| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2006, Số 6 (6) 41
Hiệu quả dự án "Làm sạch bầu không khí
khỏi ô nhiễm khói thuốc: tạo môi trường
lành mạnh và an toàn cho trẻ em"
PGS. TS. Nguyễn Khắc Hải; ThS. Đặng Anh Ngọc;
ThS. Nguyễn Tuấn Lâm và BS Nguyễn Văn Thích
Nghiên cứu can thiệp làm giảm hút thuốc thụ động được tiến hành tại thò xã Cẩm Phả, Quảng Ninh
từ 10-2003 đến 2-2005. Điều tra đánh giá trước sau bằng bộ câu hỏi trên 3000 hộ ở hai phường
trong thò xã, và xét nghiệm Cotinin trong nước tiểu được tiến hành trên 200 trẻ em từ 5-15 tuổi. Kết
quả: sau can thiệp tỷ lệ hút thuốc trong nhà giảm từ 96,6% còn 87,4% (p<0.05), trong đó tỷ lệ hút
thuốc trong nhà thường xuyên giảm từ 47,7% xuống còn 11,4% (P<0.001). Tỷ lệ đi ra khỏi phòng
để hút thuốc tăng từ 18,1% lên 50,4% (p<0.001). Tỷ lệ người hút thuốc ở nơi làm việc gần như không
giảm, tuy nhiên tỷ lệ hút thuốc thường xuyên giảm từ 19,2% xuống 6,8% (p<0.001). Tỷ lệ người đi
ra khỏi phòng để hút thuốc tăng từ 30,1% lên 70,4% (p<0.001). Tỷ lệ hút thuốc ở nam giới trưởng
thành giảm từ 41.3% xuống còn 35,0% (P<0.01), và số điếu thuốc trung bình giảm từ 11,4 xuống
8,8 điếu ngày. Cotinin niệu trung bình trước và sau can thiệp giảm từ 3,59 microgram/lít xuống còn
1.54 microgram/lít, p<0.05). Có sự cải thiện đáng kể về kiến thức, thái độ và sự chấp nhận xã hội
với hút thuốc, và hút thuốc thụ động.
Từ khóa: Hút thuốc thụ động, Cotinin niệu.
The intervention study aiming at reduction of smoke exposures in Cam Pha town, Quang Ninh
province was carried out from October, 2003 to February, 2005. Pre- and post-intervention surveys
with structured questionnaires were conducted on 3,000 households in two wards in Cam Pha town,
and urine Cotinine measurement was conducted on 200 children aged between 5-15 years. After the
intervention, the rate of indoor smoking reduced from 96.6% down to 87.4% (p<0.05), in which the
rate of frequent indoor smoking dropped from 47.7 to 11.4% (p<0.001). The rate of outdoor smok-
ing increased from 18.1% to 50.4% (p<0.001). The rate smoking at the workplace remained almost
the same after the intervention but the rate of frequent smoking at workplace was reduced from 19.2%
to 6.8% (p<0.001). The outdoor smoking rate at the workplace increased from 30.1% to 70.4%
(p<0.001). The smoking rate among adult males was reduced from 41.3% to 35.0% (p<0.01), and
the average number of cigarettes was reduced from 11.4 to 8.8 cigarettes per day. The average urine
thụ động cao. Theo điều tra y tế quốc gia 2002, có
khoảng 56,1% nam giới, và 1,8% nữ giới trên 15
tuổi hút thuốc
3
. Nghiên cứu ở 2 phường nội thành Hà
Nội của nhóm tác giả Đào Ngọc Phong, và cộng sự
ï4
ước tính 56% bà mẹ và trẻ em phải tiếp xúc thường
xuyên với khói thuốc. Hàm lượng Nicotin trong
không khí trong nhà đo được ở mức 0,687mg/m
3
.
