PHÒNG GD & ĐT EA SÚP
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VIẾT XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI : MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC VẦN CHO HỌC
SINH LỚP 1
Người thực hiện: Phan Thị Nhàn
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị:Trường Tiểu họcNguyeãn Vieát Xuaân EaRok, ngày 28 tháng12 năm 2013
1
MỤC LỤC
TT NỘI DUNG TRANG
I
PHẦN MỞ ĐẦU
1
I.1
Lý do chọn đề tài
3
I.2
Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3
I.3
Đối tượng nghiên cứu
4
a
Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
7
b
Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
7
c
Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
13
d
Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
13
e
Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu
14
II.4
Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của
vấn đề nghiên cứu
14
III
PHẦN KẾT LUẬN
14
III.1
Kết luận
14
III.2
Kiến nghị
15
2
I. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài :
* Mục tiêu: Đề tài này tập trung nghiên cứu Một số biện pháp dạy học vần cho học
sinh lớp Một. Đề ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong giảng dạy
3
giảm tỉ lệ học sinh yếu, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn Học vần
cho học sinh lớp Một Trường Tiểu học Phan Bội Châu.
- Góp phần thiết thực vào việc hình thành kỹ năng tư duy, phương pháp học tập chủ
động, khoa học tích cực cho học sinh, giáo dục tính cẩn thận cho học sinh.
* Nhiệm vụ:
Với mục tiêu quan trọng nêu trên, đối với lớp Một có những nhiệm vụ cụ thể như sau
- Giúp học sinh nắm được một cách có hệ thống các âm vị trong phân môn học vần:
các nét cơ bản, nguyên âm, phụ âm, thanh điệu, bảng chữ ghi âm .
- Giúp cho học sinh nắm được phương pháp học tốt, hứng thú trong học tập, yêu
thích môn học.
- Dạy học sinh biết ghép các nét cơ bản thành âm, biết ghép các âm thành vần nắm
được vị trí các âm trong vần, biết ghép phụ âm đầu với vần để tạo thành tiếng.
- Biết đọc các nét cơ bản đọc đúng chính xác âm, viết đúng các nét cơ bản, viết đúng
các âm và vần, biết đọc đúng các từ ngữ, các câu ứng dụng.
- Rèn kĩ năng nghe, đọc, viết, nói cho học sinh.
I. 3. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 1A trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân
I. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Do thời gian và năng lực nghiên cứu có hạn, nên tôi chỉ nghiên cứu về một số biện
pháp dạy Học vần cho học sinh lớp Một.
I. 5. Phương pháp nghiên cứu:
- Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau :
Phương pháp đọc sách tài liệu :
- Đọc sách và tài liệu xây dựng đề tài nghiên cứu cho bản thân.
- Đọc sách giáo viên Tiếng Việt 1.
- Đọc tài liệu đổi mới phương pháp dạy học.
các kĩ năng hoạt động sáng tạo điển hình. Phương pháp trò chơi học tập là một hình
thức tổ chức dạy học nhẹ nhàng, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào học tập tích cực vừa
chơi, vừa học và học có kết quả nhất là đối với học sinh lớp Một.
