TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TẾ NGOẠI
THƯƠNG
TOREIGN TRADE
UNIVERSinr
KHOA
LUÂN
TÓT
NGHỈM*
HOÀN
THIỆN
QUẢN
LÝ
DOANH
NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA
Ở
VIỆT
NAM
(Nghiên cứu
điển
hình
tại
Công
ty sản xuất
XHCH
Xã
hội
chù nghĩa
DNN&V
Doanh
nghiệp
nhỏ và vừa
KH&ĐT Kế
hoạch
và Đẩu tư
HTX
Hợp
tác
xã
UBND
Uy
ban
nhân dân
DN
Doanh
nghiệp
DNNN
Doanh
nghiệp
Nhà nước
DNTN
Doanh
nghiệp
tư
quốc
tế
Nhật
Bán
VÁT
Thuế
giá
trị
gia
tăng
MỤC
LỰC
LỜI
NÓIĐẦU1
CHƯƠNG
1.
MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHUNG VỀ QUẢN LÝ
DNN&V
3
1.1.
VỊ
trí
và
vai
trò của
DNN&V
trong
nền
kinh
tế
DNN&V li
1.2.2.
Yêu
cầu
về hoàn
thiện
quản
lý
DNN&V ở
Việt
Nam 17
CHƯƠNG
2.
PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
DNN&V
Ở
VIỆT
NAM
(Nghiên cệu điển hình
tại
còng
ty
TNHH
dệt
anh
quốc)
27
2.1.
Một
số
chính sách hỗ
trợ
quản lý
DNN&V
46
2.2.1.
Khung
pháp
lý
46
2.2.2.
Chính sách
thuế
50
2.2.3.
Chính sách
đầu tư và tín
dụng
57
2.2.4.
Chính sách
đất
đai
và mặt
bằng
sản
xuất
61
2.3.
Dệt
Anh
Quốc
66
CHƯƠNG
3.
CÁC
GIẢI PHÁP
ĐỂ XUẤT NHẰM
HOÀN
THIỆN
QUẢN LÝ
DNN&V
ở
VIỆT
NAM 73
3.1.
Những
giải
pháp về phía Nhà nước
nhằm
hoàn
thiện
quản lý
DNN&VỞViệtNam
73
3.1.1.
Quán
triệt
đường
hệ
thống
chính sách hổ
trợ
cácDNN&V
85
3.
Ì
.4.
Kiện
toàn bộ máy
quản
lý Nhà nước
đối
với
DNN&V 94
3.2.
Giải
pháp
đỗi với
các
DNN&V
và Công
ty
TNHH
Dệt
Anh
Quốc
trong
hoàn
tổ
chức
quản
lý
96
3.2.4.
Một
số
biện
pháp khác
97
KẾT
LUẬN
99
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH
MỤC BẢNG
BIỂU
VÀ
HÌNH
VẼ
» Danh mục
bảng
biểu
Bảng
Ì:
Phân
hình cơ
cấu tổ
chức
cùa Công
ty
TNHH
Dệt
Anh Quốc
66
LỜI
NÓI ĐẦU
Ở nước
ta
hiện
nay,
nền
kinh
tế
thị
trường định hướng
XHCN
đang ngày
càng được định
rõ.
Cùng
với
quá
trình
đó,
bộ
cuộc
công
nghiệp hoa,
hiện
đại
hoa
đựt
nước.
Nước
ta
đang
trong
giai
đoạn
phát
triển
nên
loại
hình
DNN&V
chiếm
số
lượng
lớn,
97%
tổng
số
doanh
nghiệp
trong
cả nước,
tạo
công
ăn
việc
làm
cho hàng
chục
triệu
người
lao
động,
bên
cạnh
đó còn
khai
thác
các
nguồn
lực
và
tiềm
năng
tại
chỗ
cùa các
địa phương trên
các
vùng của
cả
trở
thành
một
bộ
phận quan
trọng
cùa nền
kinh tế,
đẩy
mạnh
quá
trình công
nghiệp hoa,
hiện
đại
hoa
đựt
nước.
Tuy
nhiên,
phát
triển
DNN&V ở
Việt
Nam
hiện
nay còn gặp
nhiều
khó
khăn.
độ
quản
lý
còn
hạn
chế,
là
những
yếu
tố
tác
động
ngay
từ
bên
trong
bản
thân
doanh
nghiệp.
