17
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 68, 2011
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÓI NGHÈO
CỦA CÁC NÔNG HỘ Ở HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Lê Văn Dũng, Nguyễn Quang Trường
Trường Trung cấp Kinh tế Quảng Bình
TÓM TẮT
Công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong những năm
qua đã có nhiều kết quả khả quan (tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm giảm 3,7%). Tuy nhiên,
tỷ lệ hộ nghèo vẫn đang còn cao (24,12% năm 2011), nguy cơ hộ bị nghèo rất lớn (trên 22,5%
hộ thuộc diện cận nghèo).
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với những hộ nghèo, số lao động chính, vốn dùng cho
sản xuất kinh doanh và trình độ
văn hóa của chủ hộ thấp hơn những hộ không thuộc diện hộ
nghèo.
Có nhiều nhân tố làm cho người nông dân rơi vào diện hộ nghèo. Trong đó có các nhân
tố thuộc về đặc điểm của hộ, kết quả nghiên cứu cho thấy, những hộ dân sống ở vùng miền núi
và là người dân tộc Vân Kiều có nguy cơ lớn nhất, tiếp đến là những hộ thuần nông, những hộ
thiếu lao động, thiếu vốn.
Để đạt được mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 2%/năm của huyện Quảng Ninh
giai đoạn 2011 - 2015, các giải pháp để xóa đói giảm nghèo cần triển khai thực hiện theo định
hướng: (1) Gắn giảm nghèo với đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội; (2) Nâng
cao năng lực sản xuất của người nghèo, tạo điều kiện cho ngườ
i nghèo tiếp cận với các dịch vụ
sản xuất tự vươn lên thoát nghèo.
1. Mở đầu
Quảng Ninh là một huyện nằm trong khu vực các tỉnh duyên hải miền Trung,
và phân tích hồi quy.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Thực trạng hộ nghèo ở huyện Quảng Ninh
2.1.1. Số lượng và tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2006 - 2011
Nhờ công tác xóa đói giảm nghèo triển khai nên tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ
32,4% năm 2006 còn 14,0% năm 2010 (bình quân mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo giảm 3,7%)
[4]. Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng sinh thái cũng khác nhau. Cao nhất là ở vùng núi, tiếp
đến là ven biển.
Bảng 1. Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo ở huyện Quảng Ninh thời kỳ 2006 - 2011
Phân theo vùng
Năm Tổng số
Vùng
đồng bằng
Vùng
miền núi
Vùng
ven biển
1. Số hộ nghèo
2006 6.652 5.489 817 346
2007 4.248 3.418 591 239
2008 3.747 3.014 504 229
2009 3.247 2.628 476 143
2010 2.970 2.420 434 116
2011 5.432 4.373 791 268 19
2. Tỷ lệ hộ nghèo
2006 32,4 29,7 67,4 41,2
2007 19,7 17,8 43,6 26,2
***
Vùng đồng bằng 22 100,0 38 100,0
Không có lao động 1 4,5 0 0
Từ 1 đến 2 lao động 19 86,4 26 68,4 20
Trên 2 lao động 2 9,1 12 31,6
Trung bình (l. động) 1,77 2,21
**
Vùng ven biển 32 100,0 28 100,0
Không có lao động 7 21,9 0 0
Từ 1 đến 2 lao động 20 62,5 12 42,9
Trên 2 lao động 5 15,6 16 57,1
Trung bình (l. động) 1,56 2,64
***
Bình quân 93 100,0 87 100,0
Không có lao động 14 15,1 0 0
Từ 1 đến 2 lao động 56 60,2 45 51,7
Trên 2 lao động 23 24,7 42 48,3
Trung bình (l. động) 1,86 2,51
***
Ghi chú: **, ***: Có ý nghĩa thống kê tương ứng các mức 95%, 99%.
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả.
So sánh 2 loại hộ theo các quy mô lao động cho thấy, số hộ nghèo có liên quan
mật thiết với số lao động trong hộ. Trong số 14 hộ điều tra không có lao động, hầu hết là
Vùng ven biển 4,318 18,263
***
Bình quân 3,156 11,719
***
Ghi chú: ***: Có ý nghĩa thống kê 99%.
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực sản xuất của các hộ nghèo hạn chế rất
nhiều so với những hộ không nghèo. Bên cạnh đó tỷ lệ người ăn theo trong các hộ
nghèo lại cao hơn những hộ không nghèo. Những khác biệt này sẽ ảnh hưởng đến kết
quả sản xuất và thu nhập của các thành viên trong hộ.
