Giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Thuỷ sản của Việt Nam thời kỳ hậu WTO - Pdf 11



Giải pháp thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Thuỷ
sản của Việt Nam thời kỳ hậu WTO
A-LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 tiếp nhận nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, nền kinh tế Việt
Nam đã có những bước đi khởi sắc. Cơ cấu các ngành kinh tế đã có những sự
chuyển dịch tích cực mang tính thị trường. Từ khi nguồn vốn FDI được thu
hút đầu tư Việt Nam các ngành kinh tế đã được đầu tư thích đáng, thúc đẩy
nhanh công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá. Thuỷ sản cũng là một trong
số ngành đó. Sau những năm đổi mới. Thuỷ sản Việt Nam đã có những bước
đi khẳng định mình trong nền kinh tế Việt Nam cũng như trong nền kinh tế
thế giới. Tuy còn nhiều bất cập và yếu kém về nhiều mặt nhưng Thuỷ sản
Việt Nam cũng đã vươn lên đứng vị trí thứ 10 trong các nước xuất khẩu Thuỷ
sản.
Và đặc biệt hơn sau khi Việt Nam ra nhập WTO thì cơ hội cho ngành Thuỷ
sản càng được nâng cao hơn. Khi các nhà đầu tư liên tục đăng ký vốn đầu tư
vào Việt Nam. Mặc dù vậy, ngành Thuỷ sản hầu như vẫn chưa được quan tâm
tương xứng với tiềm năng sẵn có, lượng vốn đầu tư vào ngành chiếm một tỷ
lệ rất nhở so với lượng vốn đầu tư cho Nông nghiệp.
Với tính cần thiết và cấp bách của vấn đề, Tôi đã chọn đề tài : “ Giải pháp
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Thuỷ sản của Việt
Nam thời kỳ hậu WTO” làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình.
Do hạn chế về kiến thức, thời gian và số liệu nên bài viết này Tôi không tránh
khỏi những thiếu sót. Mong được sự góp ý của Thày giáo TS. Nguyễn Ngọc
Sơn và các bạn để hoàn thiện chuyên đề thực tập của Tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Ngọc Sơn và các cán bộ phòng Nông

trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam
vốn bằng tiền nước ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam
chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí
nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định
của luật này.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “ một doanh
nghiệp đầu tư trực tiếp là một DN có tư cách pháp nhân hoặc không có tư
cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu
thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ
định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên không phải tất cả các QG
nào đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI. Trong thực tế có những
trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn
10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi
nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra Định nghĩa như sau về FDI :Đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu
tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với
quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với
các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài
sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những
trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài
sản được gọi là “ công ty con hay chi nhánh công ty”. ( Nguồn Cục đầu tư
nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp
nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc
nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào
quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một
thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của mình”.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình
(máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và

được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lình vực bị cấm hoặc
hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâm nhập
được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà. Không mất thời gian
và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ.
Chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.
Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối tác; mất
nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đầu tư, định giá
tài sản góp vốn giải quyết việc làm cho người lao động của đối tác trong
nước; không chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị mất cơ hội
kinh doanh khó giải quyết khác biệt về tập quán, văn hóa.
2.2. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên doanh trong hoạt
động đầu tư quốc tế.
Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh có
tư cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của chủ đầu tư và
nước sở tại.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản lý của
chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện về môi
trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh tế,
luật pháp, văn hóa, mức độ cạnh tranh…
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là 1 thự thể pháp
lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại. Thành lập dưới dạng công ty
trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Đối với nước tiếp nhận :
Ưu điểm: Nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù DN bị lỗ;
giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư; tập trung thu
hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những linh vực khuyến khích xuất
khẩu; tiếp nhận được thị trường nước ngoài.
Nhược điểm : Khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài đê

Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu nghệ, tạo ra thị trường
mới nhưng vấn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền điều hành
dự án.
Nhược điểm: khó thu hút đầu tư ,chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh
vực dễ sinh lời.
Đối với nước nhận đầu tư :
Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của dối tác nước sở tại
vào được những linh vực hạn chế đầu tư thâm nhập được nhưng thị trường
truyền thống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc
nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ; không bị tác động
lớn do khác biệt về văn hoá; chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.
-Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ hợp tác
với đối tá nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e ngại.
2.4. Đầu tư theo hợp đồng BOT.
BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) là một thuật ngữ để chỉ một số mô
hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhan để thực hiện xây dựng cơ sở hạ
tầng vẫn được dành riêng cho khu vực nhà nước. Trong một dự án xây dựng
BOT, một doanh nhân tư nhân được đặc quyền xây dựng và vận hành một
công trình mà thường do chính phủ thực hiện. Công trình này có thể là nhà
máy điện, sân bay, cầu, cầu đường… Vào cuối giai đoạn vận hành doanh
nghiệp tư nhân sẽ chuyển quyền sở hữu dự án về cho chính phủ.
Hợp đồng BOT là văn bản kí kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan
có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ
tầng (kể cả mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh trong
một thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển
giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.
Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh BTO và hợp đồng xây dựng
chuyển giao BT, được hình thành tương tự như hợp đồng BOT nhưng có điểm
khác là: đối với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư
nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chinh phủ nước chủ

Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lí được thừa nhận
rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức
đủ để kiểm soát hoạt động quản lí và điều hành công ty đó thông qua việc gây
ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị.
Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạn
hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giám sát
hoạt động quản lí của các công ty con, các công ty con vẫn duy trì quyền kiểm
soát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập, tạo rất nhiều thuận lợi.
Cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều dự án đầu tư khác
nhau mà còn tạo điểu kiện thuận lợi cho họ điều phối hoạt động và hỗ trợ các
công ty trực thuộc trong việc tiếp thị, tiêu thụ hàng hoá, điều tiết chi phí thu
nhập và các nghiệp vụ tài chính.
Quản lí các khoản vốn góp của mình trong công ty khác như một thể thống
nhất và chịu trách nhiệm về việc ra quyết định và lập kế hoạch chiến lược
điều phối các hoạt động và tài chính của cả nhóm công ty.
Lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát các luồng lưu chuyển vốn trong danh mục
đầu tư. Holding company có thể thực hiện cả hoạt động tài trợ đầu tư cho các
công ty con và cung cấp dịch vụ tài chính nội bộ cho các công ty này.
Cấp cho các công ty con các dịch vụ như kiểm toán nội bộ, quan hệ đối ngoại,
phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển
2.6. Hình thức công ty cổ phần :
Công ty cổ phần (công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn)là doanh nghiệp trong
đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần các cổ
đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi vốn đã góp vào doanh nghiệp cổ đông có thể là tổ chức
cá nhân với số lượng tối đa không hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về số
cổ đông tối thiểu. Đặc trưng của công ty cổ phần là nó có quyền phát hành
chứng khoán ra công chúng và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ
phần của mình cho người khác.

thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh không được phát hành
bất kì loại chứng khoán nào. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau
khi quyết định các vấn đề quản lý công ty, còn thành viên góp vốn có quyền
được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định tại điều lệ công ty nhưng không được
tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty.
Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
hình thức đầu tư này mang đặc trưng của công ty đối nhân tiền về thân nhân
trách nhiệm vô hạn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Hình thức đầu tư này trước hết
rất phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm rõ rệt nên
cũng được các doanh nghiệp lớn quan tâm.
Việc cho ra đời hình thức công ty hợp danh ỏ các nước nhăm tao thêm cơ hội
cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cho phù hợp với yều cầu, lợi ích của
họ. Thực tế cho thấy một số loại hình dịch vụ như tư vấn pháp luật, khám
chữa bệnh, thiết kế kiến trúc đã và đang phát triển nhanh chóng. Đó là những
dịch vụ mà người tiêu dùng không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng
trước khi sử dụng, nhưng lại có ảnh hưởng đến sức khoẻ tính mạng và tài sản
của người tiêu dùng khi sử dụng. Việc thành lập công ty hợp danh là hình
thức thức đầu tư phù hợp trong việc phát triển và cung cấp các dịch vụ nêu
trên. Trong đó những người có vốn đóng vai trò là thành viên góp vốn và chịu
trách nhiệm hữu hạn còn các nhà chuyên môn là thành viên hợp danh tổ chức
điều hành, cung ứng dịch vụ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản
của họ.
2.9. Hình thức mua lại sát nhập ( M&A ):
Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các TNC lớn và tập trung vào các
lĩnh vực công nghiệp ô tô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở các nước
phát triển.
Mục đích chủ yếu :
Khai thác lợi thế của thị trường mới mà hoạt động thương mại quốc tế hay
đầu tư mới theo kênh truyền thống không mang lại hiệu quả mong đợi. Hoạt

