thực trạng bảo vệ rừng ở việt nam hiện nay - Pdf 11

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Đề tài nghiên cứa khoa học:
THỰC TRẠNG BẢO VỆ RỪNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Mục lục
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1.Lý do chọn chuyên đề 3
Mục đích nghiên cứu 5
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 6
1.1. Vai trò của rừng 6
1.1.1. Vai trò phát triển kinh tế - xã hội: 6
1.1.2. Vai trò phòng hộ và bảo vệ môi trường sống: 7
1.2.1. Quan điểm 8
1.2.2. Mục tiêu 9
2.2. Tình hình cháy rừng và chặt phá rừng hiện nay 11
2.3. Diện tích rừng bị chặt phá trái phép tăng báo động 15
2.4. Tình hình bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay 17
2.4.1. Bộ máy bảo vệ rừng của Việt Nam 17
2.4.2. Bảo vệ rừng và thừa hành pháp luật 2009 17
2.4.3. Tình hình ngăn chặn nạn phá rừng hiện nay 21
2.4.4. Xóa 30% tụ điểm phá rừng, khai thác lâm sản trái phép 23
CHƯƠNG III: NGUYÊN NHÂN VÀ BẢO VỆ RỪNG HIỆN NAY 24
3.1. Nguyên nhân dẫn đến diện tích rừng bị suy giảm 24
3.2. Biện pháp bảo vệ rừng 26
3.2.1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý
bảo vệ rừng 26
3.2.2. Quy hoạch, xác định lâm phận các loại rừng ổn định 27
3.2.3. Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật 27
3.2.4. Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự
tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng 28

bình quân của thế giới là 0,97 ha/ người. Các số liệu thống kê cho thấy, đến
năm 2000 nước ta có khoảng gần 11 triệu hecta rừng, trong đó rừng tự nhiên
chiếm khoảng 9,4 triệu hecta và khoảng 1,6 triệu hecta rừng trồng; độ che
phủ của rừng chỉ đạt 33% so với 45% của thời kì giữa những năm 40 của thế
kỉ XX. Tuy nhiên, nhờ có những nỗ lực trong việc thực hiện các chủ trương
chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, "phủ xanh
đất trống đồi núi trọc" nên nhiều năm gần đây diện tích rừng ở nước ta đã
tăng 1,6 triệu hecta so với năm 1995, trong đó rừng tự nhiên tăng 1,2 triệu
hecta, rừng trồng tăng 0,4 triệu hecta.
Công tác quản lí, quy hoạch tài nguyên rừng cũng có những chuyển động
tích cực. Trên phạm vi cả nước đã và đang hình thành các vùng trồng rừng
tập trung nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất. Chẳng hạn, vùng Đông
bắc và Trung du Bắc bộ đã trồng 300 nghìn hecta rừng nguyên liệu công
nghiệp, Bắc Trung bộ có 70 nghìn hecta rừng thông. Ngoài ra, hơn 6 triệu
hecta rừng phòng hộ và 2 triệu hecta rừng đặc dụng được quy hoạch, đầu tư
phát triển nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học; có tới 15
vườn quốc gia và hơn 50 khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng, quy hoạch
và quản lí Trong 10 năm qua, hàng năm giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt xấp
xỉ 6 nghìn tỷ đồng, chiếm 5-7% giá trị sản lượng nông, lâm thuỷ sản.
Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như
trong bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song nhìn chung chất
lượng rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít mà trong
đó có tới hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng còn thấp.
Đặc biệt, nguồn tài nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy
cơ nghiêm trọng như bị huỷ hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa
dạng sinh học của rừng đã thực sự là những lời cảnh báo nghiêm khắc đối
với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng
và bảo vệ môi trường sống- chiếc nôi dung dưỡng sự sống của con người -
nói chung. Vì vậy chúng tôi chọn chuyên đề “ Bảo vệ rừng” để nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu.