Ngoài
ra
chính
những
phương
thức
quản
lý
khối
doanh
Yêu
cầu
hiện
nay
là cần
đánh giá
thực
trạng
quàn lý
DNN&V
trong
những
năm vừa
qua,
từ
đó đề
ra những
giải
pháp
phù hợp
giúp
quản
lý các
DNN&V
hiệu
quả hơn
ở
cả tầm
vĩ
mô và
khẩu
dệt len
Anh
Quốc)" là
hết
sức cần
thiết
và
có
ý
nghĩa
thực
tiễn
đối
với
quản
lý
DNN&V
nói riêng
và
nền
kinh tế
nước
ta
nói
chung.
Tuy
nhiên,
đế
tránh dàn
hợp
những
kiến
thức
đã tích
lũy
trong
quá trình học
tập
vói
những
quan sát
đã
thu thập
được
trong
thực
tế,
kết
hợp
giữa
việc
tổng
hợp sách báo
với
việc
đi
sâu nghiên
cứu
tình hình
tại
Công ty sản
xuất
và
xuất
khẩu
dệt
len
Anh
Quốc)",
sau phần
Lời
nói
đẩu,
phần
chính
của khoa
luận
gồm ba chương:
- Chương
1:
Một số
ván
đề chung
vê
quản
lý
DNN&V
- Chương
2:
luận,
tác
giả
đã
nhận
được
sự chì
bào
tận
tình
của
cô giáo
hướng
dẫn
Đặng
Thị Lan - Khoa Quán
trị kinh
doanh,
Trường
Đại
học
Ngoại
thương Hà
Nội,
và
rất
nhiều
sự giúp đỡ
nhiệt
tình và
đề
phức
tạp với
giới
hạn
của
một
khoa
luận,
chắc
sẽ
còn
nhiều
khiếm
khuyết.
Rất
mong
được
sự
góp
ý,
phê bình
của
các
thầy
cô giáo
và
bạn
đọc để
tác
QUỐC
DÂN
1.1.1.
Tiêu
chí
xác
định
DNN&V
Thực
tiễn
ờ
Việt
Nam
và
thế
giới
cho
thấy
DNN&V có
vai
trò
rất
quan
trọng trong
phát
triển
kinh
tế
do
lợi
DNN&V
là
nói đến cách phân
loại
doanh
nghiệp
dựa trên độ
lớn
hay
quy
mô
của
các
doanh
nghiệp. Việc
phân
loại
DNN&V
phụ
thuộc
vào
loại
tiêu chí sử
dụng
quy định
giới
hạn các tiêu chí phân
loại
quy
mô
Mặc dù có
những
khác
biệt
nhất
định
giữa
các nước về quy định các tiêu
chí phân
loại
DNN&V,
song
có
thể
hiểu
DNN&V
theo
khái
niệm
chung
nhất
như
sau:
DNN&V
là
những cơ
sỏ sản
xuất
-
kinh
gia
tăng
thu
được
trong từng thời
k
theo
quy
định
của
từng
quốc
gia
[35,
trô].
Qua nghiên cứu cho
thấy
tiêu chí đế xác định các
DNN&V à
mỗi
một
quốc
gia
là
không
giống
nhau
nhưng nhìn
chung
các
3
mô
theo kết
quả đẩu
ra.
Như
vậy,
để phân
loại
DNN&V
có
thể
dùng các yếu
tố
đầu
vào
hoặc
các yếu
tố
đầu
ra
của
doanh
nghiệp,
hoặc
là sự
kết
hợp của cả
2
yếu
ecu
DN
vỞa
<250
27
Đài
Loan
Chế
tác,
Nông, 0-200
80
triệu
NT$
Không
lâm,
ngư
nghiệp
0-50 Không
100
triệu
và
NT$
dịch
vụ
Philippin
DN
nhỏ
10-99
1,5-15
triệu
nghiệp
đã được xây
dựng
bời nhiều
nhà nghiên
cứu, tổ
chức
Nhà nước
và
tổ
chức
phi
chính
phủ.
Đến ngày
23/11/2001,
Chính phủ đã ban hành văn bản
pháp
lý
ở mức
cao
để
khuyến
khích và
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho
luật
hiện
hành,
có vốn đăng
ký
không quá
lo tỷ
đổng
hoặc
số
lao
động
trung
bình
năm
không
quá 300
người". Đối
tượng
áp
dụng
bao gồm:
- Các
doanh
nghiệp
thành
lập
và
hoạt
động
đãng
ký
theo
Nghị định số 109/2004/NĐ-CP
ngày 2/4/2004
cùa
Chính
phủ về
đăng
ký
kinh
doanh
(thay
thế
Nghị định
02/2000/NĐ-CP
về
đăng ký
kinh
doanh).