Do tính cấp thiết của việc phòng chống tác hại
của thuốc lá, Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ phối hợp
với Tổ chức Y tế Thế giới đã tài trợ các dự án thí
điểm về phòng chống khói thuốc trong môi trường
và bảo vệ sức khoẻ trẻ em ở 4 quốc gia với các dự
án mang tên: "Làm trong sạch bầu không khí khỏi
ô nhiễm khói thuốc tạo môi trường lành mạnh và an
toàn cho trẻ em". Các nước được chọn là những
nước có tỷ lệ hút thuốc cao và có sự cộng tác tốt
trong công tác bảo vệ môi trường và kiểm soát
thuốc lá, trong đó có Việt Nam. Viện Y học Lao
động và Vệ sinh Môi trường là đối tác chính thực
hiện dự án. Mục tiêu chính của dự án: Giảm 70% số
người hút thuốc trong nhà.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đây là một dự án can thiệp tiến hành trên phạm
vi một thò xã, đồng thời có một số hoạt động truyền
để đo hàm lượng cotinin trong nước tiểu.
Xử lý số liệu: Số liệu được phân phân tích, xử
lý trên chương trình Epi Info và SPSS.
Chiến lược truyền thông: dự án này đã sử dụng
chiến lược truyền thông thay đổi hành vi COMBI
(Communication for Behavioral Impact) đã được áp
dụng trong dự án COMBI tại Hải Phòng, với một số
chi tiết cụ thể hơn như sau:
- Đối tượng chính để tác động: đó là nam giới
trưởng thành hút thuốc
- Khung cảnh tác động: Chủ yếu là tại hộ gia đình
- Các kênh truyền thông chính sử dụng: tập
trung vào ba kênh truyền thông chính đó là: (a)
Thông qua các cán bộ truyền thông cơ sở tiếp cận
hộ gia đình phát tờ rơi và đề nghò ký cam kết không
hút thuốc trong nhà mình; (b) Thông qua các em học
sinh tiểu học để mang tờ rơi, thông điệp về nhà cho
bố mẹ, và người thân trong nhà, và yêu cầu bố hoặc
anh ký cam kết không hút thuốc trong nhà; và (c)
Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng,
tập trung chính vào hệ thống loa phát thanh phường
xã, và qua đài truyền hình tỉnh.
Nghiên cứu đánh giá trước và sau can thiệp
được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả can thiệp
của dự án. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu
đánh giá trước và sau can thiệp về hiệu quả can
thiệp của dự án.
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2006, Số 6 (6) 43
3. Kết quả
19,2%, người có thói quen đôi khi hút trong phòng
tại nơi làm việc chiếm 46,0%.
Có tới 96,3% những người hút thuốc nói rằng họ
có hút thuốc trong nhà khi có những người khác ở
xung quanh, trong đó có tới 47,1% thường xuyên hút
và 49,2% đôi khi hút, chỉ có 3,7% không hút thuốc
tại nhà.
- Kiến thức, thái độ đối với hút thuốc thụ động
13,1% cho rằng hút thuốc thụ động không ảnh
hưởng tới sức khoẻ. Ngoài ra có một tỷ lệ khá cao
(25,0%) số người nói rằng họ không biết liệu hút
thuốc thụ động có ảnh hưởng đến sức khỏe hay
không.
- Dự đònh bỏ thuốc
Số người có ý đònh bỏ thuốc chiếm 45,5% số
những người hiện đang hút thuốc.
- Vai trò của các phương tiện thông tin truyền
thông
Số người biết được tác hại thuốc lá qua truyền
hình là 82,0%, qua sách báo 30,0%, qua nhân viên
y tế 15,6%, qua bạn bè người thân 10,9%, qua hình
thức tuyên truyền bằng tờ rơi, áp phích 8,5%. Số
người nhận được nhiều thông tin về tác hại thuốc
lá nhiều nhất vào buổi tối, chiếm 73,0%, buổi trưa
16,4%, buổi sáng 15,1% và buổi chiều là 14,4%.