Về tạo việc làm, hình thức đầu tư truyền thống tạo ngay được việc làm cho
nước chủ nhà, trong khi hình thức M&A không những không tạo được việc
làm ngay mà còn có thể làm tang thêm tình trạng căng thẳng về việc làm (tăng
thất nghiệp) cho nước chủ nhà. Tuy nhiên về lâu dài, tình trạng này có thể
được cải thiện khi các doanh nghiệp mở rông quy mô sản xuất.
Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đầu tư truyền thống tác động trực tiếp
đến thay đổi cơ cấu kinh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới
trong khi đó M&A không có tác động trong giai đoạn ngắn hạn
Về cạnh tranh và an ninh quốc gia, trong khi đầu tư truyền thống thúc đẩy
cạnh tranh thì M&A không tác động đáng kể đến tình trạng cạnh tranh về mặt
ngắn hạn nhưng về dài hạn có thể làm tăng canh tranh độc quyền. Mặt khác,
M&A có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước chủ nhà nhiều hơn hình thức
truyền thống bởi vì tài sản của nước chủ nhà được chuyển cho người nước
ngoài
3. Vai trò của FDI.
3.1. Bổ sung cho nguồn vốn trong nước.
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi
một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu
vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài,
trong đó có vốn FDI. Khi nguồn vốn FDI được đầu tư vào trong nước sẽ được
tận dụng cho các dự án cần đầu tư, đặc biệt với các dự án không có nguồn vốn
thì FDI là một giải pháp tối ưu khi dự án không có vốn đầu tư. Trong nền kinh
tế pháp triển nhanh, ngày càng cần nhiều vốn đầu tư cho các lĩnh vực quan
trọng và vùng kinh tế, thì thu hút vốn FDI vào tăng khả năng thực hiện dự án,
không để tình trạng dự án treo vì không có vốn đầu tư.
3.2. Chuyển giao công nghệ và bí quyết quản lý.
Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động

năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các
nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng
nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
3.5. Nguồn thu ngân sách lớn.
Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do
các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan
trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford
chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006. Đặc biệt là các
công ty có vốn FDI là ăn có lợi nuận càng tạo thêm nguồn thu ngân sách lớn,
với xu hướng hiện nay là thu hút FDI vào trong nước thì việc thu thuế từ các
công ty này là rất nhiều, các nguồn vốn FDI thường được quản lý chặt chẽ
nên tình trạng thất thoát là rất ít.
II : CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN FDI.
1. Môi trường đầu tư
Việt Nam hiện tại được coi là tương đối hấp dẫn, an toàn và có lợi thế lâu dài
trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương:
Việt Nam có môi trường chính trị - xã hội ổn định, đáp ứng được nhu cầu làm
ăn lâu dài của các nhà đầu tư, Việt Nam cũng có lợi thế về vị trí địa lý vì nằm
trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động, đã tham
gia Hiệp định CEPT/AFTA với quy mô thị trường 500 triệu người; đã tham
gia chương trình thu hoạch sớm (EHP) của Hiệp định khung về hợp tác kinh
tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc, có đường biên giới chung với các tỉnh
phía nam Trung Quốc.
Sau gần 20 năm đổi mới, Việt Nam cũng từng bước hình thành thể chế kinh tế
thị trường, duy trì được môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và nhịp độ tăng
trưởng kinh tế cao. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong cả thập kỷ 90 là
7,2%, cao hơn mức tăng trưởng bình quân cùng kỳ của các nước trong khu
vực là 3,7%. Ba năm gần đây (2001-2003) tốc độ tăng trưởng GDP là 6,9%;
7,0%, 7,2%. Nhờ vậy tổng GDP trong 10 năm đã tăng gấp hơn 2 lần. Cơ cấu
kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sau 12