hoạt động trồng, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác và chế biến
lâm sản, góp phần vào việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, giải
quyết một vấn đề bức xúc hiện nay vùng trung du và miền núi.
1.1.2. Vai trò phòng hộ và bảo vệ môi trường sống:
• Về tác dụng phòng hộ:
Rừng có khả năng cải tạo khí hậu, ngăn cản gió nóng, gió lạnh, hạn
chế tác hại của gió bão, bảo vệ mùa màng nông ngiệp và nâng cao năng suất
hoa màu. Trên những vùng đất bị úng nước, chua phèn, rừng tràm có tác
dụng cải tạo đất từ hoang hóa thành vùng sản xuất thuận lợi. Ở những vùng
núi cao, rừng có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, nuôi dưỡng nguồi nước, điều
tiết nước và cung cấp nước cho các dòng sông, chống lại mọi sự biến động
nguy hại khác cho dòng chảy như làm giảm các chất lắng đọng trong các
dòng sông, góp phần ngăn chặn hiện tượng bồi đắp của các hồ chứa nước,
các hệ thống tưới tiêu của sông, các công trình thủy điện. Ở những vùng ven
biển, rừng cây ngập mặn không chỉ chống gió bão mà còn ngăn chặn sự di
động của các cồn cát phủ ven biển, cố định phù sa tạo điều kiện cho đất bồi
tụ, chắn sóng và bảo vệ đê ven biển. Đặc biệt, rừng chống cát bay ở vùng
ven biển Miền Trung đã ngăn cản cát vùi lấp xóm làng, nhà cửa, đường xá…
và biến vùng đất cát trắng thành vùng đất canh tác Chính vì tác dụng
phòng hộ nói trên, người ta đã ví “rừng là người vệ sĩ của nhà nông”.
• Về tác dụng cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường sống:
Khoa học ngày nay đã đủ dẫn liệu chứng minh rằng rừng là lớp thảm
thực vật có tác dụng lớn nhất trong việc chống ô nhiễm môi trường. Rừng là
“lá phổi xanh” của trái đất thải ra 0
2
và hấp thụ C0
2
của khí quyển trong quá
trình đồng hóa của cây xanh đối với môi trường. Rừng tạo ra sự trong sạch
bầu khí quyển, giữ cân bằng lượng 0

- Bảo vệ rừng gắn với phát triển, sử dụng rừng bền vững, duy trì diện tích
lâm phần rừng ổn định, chú trọng bảo vệ rừng tận gốc và kiểm soát lâm sản
tại nơi chế biến, tiêu thụ, hạn chế kiểm soát trong lưu thông.
1.2.2. Mục tiêu
a) Mục tiêu tổng quát:
- Nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ ổn định lâm phận các loại
rừng; phát huy vai trò, lợi thế của từng loại rừng, trên cơ sở bảo tồn, sử
dụng, cung cấp các dịch vụ và phát triển rừng bền vững, góp phần phát triển
kinh tế và xã hội, duy trì các giá trị đa dạng sinh học của rừng, góp phần tích
cực bảo vệ môi trường và thích ứng, giảm thiểu biến đổi khí hậu.
b) Mục tiêu cụ thể:
- 8,5 triệu hécta rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn được bảo vệ
nghiêm ngặt, từng bước chấm dứt tình trạng khai thác trái phép, cháy rừng
đối với hai loại rừng này.
- Giảm căn bản tình trạng vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và
phát triển rừng, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng trái phép và
thiệt hại do cháy rừng gây ra; bảo đảm kinh doanh bền vững đối với rừng
sản xuất.
- Xóa bỏ căn bản các tụ điểm khai thác, kinh doanh buôn bán lâm sản trái
phép; chấm dứt tình trạng chống người thi hành
công vụ.
- Tăng độ che phủ của rừng lên 43% vào năm 2010, cải thiện chất lượng
rừng đáp ứng yêu cầu về phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
2.1. Diện tích rừng và đất rừng hiện nay.
Tính đến 2008, tổng diện tích tự nhiên các đơn vị được giao theo quyết
định và quy hoạch cho các dự án trồng rừng là: 176.117 ha, bao gồm
Đất rừng sản xuất; 129.948ha - Rừng tự nhiên: 30.786 ha - Rừng trồng:
42.643 ha - Đất trống: 56.519 ha