Theo
quy định
tại
Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày
2/4/2000
cùa Chính
phủ
về đăng
ký
kinh
doanh
cá
thế
chỉ
được đăng
ký
kinh
doanh
tại
một
địa
điểm,
sử dụng
không quá
lo
lao
động,
không có
con
dấu.
Nếu
hộ
kinh
doanh
cá
thể
sử
dụng
hơn 10
lao
làm
dịch
vụ
có
thu
nhập
thấp
không phái đăng ký
kinh
doanh
[2][3].
Rất nhiều
doanh
nghiệp
Nhà nước đang
trong
giai
đoạn cậ
phần
hoa
và
phát
triển
quy
mô
thành
doanh
nghiệp lớn
nên để
giới
trò
rất
quan
trọng trong
nền
kinh
tế
mỗi nước,
kể
cả
các nước có trình
độ
phát
triển
cao.
Trong
bối
cảnh
hiện
nay,
các nước đều
chú
ý
hỗ
trợ
các
DNN&V
nhằm huy động
tối
đa
cũng
như các nước đang phát'triển,
DNN&V
chiếm
90
-
98%
tậng
số
doanh
nghiệp
một
quốc
gia
(như Mỹ,
Nhật
Bản
chiếm
tới
97,9%;
Đài
Loan
chiếm
97,7%;
Thái Lan
là 97,9%)
và
giải
quyết
công ăn
lại
càng
quan
trọng.
Hiện
nay,
Việt
Nam
đang
ờ
giai
đoạn đầu
của
thời
kỳ công
nghiệp hoa,
hiện
đại
hoa
với
cơ
sở
vật chất
kỹ
thuật,
trình độ
tậ
chức sản
xuất,
tậ
trọng.
Khoảng
chênh
lệch
giữa
mức
sống
thành
thị
và nông thôn
cũng
như chênh
lệch
giữa
các vùng
Bắc,
Trung,
Nam
rất
lớn
và có
xu
thế
ngày càng
mở
rộng dưới
tác động cùa phát
triển
kinh
tế thị
nghiệp
sang
công
nghiệp
và
dịch
vụ
diễn
ra
cũng
chậm
chạp
[47].
Trong
bối cảnh
này,
DNN&V có
một
vai
trò
vô
cùng
quan
trong,
cụ
thể
là:
a.
Cung
cấp
phát
triển
DNN&V
đóng góp
quan
trọng
vào
tốc
độ tăng trưởng nền
kinh
tế.
Lợi
ích cao hơn
mà
tăng trưởng
DNN&V đem
lại
là
tạo
ra
khối
lượng
hàng hoa và
dịch
vụ
lớn
hơn, phong
phú hơn,
chất
lượng
thực
phẩm,
Đó
cũng
là yếu
tố giữ
cho nền
kinh
tế
ổn định và phát
triển
trong
những
năm
qua.
Đặc
biệt,
với
những
nước
mà
trình độ phát
triển
kinh tế
còn
thấp
như
Việt
Nam thì giá
trị
nghiệp,
trung
bình hàng năm các
DNN&V
đã
tạo
ra
hơn 30% giá
trị
sản
lượng;
hơn 50% giá
trị
công
nghiệp
địa phương và đóng
góp
khoảng
25% GDP. Con
số
này
ở Mỹ
là
hơn
50%,
ở
Đức
là 53%,
ờ
Nhật
đó, doanh
nghiệp
Nhà nước tăng 9,6%
(doanh
nghiệp
Nhà
nước
trung
ương
quản
lý tăng
13,7%, doanh
nghiệp
Nhà nước địa phương quàn
lý tăng
0,5%);
doanh
nghiệp
ngoài
quốc doanh
(trong
đó
chủ yếu
là các
DNN&V)
tăng
24,8%;
khu vực có
vốn
đỉu
Việt
Nam
chiếm
78%
mức
bán
lẻ,
64%
tống
lượng
vận
chuyển
hàng
hoa,
sản
xuất ra
100% sản lượng của một số
loại
sản
phổm
như đồ
mộc,
chiếu
cói,
mây
tre
đan, thủ công
mỹ
nghệ.
Hàng
trên
dưới
80%
tổng
mức
bán
lẻ
của
thị
trường xã
hội
(xem Phụ
lục
3).
Theo báo
cáo mới
nhất của
Tổng cục Thống
kê, tổng
mức
bán
lẻ
hàng hoa và
doanh
thu
dịch
vụ 9 tháng năm nay
theo
giá
thực
20,7%;
kinh
tế
cá
thể
tăng
19,2%;
kinh
tế
tư nhân tăng
35,1%;
khu vực có vốn
đổu
tư nước ngoài tăng
32,9%
[24].