hơn; huy động được thêm nhiều nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư
phát triển kinh tế - xã hội. Việc phát huy mạnh mẽ nguồn nội lực trong thời
gian qua cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực từ bên ngoài.
Việc Nhà nước đầu tư đáng kể cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
như hệ thống đường sá, cầu cảng, hệ thống thông tin liên lạc, điện nước đẩy
mạnh cải cách hành chính để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong
những năm qua đã cải thiện rõ rệt điều kiện và môi trường kinh doanh cho các
doanh nghiệp , góp phần tiết kiệm các chi phí trung gian, hạ giá thành sản
phẩm cho các doanh nghiệp
Việc tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá cũng
tạo điều kiện mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam, Đến nay
Việt Nam đã có quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại với trên 150 nước và
cùng lãnh thổ, tham gia tích cực vào cơ cấu hợp tác khu vực và thế giới như
ASEAN, ASEM, APEC và đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO vào
2005. Việc ký kết các Hiệp định CEPT/AFTA, Hiệp định thương mại Việt
Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản
(2003), sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản (12/2003) đã làm tăng thêm
sức hấp dẫn của môi trường đầu tư của Việt Nam.
3. Chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước của Việt Nam
Có nhiều ưu đãi, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài
kinh doanh có hiệu quả:
So với Luật đầu tư nước ngoài của nhiều nước, Luật đầu tư nước ngoài của
Việt Nam được đánh giá là khá thông thoáng. Đặc biệt là sau khi ban hành
Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000, Việt Nam đã có nhiều chính sách
nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ các khó khăn nhằm giúp các doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài kinh doanh có hiệu quả. Cụ thể:
Các nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư trong hầu hết các lĩnh vực của
nền kinh tế (trừ an ninh, quốc phòng), được quyền chủ động lựa chọn các
hình thức đầu tư, địa điểm, đối tác đầu tư, quy mô dự án; được trực tiếp tuyển

thiện, chưa đảm bảo tính bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế; tính ổn định và minh bạch chưa cao, mức độ rủi ro pháp luật còn
lớn và khó dự báo; hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều bất cập
Quá trình cải cách hành chính còn chuyển biến chậm, các thủ tục liên quan
đến hoạt động đầu tư còn phức tạp; nạn tham nhũng còn phổ biến và chưa có
biện pháp ngăn chặn, loại bỏ hữu hiệu; các chi phí dịch vụ về cơ sở hạ tầng hỗ
trợ kinh doanh, chi phí trung gian, chi phí gia nhập thị trường của các doanh
nghiệp còn lớn so với các nước trong khu vực. Sự phối hợp trong các hoạt
động cải cách cơ cấu kinh tế, cải cách thế chế với chiến lược hội nhập kinh tế
quổc tế còn chưa nhịp nhàng, động bộ.
Hệ thống thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường vốn, thị trường lao
động, thị trường đất đai, thị trường khoa học - công nghệ còn chưa đồng bộ
và kém phát triển. Hệ thống dịch vụ tài chính - ngân hàng cũng chưa phát
triển (hiện tại, tỷ trọng của khu vực tài chính chỉ chiếm khoảng 2% GDP, so
với 6 - 10% ở các nước khác trong khu vực). Quá trình cải cách hệ thống tài
chính - ngân hàng tiến hành chậm; hệ thống ngân hàng dễ bị tổn thương do tỷ
lệ nợ xấu còn cao, rủi ro lãi suất và tỷ giá lớn và khả năng giám sát, quản trị
rủi ro yếu; hệ số tín nhiệm đối với với hoạt động của hệ thống tài chính - ngân
hàng còn thấp. theo đánh giá của Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản
(JETRO). Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng mức độ cải thiện môi trường
đầu tư của Việt Nam vẫn chậm hơn so với các nước khác trong khu vực.

III : SỰ CẦN THIẾT THU HÚT FDI VÀO NGÀNH THUỶ SẢN.
1. Nhu cầu phát triển ngành Thuỷ sản
Với bờ biển trải dài trên 3270 km và vùng biển rộng trên 1 triệu km2 có 4000
hòn đảo lớn nhỏ với nhiều vịnh, vũng; khoảng 2850 con sông, ngòi và có
nhiều hồ tự nhiên lại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên rất thuận lợi cho
việc phát triển Thuỷ sản cả trên hai lĩnh vực đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản.
Không phải bất cứ quốc gia nào cũng có được điều kiện tự nhiên thuận lợi để
phát triển Thuỷ sản như Việt Nam. Trung bình cứ 100 km2 diện tích đất liền

sản bình quân theo đầu người cao nhất thế giới. Thủy sản là thực phẩm cho
bữa ăn hằng ngày của người dân ở khu vực này nên mức tiêu thụ Thuỷ sản
bình quân theo đầu người cao, đạt 39,6kg/người năm 2003