Thống kê từ hệ thống ảnh vệ tinh địa tĩnh của Cục Kiểm lâm, tổng số điểm
cháy trong tháng 1/2010 là 961 điểm; tháng 2/2010 là 2.760 điểm. Khi xảy
cháy ở rừng Hoàng Liên, lúc đầu tôi cũng nhận được số liệu báo cáo của tỉnh
Lào Cai là diện tích thiệt hại lên đến 1.700, rồi sau đó thống kê lại con số là
1000 ha.
Qua quan sát tính toán nhanh thông qua ảnh vệ tinh, thì con số thiệt hại của
rừng Hoàng Liên là hơn 700 ha. Đến ngày 8/3/2010 toàn bộ các điểm cháy
tại rừng Tà Xùa cũng đã được dập tắt, thiệt hại do cháy rừng Tà Xùa là hơn
60 ha.
Theo số liệu thống kê, cảnh báo tình hình tàn phá rừng U Minh, đây là khu
rừng thuộc vào rừng bảo vệ Quốc gia, nhưng chúng ta thấy được hậu quả
khôn lường của những vụ tàn phá rừng trước đây và gần đây nhất là thảm
họa cháy rừng U Minh (3/2002), đã khiến cho gần 8 nghìn hecta rừng U
Minh Thượng và U Minh Hạ bỗng chốc trở thành đống tro tàn, đã thực sự là
những lời cảnh báo nghiêm khắc đối với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và
phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ môi trường sống- chiếc nôi
dung dưỡng sự sống của con người - nói chung. Cũng cần nhấn mạnh rằng,
những cánh rừng tràm bạt ngàn đầy tính huyền thoại của U Minh xưa không
chỉ bị huỷ hoại, bị biến mất do hoả hoạn mà còn do hậu quả tai hại của nạn
chặt phá rừng bừa bãi để trồng rẫy, trồng lúa, nuôi tôm và nạn lâm tặc hoành
hành. Tuy chưa có số liệu thống kê cụ thể, nhưng theo nhiều ý kiến thì
những thiệt hại của sự tàn phá rừng từ những lí do nêu trên có lẽ cũng không
thua kém là bao so với những thảm hoạ cháy rừng. Tổng diện tích rừng U
Minh ( gồm U Minh Thượng và U Minh Hạ) sau thảm họa cháy vừa qua chỉ
còn lại khoảng 60 nghìn hecta - một con số nhỏ nhoi so với diện tích hơn
200 nghìn hecta vốn có của nó 50 năm trước.
Thực tiễn ở U Minh cho thấy, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng cần
phải được tiếp cận và tiến hành gắn liền với các biện pháp quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội để "người dân có thể dựa được vào rừng để sống,
nhưng cũng có biện pháp bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả nhất" như

8. Bình Phước
56 6 11.20 4.30 6.90
9. Bà Rịa V.Tàu
41 2917 17 291 48 1 6.00 6.00
10. Bình Thuận
50 44 2 262 78
11.Bến Tre
12. Cao Bằng
2084 206 11 34.98 18.30 16.68
13. Cà Mau
1 5 576 123 16 11 2 2.65 2.65
14. Điện Biên
11 9 1179 115
15. Đắc Lắc
120 140 2 21.06 21.06
16. Đồng Nai
6 118 4,568.0 62 170 62
17. Đắc Nông
25 260 5 134 63
18. Đồng Tháp
15 59 570 29 50 14 9 179.78 179.78
19. Gia Lai
392 22 417 176 3 62.90 62.90
20. Hậu Giang
1 2 119 14 51 14
21. Hoà Bình
1 26 1337 223
22. TP HCM
39 54 66 11 19
23. Hải Dương

39. Nghệ An
13 256 84 3159 313 11 9.70 9.70
40. Ninh Bình
8 50
41. Nam Định
42. Ninh Thuận
10 28 193 35 18 23.05 21.25 1.80
43. Phú Thọ
10 76 3 800 188 3
44. Phú Yên
5 1 130 38 4 147.10 147.10
45. Quảng Bình
17 481 65 7 13.00 13.00
46. Quảng Nam
3 31 1 651 162
47. Quảng Ngãi
1 14 4 704 76 5 15.70 15.70
48. Quảng Ninh
5 841 25 654 155 29 96.12 96.12
49. Quảng Trị
312 62 13 152.30 152.30
50. Sơn La
1 2.00 2.00
51. Sóc Trăng
21 20 1
52. Thanh Hoá
375 19 60 27 1457 230 3 13.56 13.56
53. Thái Nguyên
12 1 1106 119 8 11.85 11.85
54. Tây Ninh