- Kết quả xét nghiệm cotinin niệu
Hàm lượng cotinin niệu trung bình là 3,1 micro-
gram/lít. Có sự khác nhau về hàm lượng cotinin niệu
trung bình giữa 2 nhóm trẻ sống trong gia đình có
người và không có người hút thuốc tại nhà, tuy
cho rằng nên mời thuốc đã giảm từ 18,5% xuống
còn 6,0%.
44 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2006, Số 6 (6)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Bảng 1. Thái độ của cộng đồng đối với việc hút
thuốc tại nơi công cộng
Thái độ ủng hộ việc cấm hút thuốc tại nơi công
cộng cũng có sự khác biệt có ý nghóa trước và sau can
thiệp. Số ủng hộ trong toàn cộng đồng tăng lên rõ rệt
(từ 72.9% lên 90.0%), với p<0.001, và ngay cả trong
số những người hút thuốc thì tỷ lệ ủng hộ cũng tăng
đáng kể, từ 60.0% lên 86,4%, với p<0.001.
Tỷ lệ người có ý đònh bỏ thuốc trước can thiệp
chiếm 45.5% số người hút thuốc, sau can thiệp
chiếm 89,6%. Sự khác biệt có ý nghóa thống kê, với
p<0.001.
- Tác động tới thực hành phòng chống hút thuốc
và hút thuốc thụ động
+ Hút thuốc tại nhà và nơi làm việc
Bảng 2. Tình hình hút thuốc tại nhà
Bảng 3. Tình hình hút thuốc nơi làm việc
Số người hút thuốc ở nhà đã giảm không nhiều
từ 96,6% xuống còn 87,4%, tuy vậy tỷ lệ thường
xuyên hút thuốc trong nhà đã giảm đi phần lớn, từ
47,7% xuống còn 11,4% sau can thiệp, với p<0.001.
Như vậy có tới trên 75% số người thường xuyên hút
thuốc ở nhà đã thay đổi hành vi, trở nên không còn
hút hoặc thỉnh thoảng hút ở nhà. Số người nói rằng
họ đi ra khỏi phòng khi hút thuốc tăng từ 18.1% lê
50.4%, với p<0.001.
8,73 mg/l, sau can thiệp giảm xuống còn 1.538 ±
2.76 mg/l. Sự khác biệt có ý nghóa thống kê với
p=0,024.
Trước can thiệp
Sau can thiệp
Mức hút thuốc tại nhà
SL
%
SL
%
Không hút tại nhà
52
3.4
154
12.6
Đôi khi hút ở nhà
741
48.9
929
76.0
Thường xuyên hút ở nhà
722
47.7
139
11.4
Tổng cộng
1515
100
1222
Trước can thiệp
Sau can thiệp SL
%
SL
%
Không hút
483
34.8
417
35.4
Thỉnh thoảng
639
46.0
687
58.3
Thường xuyên
266
19.2
74
6.3
Tổng cộng
1388
100
1178
100
Trước can thiệp (
267
4.4
204
3.8
Không có ý kiến
1378
22.7
331
6.2
Ủng hộ
4437
72.9
4837
90.0
Tổng cộng
6082
100
5372
100
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2006, Số 6 (6) 45
Ước tính chi phí mua thuốc tiết kiệm được
Trước can thiệp, số điếu thuốc hút trung bình
trong 1 ngày/người là 11.4 điếu, và sau can thiệp là
8.8 điếu. Số tiền hút thuốc trung bình một người
trước can thiệp là 2741,7 đồng/ngày (khoảng 82.200
đồng tháng) sau can thiệp là 1947,7 đồng/ngày
(khoảng 58.400 đồng tháng).
Do tỷ lệ hút thuốc giảm mức độ hút thuốc giảm
nên chúng tôi ước tính số tiền tiết kiệm được từ việc
lá. Đáng chú ý là những sự cải thiện thể hiện không
chỉ ở những người không hút thuốc mà cả trong số
những người hút thuốc.
