao cho bên bán. ở đây, người
bán hàng đồng thời là người mua, mục đích bán hàng trong trường hợp này không
phải là thu tiền mà là muốn mua một mặt hàng khác để đáp ứng một nhu cầu nào
đó. Với hình thức thanh toán bằng cách trao đổi hàng, người ta vẫn có thể sử dụng
tiền để thanh toán một phần bị thiếu hụt.
4.2.2. Hình thức thanh toán qua Ngân hàng
Là hình thức thanh toán qua trung gian thanh toán (Ngân hàng). Theo đó, bên
mua sẽ nhờ Ngân hàng của mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình
để thanh toán cho bên bán. Hiện nay, hình thức thanh toán qua Ngân hàng được sử
dụng khá phổ biến, đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Thanh
toán qua Ngân hàng giúp DN giảm thiểu rủi ro trong thanh toán, làm cho quá trình
thanh toán trở nên đơn giản và thuận lợi hơn rất nhiều so với thanh toán bằng tiền
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
13mặt. Tuy nhiên, hình thức thanh toán này có hạn chế là thủ tục thanh toán phức tạp,
khó áp dụng phổ biến trong dân cư và có thể xảy ra tình trạng chiếm dụng vốn lẫn
nhau. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà DN có thể lựa chọn một trong những
hình thức thanh toán sau:
* Hình thức thanh toán bằng séc: Theo hình thức này, người chủ tài khoản
phát hành séc cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ; yêu cầu Ngân hàng trích một
số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình để trả tiền hàng hóa,

chấp nhận thanh toán thẻ. Thẻ thanh toán có ưu điểm là có thể thanh toán ở nhiều
nơi mà không cần phải qua Ngân hàng, việc thanh toán được thực hiện qua các
máy đặc biệt kết nối mạng trực tiếp với trung tâm xử lý thẻ.
*Hình thức thanh toán bằng hối phiếu: Là hình thức thanh toán mà trong đó,
người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, cung ứng dịch vụ cho người
mua sẽ tiến hành ủy thác cho Ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên
cơ sở hối phiếu do người bán lập ra.
4.3. Giá bán hàng hóa.
Giá bán là mức giá thỏa thuận giữa người bán và người mua, được ghi trên
hóa đơn và có thể được tính theo công thức.
Giá bán = Giá mua thực tế + Thặng số thương mại
Thặng số thương mại = Giá mua thực tế x % Thặng số thương mại
Trong đó, thặng số thương mại là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá mua
hàng hóa, nhằm bù đắp chi phí và hình thành thu nhập cho DN. Nếu DN áp dụng
thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì giá mua thực tế là giá chưa có thuế
GTGT, nếu DN áp dụng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì giá mua thực
tế là giá có thuế GTGT.
Việc xác định giá bán thế nào phụ thuộc vào mục tiêu mà DN theo đuổi, ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được. Khi một sản phẩm mới đưa vào thị trường
thì các DN thường định ra mức giá thấp vì mục tiêu lúc này là sản phẩm được thị
trường chấp nhận. Đến khi sản phẩm được thị trường chấp nhận và ưa chuộng thì
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
15DN cần đưa ra mức giá để làm sao giá bán phải bù đắp được chi phí bỏ ra, nhanh
chóng thu hồi vốn và bước đầu thu được lợi nhuận.
5. Các yếu tố cấu thành việc xác đinh kết quả tiêu thụ