2.1.2.3. Trình độ văn hóa của chủ hộ
Trình độ văn hóa của chủ hộ có ảnh hưỏng rất lớn trong việc tiếp thu khoa học
kỹ thuật, đến quá trình tổ chức điều hành sản xuất cũng như chi tiêu của hộ [6]. Kết quả
điều tra tổng hợp ở bảng 3.10 cho thấy trình độ của những hộ nghèo thấp hơn nhiều so
với những hộ không nghèo. Trình độ trung bình của chủ hộ là nghèo là lớp 5 còn những
hộ không nghèo là lớp 8.
Bảng 4. Trình độ văn hóa của chủ hộ
Hộ nghèo Hộ không nghèo
Trình độ chủ hộ
Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ Tỷ lệ (%)
Chưa tốt nghiệp TH 34 36,6 5 5,7
Tốt nghiệp TH 36 38,7 25 28,7
Tốt nghiệp THCS 20 21,5 31 35,6
Tốt nghiệp THPT 3 3,2 26 29,9
Trung bình (năm) 5,11 8,05
***
Trong đó: - Pi là xác suất hộ rơi vào nghèo; 1-Pi là xác suất hộ không rơi vào
nghèo; Li là log của tỷ số hai xác suất nghèo và không nghèo của hộ; β và β
i
là hệ số tự
do và các hệ số hồi quy tương ứng của các nhân tố; Xi là các nhân tố ảnh hưởng đến khả
năng nghèo của hộ gia đình; n là số các nhân tố có trong mô hình.
Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi xem xét mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố là các đặc điểm của hộ gia đình đến khả năng nghèo của hộ. Đó là vùng sinh thái, dân
tộc, ngành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh, quy mô nhân khẩ
u, số lao động, trình
độ văn hóa của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, vốn cho sản xuất kinh doanh, diện tích
canh tác đất lâm nghiệp, cây lâu năm, cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản.
Sau khi loại ra khỏi mô hình những biến không có ý nghĩa thống kê, kết quả hồi
quy được thể hiện ở bảng 5.
Từ số liệu ở bảng 5 cho thấy, mô hình đưa ra là hợp lý (kiểm định χ2 của mô hình là
192,054 tại mức 10 bậc tự do với mức ý nghĩa thống kê 99%). McFadden R2 bằng 0,7703
chứng tỏ 77,03% xác suất hộ rơi vào nghèo được giải thích bởi các biến đưa vào trong mô
hình.
Khả năng dự đoán đúng hộ bị nghèo của mô hình là 91,4%. Hệ số C và các hệ số
β
i
của các biến độc lập đều có ý nghĩa thống kê ở mức 90%, 95% và 99%, riêng biến
vùng ven biển (BIEN) không có ý nghĩa thống kê trong việc xem xét ảnh hưởng đến xác
suất bị nghèo của hộ điều tra.
Bảng 5. Ảnh hưởng của các nhân tố đến khả năng nghèo của hộ
Chỉ tiêu Hệ số β
i
EXP(β
i
)
LAM (Diện tích canh tác đất lâm nghiệp) -0,995337
***
-0,369
CHN (Diện tích canh tác cây hàng năm) -1,684497
***
-0,186
LR statistic (10 df) 192,0538
***
McFadden R-squared 0,7703
Tỷ lệ dự đoán đúng (%):
- Hộ nghèo 91,40
- Hộ không nghèo 94,25
Ghi chú:
- *,**,***: Có ý nghĩa thống kê tương ứng với các mức 90, 95%, 99%.
- ns: Không có ý nghĩa thống kê.
Nguồn: Xử lý từ số liệu điều tra.
Các hệ số β
i
của biến NUI, DANTOC, KHAU, NONG là dương. Điều đó cho
biết khi giá trị của các biến này tăng thì nguy cơ bị nghèo của hộ cũng tăng lên. Ngược
lại các biến khác có hệ số là âm cho biết các nhân tố này ảnh hưởng ngược chiều với
khả năng bị nghèo của hộ, nghĩa là khi giá trị của các biến tăng thì khả năng bị nghèo
của hộ sẽ giảm xuống.