II. PHẦN NỘI DUNG
II. 1. Cơ sở lý luận:
* Cơ sở khoa học: Trong các môn học ở Tiểu học phần Học vần của môn Tiếng
Việt có vị trí quan trọng. Đặc biệt, lứa tuổi Tiểu học là giai đoạn chuyển tiếp từ hoạt
động chơi ở mẫu giáo sang hoạt động học là chủ đạo vì có đọc được thì trẻ mới hiểu
được yêu cầu của bài học. Kỹ năng nhận biết và đọc của học sinh lớp Một rất quan
trọng, đó cũng là sự phản hồi của kết quả tiếp thu sau một quá trình học tập của các
em. Nó thể hiện kết quả nhận biết các con chữ, các vần, và khả năng ghép chữ cái
với nhau thành vần, ghép chữ cái với vần thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu
sau cùng là đọc được một bài văn ngắn, một đoạn thơ ngắn vv…
* Cơ sở thực tiễn: Đối với học sinh khi bước vào lớp Một là một bước ngoặt quan
trọng trong đời sống của trẻ. Ở giai đoạn đầu lớp Một (học âm – chữ, vần) những
hoạt động có ý thức này còn mới mẻ. Đến lớp các em phải học bài, ngồi ngay ngắn,
phải kiểm tra bài, phải thực hiện đúng yêu cầu của giáo viên. Đối với các em, giáo
viên lớp Một cũng khác với cô giáo mẫu giáo. Giáo viên có chỗ ngồi riêng, có cách
dạy riêng, có sự đánh giá cho điểm. Những điều này làm cho một số em trong giờ
Học vần thường rụt rè, không dám đọc to, hoặc một số em đọc quá to, lạc cả giọng
làm ảnh hưởng đến hiệu quả giờ Học vần.
Dạy Học vần nhằm tạo kỹ năng và thói quen học tập. Do đó, trong quá trình dạy
vần giáo viên cần cho học sinh đọc - viết nhiều. Đồng thời phải luôn thay đổi cách
đọc, viết nếu không việc học sẽ nhàm chán, hiệu quả học vần sẽ hạn chế.
5
II. 2. Thực trạng: Trong giảng dạy trực tiếp lớp Một bản thân gặp một số thuận lợi
và khó khăn như sau:
a. Thuận lợi - khó khăn:
* Thuận lợi: - Được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Chi bộ, Ban giám hiệu nhà
trường có kế hoạch giảng dạy ngay từ đầu năm, tổ chức thao giảng, dự giờ , tổ chức
họp khối để thảo luận về đổi mới phương pháp cũng như phần giảm tải, tích hợp
giáo dục môi trường, kỹ năng sống.
Bản thân luôn có ý thức tự rèn, luôn học hỏi đồng nghiệp trau dồi về chuyên
môn. Rèn phát âm đúng, viết đúng mẫu chữ quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo.
- Một số giáo viên dạy lớp Một phát âm chưa chuẩn, còn sử dụng tiếng địa phương
trong giảng dạy, chưa thực sự đổi mới phương pháp dạy học, chữ viết chưa đẹp.
c. Mặt mạnh - mặt yếu:
6
Đa số học sinh tiếp thu bài nhanh dễ nhớ, tiết học diễn ra nhẹ nhàng sôi nổi, các
em tích cực tham gia vào hoạt động học. Bên cạnh đó một số em còn nhút nhát chưa
mạnh dạn, chủ động tiếp thu bài, chưa có ý thức tự giác trong học tập, còn thiếu tập
trung trong tiết học dẫn đến chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
- Giáo viên chưa nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy, nhiều tiết còn dạy chay. Chưa rèn
phát âm chuẩn và rèn chữ viết đúng mẫu.
- Một số em đến lớp quên mang theo đồ dùng học tập như bảng con, phấn viết, vở
bài tập, không học bài cũ ở nhà, ngồi học chưa chú ý.
- Do thay đổi chương trình cũ và chương trình mới học nhiều phân môn hơn chương
trình cũ. Trong phân môn Học vần có phần luyện nói theo chủ điểm nhưng vốn từ
của các em còn hạn chế nên chất lượng giờ dạy chưa cao.
- Phụ huynh: Do đời sống còn gặp nhiều khó khăn, vất vả, bận làm ăn nên không có
thời gian quan tâm đến việc học tập của con em. Chưa thực sự phối kết hợp với giáo
viên chủ nhiệm để có hướng giáo dục tốt nhất cho các em. Chưa phân bố thời gian
như giờ học, giờ chơi ở nhà để các em học tốt. Còn có tư tưởng khoán trắng chất
lượng học của con, em mình cho giáo viên.