- Trường hợp bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức
chuyển hàng thì thời điểm ghi nhận doanh nghiệp thu là khi thu tiền của bên mua
hoặc bên mua chấp nhận thanh toán tiền.
5.2. Các khoản giảm trừ.
*. Chiết khấu thương mại
Chiết khấu thương mại là số tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã
thanh toán cho người mua do mua hàng hóa, dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa
thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các
cam kết mua, bán hàng.
*. Giảm giá hàng bán
Giảm giá hàng bán: Là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hóa đơn hay
hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng kém phẩm chất,
không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian, địa điểm trong hợp
đồng (do chủ quan doanh nghiệp). Ngoài ra tính vào khoản giảm giá hàng bán
còn bao gồm các khoản thưởng khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định
đã tiến hành mua một khối lượng hàng hóa trong một đợt.
*. Hàng bán bị trả lại
Hàng bán bị trả lại: Là số hàng đã được coi là tiêu thụ (đã chuyển giao
quyền sở hữu, đã thu tiền hay được người chấp nhận trả tiền) nhưng lại bị người
mua từ chối và trả lại do người bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế đã ký kết
nhưng không phù hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn, quy cách kỹ thuật, hàng kém phẩm
chất, không đúng chủng loại Tương ứng với hàng bán bị trả lại là giá vốn của
hàng bán bị trả lại (tính theo giá vốn khi bán) và doanh thu của hàng bán bị trả lại
cùng với thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng bán bị trả lại.
5.3. Doanh thu thuần
Doanh thu thuần: Là số chênh lệch giữa tổng số doanh thu với các khoản
giảm giá, chiết khấu thương mại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu.
5.4. Giá vốn hàng bán
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ


hàng hóa, dịch vụ.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
18Thuế
GTGT
đ
ầu ra
Giá trị tính thuế của
hàng hóa, dịch vụ chịu
thuế GTGT
Thuế suất thuế
GTGT của hàng
hóa, dịch vụ đó Thuế
GTGT
đầu v
ào
Tổng thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT
mua hàng hóa, dịch vụ hoặc hàng hoá, dịch
vụ nhập khẩu.
Mục đích của thuế GTGT là nhằm động viên một phần thu nhập của người
tiêu dùng cho ngân sách nhà nước, bảo đảm công bằng xã hội, kiểm soát kinh
doanh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Đối tượng nộp thuế GTGT bao gồm các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
19 Tiêu thụ đặc là loại thuế gián thu được trên thu nhập doanh nghiệp của một
số mặt hàng hóa nhất định mà doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (Rượu, bia, thuốc
lá, xăng các loại ). Mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế sản xuất hay
nhập khẩu các mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đều phải nộp thuế.
Đối với các hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, khi vận chuyển
trên đượng phải có đủ biên bản nộp thuế và giấy vận chuyển hàng hóa đã nộp thuế.
Đối với hàng dự trữ tại kho hàng, cửa hiệu phải có giấy tờ chứng minh đã nộp
thuế (Biên lai, hóa đơn)
Mỗi mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ phải chịu thuế này
một lần tức là sau khi mặt hàng đó đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu sản xuất thì
không phải chịu thuế lần thứ hai khi lưu thông trên thị trường. Cơ sở sản xuất mặt
hàng này chỉ chịu thuế tiêu thụ đặc biệc mà không chịu thuế GTGT, còn cơ sở
thương nghiệp kinh doanh mặt hàng đó chỉ chịu thuế GTGT mà không phải chịu
thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thuế xuất khẩu
Thuế xuất khẩu là loại thuế gián thu, thu vào vác hàng hóa được phép xuất
khẩu.
Đối tượng chịu thuế xuất khẩu là hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu
qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam (trừ hàng viện trợ quá cảnh, hàng tạm nhập tái
xuất, hàng viện trợ nhân đạo )
. Xác định kết quả tiêu thụ
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu
thuần và giá trị vốn hàng bán (gồm cả sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ), doanh thu
từ hoạt động tài chính, chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh

thực tế
Giảm giá hàng bán, chiết
khấu thương mại và doanh -
thu hàng bán bị trả lại
Thuế tiêu
thụ, thuế
xuất khẩu

Lợi nhuận thuần
từ hoạt động tài =
chính
Doanh thu thuần
từ hoạt động tài -
chính
Chi phí tài
chính

Doanh thu thuần
từ hoạt động tài =
chính
Doanh thu từ
hoạt động tài -
chính
Các khoản giảm trừ
doanh thu hoạt động
tài chính