Rõ
ràng
là
trong
những
năm
qua, chất
lượng
và hình
thức
của các hàng hoa và
dịch
vụ do
khối
thực
phổm
tiêu dùng, hàng
may
mặc,
đổ
dùng
gia
đình
thông
thường,
vật
liệu
xây
dựng,
dịch
vụ
vận
tải
và
nhiều
dịch
vụ
khác,
ngân
chặn
được
sự thống
trị
thị
xã
hội
Ở
Việt
Nam
cũng
như
nhiều
nước khác trên
thế
giới,
thất
nghiệp
luôn là
vấn
để
khiến cho
các nhà
quản
lý và
hoạch
định
phải
trăn
trở.
Theo số
liệu
thống
kê, tỷ lệ
thất
tế
cho thấy,
khu
vực
kinh
tế
ngoài
quốc
doanh,
mà
đại
bộ
phận
là
các
DNN&V,
có xu hướng
tạo
ra nhiều
việc
làm hơn khu vực Nhà
nước.
Liên
tục từ
năm 2000 đến
2004,
khu
vực
Nhà
nước,
(xem Bảng
2).
Bảng
2:
Lao động đang làm
việc
tại
thòi
điểm
1/7 hàng
năm
phân theo thành phần
kinh
tế
1
Đơn
vị:
nghìn
người
2000
2001
2002
2003
2004
Cả nước
37609,6
38562,7
39507,7
40573,8
41586,3
cục
thống
kẽ
2
Và
theo
báo cáo mới
nhất
cùa Tổng
cục
Thống
kê, lao
động đang làm
việc
trong
các ngành
kinh tế
tại
thời
điểm
1/7/2005
là
42,62
triệu
người,
tăng 2,5% so
với
cùng
thời
điểm
cho
người
lao
động
còn
lớn
hơn nữa
khi chi
phí để
tạo ra
công ăn
việc
làm cho một
người
lao
động
trong
DNN&V
rồ
hơn
nhiều
so
với
các khu vực khác. Theo báo cáo
cùa
Ngân hàng
thế
giới
thì để
tạo
định,
thường xuyên cho dân
cư,
góp
phần
giảm
bớt
chênh
lệch
về
thu
nhập
các bộ
phận
dân
cư, tạo ra
sự phát
triển
tương
đối
đồng đều
giữa
các
khu
vực
kinh tế
khác
nhau.
Khả năng
sản
các
vùng
trong
nước.
1
Không bao gồm lực lượng an ninh, quốc phòng
2
An/default.aspx?tabid=387&idmid=3&ItemID=3146
8
c.
Thu
hút
có
hiệu
quả
nhất
các
nguồn
vốn
trong
dân
và tận
dụng
các
nguồn
lực
xã
hội
khác
có
thể
huy động
vốn vay
dựa trên
cơ
sở
họ
hàng,
bạn bè thân
thuộc.
Chính
vì
vậy,
các
doanh
nghiệp
này có khả năng
huy
động,
sầ
dụng
các
khoản
tiến
đang phân tán và
nằm
im
trong
dân cư thành
lợi
lớn
của khu vực
kinh
tế
này. Kết
quà
điều
tra
cho
thấy,
đối với
DNN&V
đẩu tư vào thành
lập
doanh
nghiệp
dưới
500
triệu
đồng,
vốn cho một chỗ
làm
việc
là 10
triệu
đồng
(bằng
1/5 đến 1/10 cùa
doanh
khác
phục
vụ cho nhu cẩu
ngấn
hạn về vốn
của
doanh
nghiệp
[37].
Hơn
nữa, với
quy
mô
nhỏ, gọn,
được phân tán
ờ
hầu
khắp
các
địa
phương,
vùng lãnh
thổ
nên các
doanh
nghiệp
này
có
khả năng sầ
dụng
năng khác
trong
dân chưa được
khai
thác,
ví
dụ
như:
tiềm
năng về
trí
tuệ,
tay nghề
tinh
xảo,
điều
kiện
tự
nhiên,
bí
quyết
nghề
nghiệp
Và
việc
phát
triển
các
DNN&V
sản
lao
động nông
thôn,
phát huy
lợi
thế
của
từng
vùng đế phát
triển
kinh tế.
d.
Góp
phần quan trọng
rào
việc tăng nguồn hàng xuất khẩu
Với
sự
tiến
bộ
nhanh của khoa
học
-
công
nghệ,
các
DNN&V
cùa chúng
ta
vốn có ưu
sang
các nước trên
thế
giới.