Các hệ số β ở bảng 3 cho biết ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng nghèo của hộ là
sinh sống ở vùng miền núi và là người dân tộc Vân Kiều. Giả định các yếu tố khác
không đổi, nếu hộ sống ở vùng đồng bằng chuyển lên sống ở vùng miền núi thì tỷ lệ
giữa xác suất nghèo và không nghèo của hộ cao hơn 48,03 lần so với tỷ lệ ban đầu. Nếu
là hộ người dân tộc Vân Kiều thì tỷ lệ giữa xác suất nghèo và không nghèo sẽ cao hơn
78,54 lần so với người Kinh khi các yếu tố khác cố định. Tương tự nếu hộ là thuần nông
vay cho xóa đói giảm nghèo: như Ngân hàng Chính sách xã hội cần tăng số lượng cho
vay, hình thành các nhóm tiết kiệm từ đó hỗ trợ nhau về vốn sản xuất, hình thành và
phát triển các quỹ tín dụng nhân dân theo mô hình của xã An Ninh, Gia Ninh
- Cần tăng cường hơn công tác tuyên truyền, vận động và triển khai đồng bộ, có
hiệu quả các hoạt động thực hiện chính sách Dân số- Kế hoạch hóa gia đình. Trong đó
cần cải tiến phương pháp tuyên truyền vận động theo hướng dễ hiểu. Nhân rộng mô
hình tủ sách văn hóa ở các thôn, các điểm Bưu điện văn hóa xã
- Trình độ văn hóa của người nông dân là một nhân tố có mức độ ảnh hưởng lớn
đến nguy cơ nghèo của hộ. Tuy nhiên, việc nâng cao trình độ của hộ nghèo không phải
là dễ. Giải pháp trước mắt để người nông dân nghèo có khả năng tiếp cận các tiến bộ
khoa học kỹ thuật cũng như quyết định các vấn đề của sản xuất phải bằng con đường
khuyến nông.
- Khuyến khích và thúc đẩy các thành phần kinh tế, ngành nghề truyền thống
phát triển, tạo thêm nhiều việc làm, giảm thiểu tỷ lệ lao động “nông nhàn” ở nông thôn.
- Tiếp tục đầu tư để phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc bi
ệt ở các xã vùng
núi để cải thiện cơ sở hạ tầng, môi trường sống, đặc biệt là đối với vùng dân tộc Vân
Kiều sinh sống.
3. Kết luận và kiến nghị
Tỷ lệ hộ nghèo của huyện trong những năm lại đây đã giảm. Tuy nhiên, vẫn còn
cao so với mức trung bình chung của toàn tỉnh.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến đói, nghèo của các nông hộ. Trong đó, hộ
ở
vùng miền núi, người dân tộc Vân Kiều, quy mô nhân khẩu và hộ thuần nông có tác 25
động cùng chiều với nguy cơ nghèo của hộ. Ngược lại, các yếu tố như đất canh tác, lao
động, vốn dùng cho sản xuất kinh doanh cũng như trình độ học vấn của chủ hộ có tác
động ngược chiều với khả năng nghèo của hộ.
[5]. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Bình, Báo cáo Chương trình mục
tiêu xóa đói giảm nghèo năm 2010, 2011.
[6]. Vũ Đình Thắng, Vấn đề việc làm cho lao động ở nông thôn, Tạp chí Kinh tế và Phát
triển, số 57, (2002), 21-23. 26
STUDY ON THE FACTORS TO POVERTY
OF FARMER HOUSEHOLDS IN QUANG NINH DISTRICT,
QUANG BINH PROVINCE
Le Van Dung, Nguyen Quang Truong
School of Economics Quang Binh
SUMMARY
The work of eliminating hunger and reducing poverty in Quang Ninh District, Quang
Binh Province in a past few years has achieved some satisfactory results (the rate of poor
households reduces 3,7 % per year on average). However, the rate of poor households is still
high (24,12% in 2011), the risk of becoming poor households is very high as well (over 22,5%
of households is considered as near poor households)
The results of the study show that the main labour, the capital for business producing
and educational level of householders in poor households are lower than those in households
that are in better conditions.
There are many factors contributing to people falling into poor household situations,
among which, some factors depend on household’s characteristics, according to the study,
people who live in mountain areas and who belong to Van Kieu ethnic have greatest risks,
beside specialized agricultural households or households which lack labour and capital.
In order to achieve the goal of reducing the rate of poor households to an average of
over 2% per year in Quang Ninh District in the period 2011-2015, the solutions to the
eliminating of hunger and reducing of poverty need to deploy to the orientation: (1) Associate
reducing poverty in promoting growth and social-economic development; (2) Raise the
production capacity of the poor, create conditions for them approach with production services