Tiêu thụ bình quân theo đầu người ở các nước châu á và Ôxtrâylia
Cung cấp bình quân theo đầu người (kg)
Các nư

c

Thu


s

n
Thu


s

n
T

ng thu


Tiêu th



5,2

29,9

36

Xrilanca 13,9 0,5 14,4
Thái Lan 43,0 11,8 54,9 32-35
Việt Nam 19,9 11,2 31,2

Mức tiêu thụ ở các nước đang phát triển có xu hướng tăng, nhưng có thể là do
dân số tăng hằng năm ở các nước này mà không hẳn là do nhu cầu Thuỷ sản
tăng.
Tiêu thụ bình quân theo đầu người ở các nước Cận Ðông và Bắc Phi có xu
hướng tăng như Angiêri tăng từ 3,0 kg/người năm 1993 lên 5,1 kg/người năm
2003. Ai Cập tăng từ 5,5 kg/người năm 1982 lên 14,9 kg/người năm 2003.
Các nước châu Mỹ Latinh có mức tiêu thụ Thuỷ sản bình quân theo đầu người
hằng năm từ 2 đến 59 kg/năm, nhưng rất nhiều nước chỉ có mức tiêu thụ
khoảng 10 kg/người/năm. Nhiều nước ở khu vực châu Âu có mức tiêu thụ
Thuỷ sản rất cao. Tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người của EU-15 đạt
khoảng 25,5 kg/người/năm (2003), với lượng Thuỷ sản chiếm khoảng 10%
tổng lượng protein động vật và 6% tổng lượng prôtêin. Nhìn chung, các nước
này đều có xu hướng gia tăng mức tiêu thụ Thuỷ sản trong các năm qua
2. Sự cần thiết thu hút FDI vào ngành Thuỷ sản
Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của thế giới hiện nay, thì nhu cầu tiêu thụ
sản phẩm Thuỷ sản ngày càng cao. Hàng năm mức tiêu thụ sản phẩm của các
nước trên thế giới ngày càng tăng nhanh.
Theo dự báo của FAO, tổng nhu cầu Thuỷ sản ở các nước đang phát triển sẽ
tăng từ 30,5 triệu tấn năm 1979/81 tới gần 140 triệu tấn năm 2015. Châu á
chiếm khoảng 68% tổng nhu cầu Thuỷ sản năm 1979/81 và sẽ tăng tới 86%
Nguồn : FAO Dự báo

Chính vì nhu cầu ngày càng cao như vậy. Việc thu hút vốn vào lĩnh vực Thuỷ
sản Việt Nam ngày càng được chú trọng. Nguồn vốn trong nước không đủ
đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong nước, chính vì vậy FDI là một giải pháp
tối ưu và hiệu quả nhất. Việc thu hút FDI vào Thuỷ sản mang lại nhiều lợi ích
cho người nuôi trồng trong nước. Việc giải quyết nguồn vốn tại chỗ đã được
đáp ứng, không những thế khi có được nguồn vốn FDI người nuôi trồng Thuỷ
sản đã được tiếp thu một công nghệ nuôi trồng tiên tiến hiện đại, với những
cách thức quản lý hiệu quả. tạo tiền đề cho Việt Nam trong tiến trình từng
bước hội nhập kinh tế thế giới. Khi đã tiếp nhận những công nghệ mới giúp
cho người nuôi trồng Việt Nam bớt đi những khâu rườm rà không cần thiết,
kỹ thuật nuôi trồng tiên tiến tăng năng suất lao động, hiệu quả quản lý được
nâng cao. Chính vì việc thu hút FDI vào ngành Thuỷ sản Việt Nam, đã giúp
cho chúng ta rất nhiều về việc giảm bớt được những khâu khó khăn trong sản
xuất tận dụng tối đa nguồn nhân lực, vật lực, tài lực sẵn có của địa phương.
FDI được đầu tư vào ngành Thuỷ sản tạo cho ngành có một lợi thế phát triển
ngang tầm với các nước cùng xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản, không thua kém
họ về mẫu mã trình độ kỹ thuật, thậm trí giá của mặt hàng Thuỷ sản của Việt
Nam còn rẻ hơn so với các nước khác, trên cùng một thì trường cạnh tranh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status