(Nguồn từ cục thống kê)
2.3. Diện tích rừng bị chặt phá trái phép tăng báo động.
Diện tích rừng bị chặt phá và cháy tăng gấp 2,6 lần cùng kỳ năm trước.
Tổng cục thống kê cho thấy trong hai tháng đầu năm 2010 diện tích rừng bị
cháy và phá lên tới1.210,8 ha, gấp 2,6 lần so với cung kỳ năm trước. Trong
đó diện tích rừng bị cháy 1029,4 ha, gấp 2,7 lần, diện tích rừng bị chặt phá
181,4 ha giảm 42 %. Những tỉnh có diện tích rừng bị chặt phá nhiều nhất
gồm Bình Phước 671ha (tăng gấp 7 lần so với cùng kỳ năm ngoái), Kon
Tum 54ha (tăng 7 lần), Ninh Thuận 35ha (tăng 4 lần), Gia Lai 84ha (tăng
gấp 3,5 lần), Lâm Đồng 170ha (tăng 3 lần)
(160ha rừng phòng hộ khu vực hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) nay đã bị đốn
trụi).
Theo Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm Lê Văn Thăng, một số vụ phá rừng
trọng điểm còn đe dọa nghiêm trọng đến cảnh quan và việc bảo vệ, phòng
chống thiên tai của rừng, điển hình như vụ chặt trắng 160ha rừng phòng hộ
khu vực Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên); vụ phá 386ha rừng phòng hộ ven biển,
diễn ra từ năm 2001, để nuôi trồng thủy sản tại Tràng Cát (Hải An, Hải
Phòng), trong khi đây là khu vực rừng do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trồng
bằng nguồn tài trợ của Nhật Bản. Và mới đây nhất là tình trạng phá rừng,
bao chiếm đất để trồng cây công nghiệp rồi sang nhượng trái phép ở Đắk
Nông, Bình Phước, Bình Thuận
Cục Kiểm lâm nhận định, mặc dù tổng số vụ vi phạm các quy định của
Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng có giảm so với trước (khoảng 34%), song,
mức độ vi phạm lớn hơn và diễn biến phức tạp. Các hành vi chặt phá rừng
trái phép gia tăng đáng kể, có những vụ huy động tới 200-300 người có tổ
chức dùng gậy, đá chống đối và hành hung các lực lượng kiểm lâm, làm
nhiều người bị thương. Đặc biệt, tại các vùng trọng điểm ở Tây Nguyên và
Nam Trung Bộ chưa triển khai các biện pháp giải quyết có hiệu quả
2.4. Tình hình bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay.
2.4.1. Bộ máy bảo vệ rừng của Việt Nam