Trong
xu
thế Việt
Nam mở
cửa nền
kinh tế,
từng
bước
hội
nhập
kinh tế với
khu vực và
thế
giới,
các
DNN&V
chính
là chiếc
cầu nối
quan
trọng
cho sự
hội
nhập
đó,
đưa hàng hoa
địa
phương đã
mạnh
dạn đầu tư công
nghệ,
mở
rộng
nhà
xướng,
tạo
thêm
nhiều
sản
phẩm có
chất
lượng
để
trao đổi.
Hem
nữa,
các
sản
phẩm cợa
các ngành
nghề
truyền
thống
được chú
trọng
phát
(với
khoảng
80% dân số
ờ
nông thông còn
nghèo
nàn, lạc hậu) khi
tiến
hành công
nghiệp
hoa
trong
điều
kiện tiềm lực
về
vốn
còn quá
thấp,
phần
lớn lực
lượng
lao
động chưa được đào
tạo,
mặt
bằng
văn
hóa
thấp
thì
điểm
cợa ta
và có
thể bắt kịp với
sự
thay đổi
như
vũ
bão
cợa
khoa
học
kỹ
thuật
trên
thế
giới
bời
chúng dễ dàng
đổi
mới
nhanh
chóng hệ
thống
trang
thiết
bị.
Nói cách
khác,
quá trình phát
làm cho quá trình công
nghiệp
hoa, hiện đại
hoa
đất
nước
diễn ra
không
chỉ
ờ
chiểu
sâu
mà
cả
ở
chiều
rộng.
Trong
tình hình
chung
cợa thế
giới
và nước
ta hiện nay,
công
nghiệp
hoa,
hiện đại
hoa
phải
các thành
tựu
cợa
tiến
bộ
khoa
học công
nghệ
ngày
nay,
chẳng
hạn như
tiến
bộ về
tin
học,
công
nghệ
vệ
sinh
và
sản
xuất
vật
liệu
mới đã
cho
phép
doanh
nghiệp
nhận đối
với
sự
phát
triển
kinh
tế
của
nước
ta.
Các
doanh
nghiệp
này
chính là "chân
rết",
là
hệ
thống
"vệ
tinh"
cho
các
doanh
nghiệp
lớn
trong
việc
sản
xuất
lai
không
xa.
1.2.
QUẢN LÝ
DNN&V
1.2.1.
Quản
lý
DNN&V
a.
Khái niệm
và
chức năng
Quản lý
là cần
thiết
bắt
nguồn
từ
tính
chất
xã
hội
của
lao
động.
Khi
có
lao
mục
tiêu
chung.
Quản lý
có
thể
định
nghĩa:
"Quản
lý là
sự
tác
động có
tổ
chức,
có
hướng
đích
của
chủ
thể
quản
lý lên
đối
tượng
và
khách
thể
quản
lý
thể
là
một
người
hoặc
cả một hệ
thống,
tuy
theo
quy
mô,
phắm
vi
của
hoắt
động
quản
lý.
Quá trình
quản
lý
là
quá trình
thực hiện
các
chức
năng quàn
lý.
Chức năng
quản
quản
lý là
cần
thiết
để
quản
lý
có
hiệu
quả
và
tổ
chức
bộ
máy
quản
lý
doanh
nghiệp theo
hướng
gọn
nhẹ,
có
hiệu
lực,
phù
hợp
với
những
chức
tính
chất
kỹ
thuật
của
hệ
thống
mà
phân
chia
quản
lý thành các
chức
năng
như:
quàn lý
sản
xuất,
quản
lý
marketing,
quản
lý
nhân
lực,
quản
lý
tài
chính,
quàn lý công
trình quàn
lý đều
li
được
tiến
hành
theo
giai
đoạn
tác động
thể
hiện
các
chức
năng
cơ
bản:
lập
kế
hoạch,
tổ
chức, lãnh
đạo,
kiểm
tra
[47].
Vì
vậy,
những chức
năng này còn được
dựng
và bảo
đảm
nhũng
hình thái
cơ
cấu
nhất
đốnh để
đạt
mục tiêu.
-
Chức năng lãnh đạo hay quá trình
chỉ
đạo và thúc đẩy các thành viên làm
việc
một cách
tốt
nhất
vì
lợi
ích cùa
tổ
chức.
- Chức năng
kiểm
tra
hay quá trình giám sát và
chấn chỉnh
các
xã
hội
mà
việc
sắp xếp
thứ tự
ưu
tiên
và
nội
dung
các
chức
năng này có
thể thay
đổi.