3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
- Nhằm giúp học sinh nắm chắc kiến thức kĩ năng cơ bản của phân môn Học vần
Đọc, viết thành thạo đúng chính xác, nghe phát âm chuẩn, nói rõ ràng tròn câu, viết
đẹp. Ngay từ đầu năm học tôi dạy kĩ cho học sinh nắm vững các nét cơ bản và sau đó
giống nhau giữa các nét.
Ví dụ : Nét cong hở – phải ( C ) và nét cong hở – trái ( ) đều giống nhau là nét
cong khác nhau là nét cong hở phải thì hở bên phải, nét cong hở trái thì hở bên trái.
- Đối với âm- chữ ghi âm
Cho học sinh nhận diện âm – chữ ghi âm mẫu trên bảng lớp rồi phân tích để nắm
được cấu tạo của âm và chữ ghi âm đó. Chẳng hạn như âm o, ô, ơ .
+ Giáo viên: âm o gồm mấy nét và những nét nào?
+ Học sinh: gồm 1 nét cong kín.
Giáo viên gọi học sinh tìm đồ vật có trong thực tế giống với chữ ghi âm đó để học
sinh nhớ lâu hơn.
Ví dụ :Tôi có thể cho học sinh đọc thuộc câu: o tròn như quả trứng gà, ô thì đội
nón, ơ thì có râu. Tiếp theo tôi gọi học sinh tìm âm o, ô, ơ ở trong bộ chữ thực hành
cài vào bảng cài. Điều đáng chú ý là sau mỗi lần gọi học sinh tìm các âm trong bộ
chữ cài vào bảng, tôi luôn khuyến khích học sinh cá nhân hay tổ nào tìm nhanh và
đúng thì được khen. Bên cạnh đó phát hiện những học sinh tìm chậm để có biện
pháp giúp đỡ kịp thời .
Để giúp học sinh khắc sâu kiến thức đi sâu vào trọng tâm bài, gọi học sinh so sánh
để nhận biết điểm giống và khác nhau giữa âm này với âm khác.
Ví dụ :
Khi dạy: d và đ tôi hỏi học sinh:
+ Giáo viên: giữa âm d và đ giống và khác nhau ở điểm nào?
+ Học sinh: âm d và đ giống nhau là d, khác nhau là đ thêm dấu ngang. Để học
sinh nhớ một cách chắc chắn hơn, cho học sinh học thuộc câu:
“ d , đ hai chữ giống nhau
Chữ đ khác bởi trên đầu gạch ngang”
Tôi cho học sinh nhận dạng trên bảng lớp, nắm được cấu tạo qua phân tích và nhận
dạng trên bộ chữ thực hành.
- Đối với vần :
-Trong phân môn Học vần bài dạy âm, các em được quan sát hình ảnh trực quan:
con ve, xe đạp, cải bắp, cá mập…các em được nghe giáo viên phát âm mẫu, được
Trước khi tạo tiếng, cho học sinh nghe bạn mình phân tích tiếng đó một lần nữa. Với
hoạt động dạy học này các em được thực hành nhiều trên bảng cài, kết quả học sẽ
cao hơn.
Sau khi tạo tiếng, cá nhân sẽ tự được đứng lên phân tích tiếng mình vừa đọc và tự
ghép vần vào bảng cài.
Ví dụ : Em hãy nêu cấu tạo tiếng mèo
Tiếng mèo có âm m (mờ) đứng trước, vần eo đứng sau, dấu huyền trên âm e.
* Hướng dẫn học sinh nhận biết sự giống nhau, khác nhau của các âm, vần mới và
các âm, vần đã học. Các bước so sánh :
- Vần ao, vần eo có gì giống nhau ? ( giống nhau kết thúc đều bằng âm o)
- Vần ao, vần eo có gì khác nhau ? (khác nhau: ao có a, eo có e đứng trước )
Để tập cho học sinh làm quen với thao tác tư duy, phân tích, tổng hợp, so sánh khái
quát hoá mỗi khi làm bài tập điền âm, vần, học sinh phải biết nắm vững yêu cầu của
bài tập, sự kiện đã cho, phải điền âm vần gì. Biết vận dụng các âm vần đã học để làm
được các bài tập trong vở bài tập.