nhất với đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tăng thêm
biên chế cho lực lượng kiểm lâm và một số đề nghị chính đáng khác. Năm
qua, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, sự phối hợp tích
cực của các đơn vị liên quan, cùng với cố gắng nỗ lực của toàn thể cán bộ,
công chức, viên chức kiểm lâm, lực lượng kiểm lâm đã đạt những thắng lợi
cơ bản và được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên
năm 2009, tình hình thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, đầu năm khô hạn,
cuối năm mưa bão dồn dập ảnh hưởng bất lợi tới tài nguyên và công tác bảo
vệ rừng, nhất là các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Giá một số loại lâm sản
tăng cao, nhất là các loại gỗ quý hiếm. Đây là nguyên nhân làm cho tình
hình phá rừng ở một số địa phương, nhất là rừng giáp ranh các tỉnh còn xảy
ra, có lúc, có nơi khá nghiêm trọng.
Tình hình chống người thi hành công vụ diễn ra ngày càng gay gắt, gây
hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến kỷ cương pháp luật, tạo bức xúc
trong xã hội. Năm 2009, cả nước xảy ra 45 vụ chống người thi hành công vụ
gây hậu quả nghiêm trọng, tăng 9 vụ so với cùng kỳ năm 2008, làm chết 3
người bị thương 23 người. Xuất hiện nhiều vụ chống đối côn đồ có tổ chức
(tổ chức canh gác, đặt bẫy chông, huy động nhiều người) đập phá phương
tiện, đâm xe vào lực lượng kiểm tra, đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài
sản của người thi hành công vụ và thân nhân. Tình trạng này tập trung ở các
địa phương như Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Định, Hà Tĩnh, Nghệ An,
Quảng Bình, Bình Phước, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Phú Yên, Kon Tum,
Đăk Lăk, Vườn quốc gia Cúc Phương, Yok Don, Cát Tiên.
Để bảo vệ rừng, ngay từ đầu năm 2009, kiểm lâm cả nước đã tổ chức ra
quân thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ công chức kiểm lâm
bám rừng, bám dân, bám chính quyền địa phương để bảo vệ rừng. Các địa
phương đã đấu tranh kiên quyết với tình hình phá rừng, chống người thi
hành công vụ, công tác quản lý động vật hoang dã. Đôn đốc và hướng dẫn
các địa phương thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng, ứng trực

bắc và Trung du Bắc bộ đã trồng 300 nghìn hecta rừng nguyên liệu công
nghiệp, Bắc Trung bộ có 70 nghìn hecta rừng thông. Ngoài ra, hơn 6 triệu
hecta rừng phòng hộ và 2 triệu hecta rừng đặc dụng được quy hoạch, đầu tư
phát triển nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học; có tới 15
vườn quốc gia và hơn 50 khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng, quy hoạch
và quản lí Trong 10 năm qua, hàng năm giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt xấp
xỉ 6 nghìn tỷ đồng, chiếm 5-7% giá trị sản lượng nông, lâm thuỷ sản.
Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như
trong bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song nhìn chung chất
lượng rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít mà trong
đó có tới hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng còn thấp.
Đặc biệt, nguồn tài nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy
cơ nghiêm trọng như bị huỷ hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa
dạng sinh học của rừng.
2.4.3. Tình hình ngăn chặn nạn phá rừng hiện nay.
Mặc dù các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp ngăn chặn nạn phá
rừng, nhưng thời gian gần đây, rừng Tây Nguyên vẫn “rỉ máu”. Trên những
cánh rừng của đại ngàn, lâm tặc vẫn hoành hành, trong khi công tác đấu
tranh, ngăn chặn gặp không ít khó khăn
Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, nạn lâm tặc ở Tây Nguyên thời
gian gần đây không diễn ra một cách rầm rộ về quy mô, số lượng gỗ bị khai
thác như ở một số địa phương khác, mà diễn ra một cách “âm ỉ” theo kiểu
“mưa dầm thấm lâu”. Số đối tượng cầm đầu các ổ, nhóm chuyên hoạt động
khai thác gỗ trộm từ các địa bàn nội địa lên khu vực biên giới dưới các danh
nghĩa khác nhau như thăm thân, mua bán, trao đổi hàng hóa để tiến hành
khảo sát, xác định khu rừng có nhiều loại gỗ có giá trị cao, đường vận
chuyển.
Điều chúng đặc biệt quan tâm là hoạt động của các lực lượng chức năng.
Sau đó, chúng tiến hành đưa người được trang bị công cụ như máy cưa lốc,
búa, rìu, phương tiện vận chuyển, lợi dụng sơ hở của cơ quan chức năng để