Tuy
nhiên,
quản
lý Nhà nước về
kinh tế,
trong
đó có quàn lý các
DNN&V gồm
những chức
năng cơ
bản
và
chủ yếu sau:
-
Đây
là
những
điều
kiện
cần
thiết
để các
chủ
doanh
nghiệp,
các nhà đẩu tư yên tâm bỏ
vốn
kinh
doanh.
Điều
này đặc
biệt
có ý
nghĩa
đối với
khối
các
DNN&V,
những
người
vốn
có
nhiều
e
hiệu
quả.
Đây là một
sự tác
động qua
lại,
nhân quà
với
nhau.
-
Nhà
nước có chức năng
định
hướng và hướng dẫn các
thành
phần
kinh
tế
phát triển,
đồng
thi điều tiết,
quản
lý thị
trưng
nhằm
đảm
bảo
cho
thố
trường
với
nó
là sự
xuất
hiện
của
nhiều
thành
phần
kinh
tế.
Các
doanh
nghiệp,
các
tổ
chức
kinh tế
được
tự
12
chù
kinh
doanh
nhưng do còn
nhiều
khó khăn
cũng
như
những
kinh tế
và hưụng dẫn các
doanh
nghiệp
,
các
tổ
chức
kinh tế
hoạt
động đúng định
hướng,
đúng mục tiêu
kinh tế -
xã
hội
mà
Nhà nước đã đề
ra.
Điều đó
cũng
đồng
nghĩa
với việc
Nhà nước điều
tiết
thị
trường,
điều
tiết
đất
nước.
Chính
vì thế
mà nền
kinh
tế
nước
ta
được
gọi
là nền
kinh tế thị
trường có sự điều
tiết
cùa Nhà
nước,
hay
nền kinh tế
hàng hoa
nhiều
thành phân có
sự
quản
lý
của
Nhà nước.
- Nhà nước có
chức
năng
một hệ
thống
hiệu quả.
Đồng
thời
Nhà nước
cũng
tổ
chức
lại
hệ
thống
quản
lý cùa mình thông qua
việc
đổi
mới và hoàn
thiện
thể chế,
đơn
giản
và hợp lý hoa
thủ tục
hành
chính.
Bên
cạnh
đó,
Nhà nước còn đào
tạo
này đều giúp
tạo
lập
một nén
kinh tế
ổn định
vững
chắc
có sức
bật
tốt,
để ngày một
tiến
xa hơn
theo
kịp
với
các nước khác trên
thế
giới,
nhanh
chóng
tham
gia
vào quá trình
toàn câu
hoa.
- Nhà nước có chức năng kiểm
tra,
giám
vụ
vạch
ra
đế
đạt
tới
mục tiêu này đã đang được hình
thành.
Thực
chất
của
việc
kiêm
tra
là khá
năng
sửa
chữa
tới
mức
tối
đa
những
sai lầm,
những
hạn
chế trong
một
thời
gian
13
chính sách của các
doanh
nghiệp,
các cá nhân
trong
hoạt
động sản
xuất, kinh
doanh
nhằm đảm bảo công
bằng
xã
hội
và tăng trưởng ổn định
của
nền
kinh tế.
Như
vậy,
để
quản
lý một hệ
thống
kinh tế
như một
doanh
nghiệp,
một
ngành
mục
tiêu
này có
thể
do
chủ
thể
quản
lý áp
đớt,
song cũng
có
thể
do sự cam
kết giữa
chủ
thể
và
đối
tượng
quản
lý.
Sự
tham
gia
của
đối
tượng
quản
lý vào
quốc
dân
với
tư
cách
là
một hệ
thống
có
đối
tương quàn lý là các quá trình
kinh tế
đang
diễn
ra
với
cơ cấu
kinh
tế
tương ứng bao gồm
hoạt
động của các ngành, các vùng, các thành
phần
kinh
tế
và chù
thể
quàn lý
là
hệ
kinh tế
là
tổng
hợp các bộ
phận
hợp thành cùng
với
vị
trí,
tỷ
trọng
và
quan
hệ tương tác
giữa
các bộ
phận
đó
trong
quá
trình
tái sản
xuất
xã
hội [28].