9
- Ngoài ra, các quy tắc chính tả ( g, ng , c , k , qu , ) được lồng ghép vào các trò
chơi học tập, thi đua ở mỗi tổ, nhóm.
Ví dụ : Em hãy điền g , gh vào chỗ trống sau :
Củ ệ , ế tựa
i nhớ , bé a
Cá ừ , …ọn …àng
Em hãy giải thích vì sao âm (gờ ) đứng trước e, ê , i em phải viết bằng gh ) ?
- Giúp học sinh đọc đúng các tiếng, tôi cho học thực hành ghép tiếng, rồi phân tích
để nắm được vị trí các âm, vần và dấu thanh, rồi đánh vần và đọc như:
+ Hỏi: đã có vần en muốn được tiếng sen ta phải làm gì ?
+ Học sinh trả lời: Ghép âm s trước vần en.
Gọi em khác trong lớp nhận xét và nhắc lại.
+ Hỏi: Tiếng sen có âm gì đứng trước? Vần gì đứng sau ? (đối với học sinh khá,
giỏi, tôi có thể hỏi: Em hãy nêu cấu tạo tiếng sen ?
Sau khi các nhóm thi đọc xong, gọi học sinh khác nhận xét để phát hiện học sinh
đọc nhỏ, chưa rõ tiếng. Từ đó nhắc nhở, rèn cho học sinh đọc to (vừa đủ nghe).
Bản thân tôi thường xuyên động viên và giúp đỡ học sinh (nhất là đối với học
sinh yếu) trong suốt quá trình học tập, đánh giá đúng kết quả luyện tập của học sinh
để có biện pháp dạy học tiếp theo sao cho phù hợp. Để tiết Học vần có chất lượng
cần phối hợp nhiều hình thức: học toàn lớp, học cá nhân, học theo nhóm, tổ chức thi
đố vui trò chơi, sử dụng các phiếu bài tập vv
- Khích lệ tạo hứng thú trong học tập:
Nắm được đặc điểm tâm lí chung của học sinh lớp Một một là thích được khen.
Vì vậy tôi thường xuyên động viên khích lệ các em trong mỗi tiết học, hạn chế chê
trách. Đối với những em chậm tiến bộ, rụt rè, tự ti tôi quan tâm nhiều hơn đến các
em bằng cách gọi các em trả lời hoặc lên bảng ghép vần, tiếng, từ. Chỉ cần các em có
một tiến bộ nhỏ là tôi tuyên dương ngay để các em mạnh dạn hơn. Đối với học sinh
khá giỏi phải có những biểu hiện tiến bộ vượt bậc hơn so với các bạn tôi mới khen.
Chính sự động viên kịp thời này và đúng đối tượng học sinh trong lớp đã có tác dụng
khích lệ học sinh trong học tập.
- Trò chơi học tập:
Việc tổ chức các trò chơi học tập giữa các tiết học cũng là một yếu tố không kém
phần quan trọng đó cũng là một biện pháp giúp học sinh học tốt. Các tiết dạy của
năm học trước, khi nghỉ giữa tiết thường cho học sinh hát một bài nhưng nay thay
vào đó thì tôi cho học sinh chơi một số trò chơi khoảng 3- 5 phút phù hợp nội dung
bài và thay đổi trò chơi cho các em hứng thú hơn trong học tập, tuy nhiên cần phải
chú ý đến tính vừa sức với học sinh .
* Một số trò chơi áp dụng vào dạy học vần:
Đầu tiết học tôi có thể cho học sinh chơi trò chơi khởi động như tìm thẻ chữ có
âm, vần đã học tiết trước hoặc hát bài hát có tiếng chứa âm, vần liên quan đến bài
mới. Ví dụ: Dạy vần ôi- ơi Học sinh hát bài “Em đi chơi thuyền”, hoặc bài “Cá vàng
bơi ”
* Trò chơi 1: “ Tôi bảo” .