Việc mời thuốc là một tập quán lâu đời ở Việt
Nam. Mức độ thay đổi rất lớn về tỷ lệ người cho
rằng không nên mời thuốc là một dấu hiệu rất đáng
mừng về việc thay đổi sự chấp nhận của công chúng
đối với vấn đề hút thuốc.
Sự ủng hộ cao của công chúng với các quy đònh
cấm hút thuốc nơi công cộng sau can thiệp, là cơ sở
rất quan trọng để chính quyền ban hành và thực thi
mạnh mẽ các quy đònh cấm hút thuốc nơi công cộng.
Và đây cũng là điều kiện quan trọng đảm bảo cho
việc thành công trong thực thi các quy đònh này.
Tuy thời gian triển khai các hoạt động của dự án
rất ngắn, nhưng mức độ thay đổi hành vi hút thuốc ở
nhà như đã trình bày trong phần kết quả có thể coi
là khả quan. Việc giảm một cách đáng kể tỷ lệ hút
thuốc trong nhà ở mức thường xuyên (giảm từ 47,7%
xuống còn 11,4%) và việc tăng đáng kể tỷ lệ những
người đi ra ngoài phòng khi hút thuốc cho thấy can
thiệp của dự án thực sự đã có tác động tới ý thức bảo
vệ sức khỏe người xung quanh của những người hút
thuốc. Tuy nhiên việc chỉ có một tỷ lệ phần trăm
không lớn (khoảng 10%) đã hoàn toàn không còn hút
thuốc trong nhà cho thấy việc từ bỏ hẳn một thói
quen thực sự là không dễ dàng. Phải chăng là do cấu
trúc nhà cửa, hay do tác động của dự án chưa đủ
mạnh, hay còn có thể do những lý do khác thì chúng
tôi vẫn chưa có được câu trả lời đáng tin cậy.
phẩm, giáo dục hay y tế cho gia đình thì sẽ có khả
năng mang lại những lợi ích rất thiết thực trong việc
cải thiện đời sống của các hộ gia đình, đặc biệt là
cho các hộ gia đình nghèo.
Các hoạt động phát thanh và truyền hình còn
được tiến hành trên phạm vi toàn tỉnh. Vì vậy, chắc
chắn số tiền tiếât kiệm được từ việc không mua thuốc
lá trên phạm vi toàn tỉnh sẽ là rất lớn.
Mô hình can thiệp của dự án "Làm sạch bầu
không khí khỏi ô nhiễm khói thuốc" nên được nhân
rộng ra nhiều tỉnh và thành phố khác trên cả nước
nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, làm giảm thiểu các
tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ cộng đồng và
giảm gánh nặng kinh tế cho các hộ gia đình có người
hút thuốc, cũng như cho nền kinh tế quốc gia.
Tác giả:
1. PGS. TS. Nguyễn Khắc Hải, Viện trưởng Viện Y học Lao
động và Vệ sinh Môi Trường (Viện YHLĐ & VSMT)
2. ThS. Đặng Anh Ngọc, ThS. Nguyễn Văn Sơn, và BS Lô
Văn Tùng - cán bộ Viện YHLĐ & VSMT
3. ThS. Nguyễn Tuấn Lâm - cán bộ chương trình, văn phòng
TCYTTG tại Hà Nội
4. BS Nguyễn Văn Thích - Giám đốc Trung tâm Y tế Dự
phòng Quảng Ninh
Tài liệu tham khảo
1.US Surgeon general. 1986. The health consequences of
involuntary smoking. CDC.
2. Lê Ngọc Trọng, Trần Thu Thuỷ, Đào Ngọc Phong 1999.
Đánh giá thực trạng tình hình hút thuốc lá tại Việt Nam năm
1997, Một số kết quả điều tra tình hình hút thuốc lá ở Việt