Hiện
nay,
cơ
cấu
hệ
kinh
tế
cá
thể,
tiểu
chủ
và
kinh tế
tư bản tư
nhân;
-
Theo
phân ngành
rộng:
gồm có 3 khu
vực:
khu
vực
ì
gồm các ngành
khai
thác các
sản
phẩm
tự
nhiên,
khu vực
li
gồm các ngành
chế
hẹp:
gồm
3
lĩnh
vực
chính:
thương mại hàng hoa và
dịch
vụ
đời
sống;
công
nghiệp
và xây
dựng;
và
dịch
vụ
vận chuyên hàng
hoa,
hành
khách;
- Sắp xếp 61
tỉnh
thành 8 vùng
kinh
tế:
đổng
bằng
sòng Hổng, Đông Bắc,
vĩ
mô
là
việc
chủ
thể
quản
lý
(bộ
máy
hành chính Nhà nước được phân công
quản
lý
kinh
tế)
thực
hiện
quản
lý
đối với
đối
tượng
là
các
doanh
nghiệp
có quy
mô
vừa
và
tế
với
tư
cách
là
chù
thể
quản
lý bao
gồm
những
bộ
phận,
cá nhân có trách
nhiệm,
quyền
hạn
nhất
định,
có mối
quan
hệ
phụ
thuộc theo chiều
dọc,
chiều
ngang
để
thực
hiện
định.
Cơ
chế
quản
lý
kinh tế
do
chủ
thể
quản
lý
hoạch
định,
nó
mang
tính chù
quan.
Chù
thể
quản
lý thông qua
cơ
cấu
tổ chức quản
lý
(bộ
máy
quản lý)
xây
dựng,
thống
bao
gồm
các
bộ
phận như:
các
mục
tiêu
quản
lý
kinh
tế,
các chính
sách,
công cụ
quản
lý
kinh
tế
(chiến
lược,
kế
hoạch,
pháp
luật ),
ngoài
ra,
cơ
chế quản
kinh
tế
thị
trường,
mục
tiêu
quản
lý Nhà
nước
đối với
các
DNN&V
là
trạng
thái
mong
muốn, có
thể đạt
tới
của
các
DNN&V
nhằm
hướng
tới
thực
hiện
mục
tiêu
kinh
nước
mạnh,
xã
hội
công
bằng,
vãn
minh".
Mục
tiêu
kinh tế vĩ
mô
bao gồm: ổn
định,
tăng
trường,
công
bằng
và
hiệu
quả
[30],
hay cụ
thể
hơn
là
đảm
bảo
tỷ lệ
thất
bằng;
tăng
trưống
kinh tế
[49].
Ngoài
ra,
quản
lý Nhà nước
đối với
các
DNN&V
nhằm góp
phần
đạt
được
những
mục
tiêu dài hạn
của
nền
kinh tế như:
tăng trường
kinh tế
và tăng năng
suất.
Đây
là
vấn
đề
quản
lý Nhà
nước
đối với
các
doanh
nghiệp,
trong
đó có
DNN&V
nhằm
khuyến
khích
những
ưu
thế
và hạn chế
nhũng
khuyết
tật
của
thành
phần
kinh tế
này:
-
Đảm
bảo cho các
DNN&V
kinh
góp
phần
tăng trưống
kinh tế đất
nước.
- Phát
huy
tính năng động, thích
ứng
nhanh,
hiệu
quả cao
của
các
DNN&V
trong
cơ
chế thị
trường.
Làm cho các
DNN&V
kinh
doanh
có
hiệu quả,
ngày càng
vãn
minh,
hiện đại.
-
các chù
thể trong
nền
kinh tế thị
trường,
đó
là:
lợi
ích
quốc
gia,
lợi
ích của địa phương,
lợi
ích của chủ
doanh
nghiệp,
lợi
ích
của
người
lao
động và
lợi
ích
của
các
đối
tượng khác.
• Nôi dune của quản
kiểm
soát.
Điều
114
Luật
Doanh
nghiệp
có
quy
định một
số
nối
dung
cu
thể
của quản
lý Nhà nước như
sau:
- Ban
hành,
phổ
biến
và
tổ
chức
thực
hiện
các văn bản pháp
luật
về
lý Nhà nước và
đội
ngũ công nhân lành
nghề.
- Thực
hiện
chính sách ưu đãi
đối với
doanh
nghiệp theo
định hướng và
mục tiêu
của
chiến
lưầc,
quy
hoạch
phát
triển
kinh
tế-xã
hội.
-
Kiểm
tra,
thanh
tra
doanh
nghiệp,
giám sát
thường sử
dụng
thuật
ngữ
"quản
trị".
Và
quản
trị
doanh
nghiệp
đưầc
định
nghĩa
như
sau:
Quản
trị
doanh
nghiệp
là sự tác động liên
tục,
có
tổ
chức,
có hướng đích
của
chủ
thể
doanh
của
xã
hội.