-Thời gian chơi: Giữa tiết 1 ( 5 phút ) .
nhóm nào hoàn thành nhanh, chính xác nhóm đó thắng.
* Trò chơi 5 : “ Nối theo mẫu ” .
-Thời gian chơi: Cuối tiết 2 ( 5 - 7 phút ) Giúp học sinh củng cố vần đã học nối
và đọc được tiếng chứa vần đó.
- Chuẩn bị: 2 bảng phụ vẽ sẵn hình bông hoa, quả và lá trong bông hoa. Giáo
viên ghi sẵn một số âm hoặc vần vừa học. Trong lá ghi các dấu thanh đã học.
- Nội dung – luật chơi: chia lớp thành 2 đội mỗi đội cử 5 em tham gia chơi. Giáo
viên đính bảng phụ lên bảng thực hành mẫu: Ví dụ : nối hình hoa (có âm ô) nối với
hình quả ( có âm m ) Tạo vần ôm .
Sau khi hết thời gian quy định đội nào nối nhanh, và tạo được nhiều tiếng có nghĩa
đội đó thắng cuộc .
* Trò chơi 6 : “ Đọc đúng tên hình ” .
- Thời gian chơi : Giữa tiết 2 ( 5 phút ) .
- Mục đích chơi : Giúp HS củng cố vần vừa học nối và đọc được tiếng, từ chứa vần
- Chuẩn bị : một số hình ảnh thân quen, gần gũi với học sinh .
- Nội dung – luật chơi : Đính hình ảnh đã chuẩn bị lên bảng yêu cầu học sinh đọc
đúng tên hình ảnh đó. Em nào đọc nhanh chính xác em đó thắng .
* Trò chơi 7 : “ Tìm và gạch chân tiếng chứa vần ” .
-Thời gian chơi: Giữa tiết 1 ( 3 - 5 phút ).
- Chuẩn bị: Bộ thẻ từ ( Đủ 1 em 1 thẻ ), nam châm . Chia nhóm tổ phát thẻ từ,
yêu cầu học sinh thực hành: Đọc thầm từ trong thẻ sau đó gạch chân tiếng chứa vần
vừa học. Sau khi thực hành xong chay nhanh lên bảng và dùng nam châm gắn thẻ từ
lên bảng theo nhóm tổ mình. Hết thời gian quy định, nhận xét học sinh nào, tổ, nhóm
nào tìm nhanh, chính xác thì thắng.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp :
12
Nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất, mỗi lớp học có một phòng. Có đủ đồ
dùng dạy học
- Lựa chọn đội ngũ giáo viên dạy lớp Một phải là những giáo viên nhiệt tình, giàu
lòng yêu nghề, yêu thương học trò, chũ viết đẹp, phát âm chuẩn.
cẩn thận, rửa tay, chân sạch sẽ )
Tôi cho nhiều em được nói, nếu em nào nói không tròn câu, tôi cho em tập nói lại
theo bạn.