Lợi nhuận khác = Thu nhập khác - Chi phí khác
* Chứng từ kế toán:
Tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở đơn vị đều phải được phản ánh vào

số lượng lớn. Hóa đơn này do người bán hàng lập khi bán hàng hóa, cung cấp dịch
vụ. Mỗi số hóa đơn được lập cho những hàng hóa, dịch vụ có cùng thuế suất. Trên
hóa đơn ghi rõ tên, địa chỉ, mã số thuế của bên bán hàng và bên mua hàng, hình
thức thanh toán, số thứ tự, tên hàng hóa…Hóa đơn GTGT được lập thành ba liên:
Liên 1: Lưu
Liên 2: Giao khách hàng
Liên 3: Dùng thanh toán
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
22 Khi viết hóa đơn phải đặt giấy than viết một lần in sang các liên có nội dung
như nhau. Hóa đơn nào viết sai thì phải gạch chéo toàn bộ tờ hóa đơn đó và không
được xé bỏ tờ hóa đơn đó đi.
+ Hóa đơn bán hàng (Mẫu số 02 GTTT - 3LL): Là hóa đơn sử dụng cho
các DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp. Hóa đơn này cũng được lập
thành ba liên như Hóa đơn GTGT.
+ Hóa đơn bán lẻ (sử dụng cho máy tính tiền) Mẫu số 07 - MTT
- Hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn: Bao gồm các chứng từ kế toán ban hành
theo Quyết định 48/ 2006/ QĐ- BTC:
+ Phiếu xuất kho (Mẫu số 02 - VT): Dùng để theo dõi lượng hàng hóa xuất
kho cho các đơn vị khác hoặc cho các bộ phận sử dụng trong đơn vị, làm căn cứ để
hạch toán chi phí kinh doanh. Phiếu xuất kho được lập thành ba liên:
Liên 1: Lưu ở bộ phận lập phiếu
Liên 2: Thủ kho giữ để ghi vào Thẻ kho và sau đó chuyển về phòng kế toán
Liên 3: Giao cho người nhận hàng hóa
+ Bảng thanh toán hàng đại lý ký gửi (Mẫu số 01 - BH): Phản ánh tình
hình thanh toán đại lý (ký gửi) giữa đơn vị có hàng và đơn vị nhận bán hàng. Là

+ Ghi sổ kế toán
+ Lưu trữ, bảo quản chứng từ kế toán.
II. Kế toán doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu.
1.1.Tài khoản sử dụng.
* Kế toán nghiệp vụ bán hàng sử dụng các tài khoản kế toán chủ yếu sau:
1.1.1. Doanh Thu.
* Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”:
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của
DN trong một kỳ kế toán.
Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 511 như sau:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ LỚP KT5 – K1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
24Bên Nợ:
- Số thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp tính trên doanh thu bán hàng
của hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng và được xác định là đã bán
trong kỳ kế toán.
- Số thuế GTGT phải nộp của DN nộp thuế GTGT tính theo phương pháp trực
tiếp.
- Các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại kết
chuyển cuối kỳ.
- Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh
doanh”.
Bên Có:
- Doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư và cung cấp dịch vụ
của DN thực hiện trong kỳ kế toán.
Tài khoản 511 không có số dư cuối kỳ

Đối với các DN áp dụng Chế độ Kế toán DN vừa và nhỏ theo quyết định
48/2006/QĐ - BTC ngày 14 9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính các khoản giảm
hàng bán, hàng bán bị trả lại đều được phản ánh trên tài khoản 521 “Các khoản
giảm trừ doanh thu”.
Tài khoản này có 3 tài khoản cấp 2:
+ Tài khoản 5211: Chiết khấu thương mại.
+ Tài khoản 5212: Hàng bán bị trả lại.
+ Tài khoản 5213: Giảm giá hàng bán.
1.1.3. tài khoản thuế và các khoản phải nộp nhà nước.
Phản ánh thuế GTGT đầu ra, phản ánh thuế GTGT hàng nhập khẩu phải nộp, số
thou GTGT được kháu trừ, số thuế GTGT còn phải nộp cho ngân sách nhà nước,
Tk 333 có 9 Tk cấp 2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status