Trong
một
doanh
nghiệp
nhỏ độc
lập đối
tưầng bị
quản
lý là
người
lao
động
và các
tiềm
năng
của doanh
nghiệp,
còn chủ
thể
quản
lý là chủ
thể
doanh
nghiệp
cùng bộ máy
quản
lý,
với
sự độc
lập
tương
đối
ớ các mức
khác
nhau.
1.2.2.
Yêu
cầu
về
hoàn
thiện
quản lý
DNN&
V ở
Việt
Nam
Hoàn
thiện
quản
lý
là
đòi
hỏi
khách
quan của
nền
kinh
quản
lý nền
kinh
tế
nói
chung
và
doanh
nghiệp
nói riêng
là
việc
phải
làm thường xuyên.
a.
Một
số vấn đế
đòi hỏi
phải tăng cường quản
lý
đối
với
DNN&V
Các
DNN&V
của
nước
ta
mặc dù
trong
mình:
- Hứn
chế về tài
chính:
Hứn chế này bộc
lộ
qua sự không hoàn
thiện
của
thị
trường tài chính
ở
nước
ta,
đặc
biệt
là
hoứt
động của hệ
thống
ngân hàng,
tổ chức
tín
dụng,
khả
năng hứn hẹp về khả năng tích
tụ
vốn bên
trong
và huy động vốn ngoài
tích
lũy
của bản thân và vay cùa bứn bè,
người
thân.
Chỉ một số
ít
doanh
nghiệp
có đù
điều
kiện
vay vốn thì chủ yếu
là
được
vay
ngấn
hứn
với
lãi
suất cao,
các
khoản
vay
trung
và dài hứn còn
rất
hứn
chế.
Có
cho đến
nay,
lãi
suất
cho vay
đã
thống nhất
nhưng các
DNN&V
vay khó khăn hơn
doanh
nghiệp
lớn,
doanh
nghiệp
ngoài
quốc doanh vay
khó khăn hơn
doanh
nghiệp
nhà
nước.
Do
đó,
các
DNN&V
nói
chung,
xí
nghiệp
xuất
-
kinh
doanh,
chiếm
dụng
vốn
của
nhau,
nợ vòng
vo,
khó có khả năng
thanh
toán đúng
hứn,
làm mất cả
quyền
mà cơ
chế đề
ra,
thậm chí
phải
đóng
cửa doanh
nghiệp.
Các
thủ tục xin
vay vốn cùa ngân hàng
phải
có
đất
lứi
quá
phức
tứp.
Bên
cứnh
đó
là
yêu
cầu
về
luận
chứng
kinh tế
- kỹ
thuật
chi
tiết
về phương
án
đầu
tư,
thời
gian
chờ
đợi
xét
duyệt
từ
lớn.
Đây
là
một
trong
những
khó khăn
lớn nhất đối với
các
DNN&V
hiện nay.
Điều
đó cho
thấy cần phải
tăng cường
quản
lý
theo
hướng
cải
cách hệ
thống
tín
dụng,
tạo
điều
kiện
cho
các
DNN&V.
trường,
kế
hoạch
sản
xuất
-
kinh
doanh
không bài
bản,
vì họ
quen
hoạt
động
theo
kiểu
"đánh
quả",
"nền văn
minh
kinh
doanh"
với
tinh
thần
kinh
doanh
chân chính
chưa được
tạo
do
việc
phát
triển
và mở
rộng thị
trường
chưa đồng
bộ,
thiếu
thông
tin
về
thị
trường,
thiếu
các
tổ
chức
dịch
vụ,
tư
vấn
về thông
tin thị
trường
(48%
số
doanh
nghiệp,
từ
đó dãn đến yếu tố
vượt
quá
khả
năng
tiếp thị
của
các chủ
doanh
nghiệp.
Điều đó làm
xuất hiện
các
"đầu
nâu"
trong
các làng
nghề
truyền
thống thao
túng khả năng
tiếp
cận
thị
trường
của
các
doanh
nghiệp
doanh
nghiệp phải
mua thông
tin
từ
rất
nhiều
nguồn
khác
nhau
với chi
phí
rất
cao,
mà
các
nguồn
tin
đó
cũng
không
đảm
bảo
độ
chính xác và kịp
thời.
Điều này ảnh hưởng không
nhỏ
tới
quyết
xâm
nhập
thị
trường cùa các
địa
phương,
đó
là
việc
xã,
phường
tự đểt ra
các
lệ
phí
khi
vào
địa
phương
tuy thuộc
vào giá
trị
hàng
hoa,
làm cho
người
làm ăn chân chính
phải
xoay
sờ làm