Kỹ năng nghe:
Để giúp các em nghe hiểu trong giờ học trước tiên tôi rèn phát âm chuẩn, âm khó
thì phát âm hai đến ba lần sau đó mới gọi học sinh phát âm lại để sửa lỗi cho học
sinh đọc chưa đúng. Khi giảng, nói ít ngắn gọn đảm bảo nội dung, các em nghe hiểu
câu hỏi hiểu lời hướng dẫn hoặc yêu cầu của giáo viên…
Về thiết bị dạy học
13
Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, thực hiện chương trình sách giáo khoa
mới. Ngoài việc thực hiện các phương pháp và nội dung dạy học tôi cũng chú ý đến
phương tiện để phục vụ cho bài học ở từng dạng bài, từng phần trong chương trình,
để đạt được mục tiêu của bài học cần phải sử dụng những đồ dùng nào, những
phương tiện dụng cụ nào không thể thiếu trong tiết dạy. Tôi xem các danh mục về
thiết bị và đồ dùng dạy học của nhà trường hoặc bản thân đã tích luỹ được từ trước,
dặn dò học sinh phải chuẩn bị gì, bản thân phải chuẩn bị gì để dạy, nhằm thu hút,
hấp dẫn học sinh tạo ra hứng thú học tập cho các em. Tuy nhiên khi truyền thụ kiến
thức cho học sinh tôi cũng chú ý đến tính vừa sức, phát huy tích cực sáng tạo, hệ
thống bài học lôgic, tập cho học sinh trả lời tròn câu rõ ràng, chính xác.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
- Các biện pháp, giải pháp đưa ra cho học sinh luôn phải có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Muốn cho học sinh đọc đúng thì đòi hỏi giáo viên phải đọc mẫu đúng. Xác
định đúng mục tiêu bài dạy và đối tượng dạy thì giờ học mới có hiệu quả.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Sau thời gian áp dụng đưa vào giảng dạy từ đầu năm 2011-2012 đến hết phần
học vần. Tôi nhận thấy đa số các em kể cả học sinh yếu đều có thể nhận biết và phát
âm đúng những âm, vần đã học từ đó đã hình thành được kỹ năng đọc, viết chữ
tương đối tốt chất lượng cụ thể như sau:
II.4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
thay đổi các hình thức chơi phong phú và sáng tạo. Tạo tâm thế và gây hứng thú khi
tiến hành giờ học, giúp các em khắc sâu kiến thức bằng cách phối hợp linh hoạt các
phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học gây hứng thú học tập, kích thích tính
tích cực và chủ động học tập của học sinh, xây dựng môi trường học tập thân thiện,
yêu trường muốn đến lớp của học sinh và tạo sự tin tưởng cho phụ huynh.
-Tham khảo tài liệu, dự giờ… nhằm trao đổi kiến thức để dạy học tốt phân môn Học
vần và các môn học khác.
- Động viên, khen ngợi, khuyến khích kịp thời trước mỗi thành công của học sinh.
- Giáo viên phải có tấm lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, biết quan tâm đúng mức
đến từng đối tượng học sinh, nhất là học sinh yếu cần được quan tâm thường xuyên.
Học sinh yếu theo tôi là phải quan tâm các em bằng tình thương thật sự, bằng tấm
lòng, hi sinh thời giờ cho các em thì mới mang lại hiệu quả.
III.2. Kiến nghị:
- Đối với ban giám hiệu trường
Thường xuyên tổ chức hội giảng đối với phân môn Học vần nói riêng và các môn
học khác nói chung để học hỏi, rút kinh nghiệm ở các bạn đồng nghiệp.
Trường cần có thêm tài liệu tham khảo đối với phân môn Học vần. Cần bổ sung
thêm nhiều tranh ảnh minh họa cho môn học để giúp giáo viên có phương tiện dạy
học tốt hơn.
- Đối với phòng giáo dục
Thường xuyên mở các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về chương
trình sách giáo khoa mới để giáo viên có thêm kiến thức nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học ngày càng có hiệu quả cao hơn.
Trên đây là những ý kiến cá nhân của bản thân tôi đã góp phần vào nâng cao chất
lượng dạy học vần lớp Một, đồng thời qua đề tài này tôi cũng mong nhận được ý
kiến trao đổi từ quý đồng nghiệp để bản thân đạt hiệu quả hơn trong công tác giảng
dạy.
Trong việc nghiên cứu, tìm hiểu về thực tiễn dạy học vần ở lớp Một, ngoài cố
gắng của bản thân tôi còn được sự quan tâm giúp đỡ của các đồng nghiệp, mặc dù có
những nỗ lực nhưng do kinh nghiệm còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những