thực hiện hành vi khai thác trộm gỗ, chẳng hạn đóng giả người đi làm nương
rẫy để che mắt cơ quan chức năng nên rất khó phát hiện. Ngày 7-6-2009, tổ
công tác của Đồn BP Ia Chia, BĐBP Gia Lai phát hiện, xử lý hành chính 1
vụ/5 lâm tặc đang trên đường vào khu vực biên giới với lý do “đi phát nương
làm rẫy”. Các chiến sĩ BP đã kịp thời phát hiện các phương tiện, công cụ của
chúng mang theo gồm 1 xe U Oát, 1 xe độ chế, 1 máy cưa lốc
Đáng chú ý, trong các vụ việc mà lực lượng BĐBP các tỉnh Tây Nguyên
phát hiện, bắt giữ, có nhiều vụ đối tượng đã tổ chức khai thác rừng “xuyên
quốc gia” sang cả rừng ở khu vực biên giới đối diện: Trong tháng 1 và tháng
5-2009, Đồn BP Ia Nan, BĐBP Gia Lai phối hợp với lực lượng bảo vệ biên
giới Cam-pu-chia bắt giữ 3 vụ/6 đối tượng, thu giữ tang vật gồm 3m3 gỗ
(nhóm 3), 1 xe độ chế, 1 xe công nông và 1 xe trâu kéo.
Với quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ BĐBP các tỉnh Tây Nguyên trong thời
gian qua, đến nay, hoạt động lâm tặc trên địa bàn đã giảm đáng kể. Tuy
nhiên, để chấm dứt tình trạng này, thời gian tới BĐBP cũng như các lực
lượng Kiểm lâm, Công an cần nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ
thường xuyên hơn nữa của đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới, chính
quyền địa phương trong việc cung cấp thông tin và tham gia đấu tranh chống
hoạt động của loại tội phạm này.
2.4.4. Xóa 30% tụ điểm phá rừng, khai thác lâm sản trái phép
Theo nhận định của Cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông
thôn (NN-PTNT) tại Hội nghị Sơ kết một năm thực hiện Chỉ thị số 12
của CP về việc tăng cường các biện pháp cấp bách bảo vệ và phát triển rừng
(Hà Nội, ngày 9/8), dù số vụ phá rừng và khai thác gỗ trái phép giảm 12%
kể từ năm 2000, tình trạng phá rừng vẫn xảy ra nghiêm trọng ở một số địa
phương.
Đáng lo ngại là vẫn còn tới 14/56 tỉnh có rừng tồn tại tình trạng phá rừng,
thậm chí, tình trạng này còn gia tăng trong năm qua (20-25%), mà điển hình
là Thừa Thiên - Huế, Phú Thọ, Thái Nguyên, Kiên Giang với gần 40%,
Thanh Hóa 26% Các vụ phá rừng trọng điểm tập trung tại các tỉnh Tây

nhanh, quỹ đất lâm nghiệp bị xâm hại. Giá gỗ rừng tự nhiên tăng cao, buôn
bán gỗ trái pháp luật mang lại lợi nhuận lớn, có thu nhập ngay nên kích thích
người dân khai thác gỗ. Giá nông sản tăng cao kích thích phá rừng lấy đất
sản xuất nông nghiệp. Về chủ quan chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp
xã ở những nơi trọng điểm phá rừng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản
lý Nhà nước về bảo vệ rừng thiếu tích cực, thường xuyên. Thiếu sự phối hợp
đồng bộ giữa các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức bảo vệ rừng, đấu
tranh chống các hành vi vi phạm, điều tra, xử lý kẻ cầm đầu. Cán bộ, cơ
quan công quyền cơ sở một số nơi có biểu hiện vì lợi ích cục bộ, làm ngơ,
thậm chí tiếp tay cho hành vi vi phạm. Cấp xã thiếu phương tiện và kinh phí
để tổ chức các hoạt động bảo vệ rừng. Các lâm trường quốc doanh, Ban
quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đang quản lý trên 6.504.373ha nhưng
năng lực quản lý bảo vệ rừng hạn chế, không đủ sức bảo vệ rừng được giao,
tình trạng này tương tự đối với số diện tích do cấp xã quản lý là
2.537.441ha. Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác đang
quản lý 4.076.959ha rừng hầu hết có quy mô nhỏ không thể tự tổ chức lực
lượng bảo vệ rừng. Nhiều địa phương đã cho phép triển khai các dự án cải
tạo rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng; xây dựng các công trình thủy
điện chưa tính toán toàn diện, không chú trọng công tác tuyên truyền tạo tâm

Trích đoạn Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân Ứng dụng khoa học công nghệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status