Điều tra tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở Vị Thủy - Hậu Giang - Pdf 11


1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NUÔI CÁ LÓC
THƯƠNG PHẨM Ở VỊ THỦY - HẬU GIANG
Sinh viên thực hiện


ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NUÔI CÁ LÓC
THƯƠNG PHẨM Ở VỊ THỦY - HẬU GIANG Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện

ThS. TRẦN NGỌC TUYỀN HUỲNH THỊ THÚY NGUYỆT
MSSV: 06803026
LỚP: NTTS K1
Cần Thơ, 2010 3

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Luận văn: Điều tra tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở Vị Thủy - Hậu Giang
Sinh viên thực hiện: HUỲNH THỊ THÚY NGUYỆT
Lớp: Nuôi trồng thủy sản K1
Đề tài đã được hoàn thành theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và hội đồng bảo

kỹ thuật vào thực tiễn của mô hình nuôi nhằm mục tiêu đạt được hiệu quả sản xuất.
Trong khoảng thời gian thực hiện đề tài, số liệu về tình hình nuôi cá lóc thương phẩm
của 31 hộ đã tiến hành thu trên địa bàn huyện Vị Thủy - Hậu Giang.
Kết quả cho thấy, khoảng 3 - 4 năm gần đây mô hình nuôi cá lóc thương phẩm ở
huyện tập trung nhiều bằng hình thức nuôi cá trong vèo trên sông. Các hộ chủ yếu tận
dụng diên tích mặt nước sông sẵn có, vèo thể tích trung bình là 18,1±5,64 m
3
, sản
lượng đạt 1.396±657 kg với mật độ thả trung bình 206±35,2 con/m
3
. Nguồn thức ăn
chủ yếu là cá tạp, ốc, xương cá tra. Thời gian thả nuôi khoảng 4-5 tháng thì thu hoạch
với kích cỡ trung bình khoảng 539 g/con, tỷ lệ sống đạt 66,8%. Lợi nhuận bình quân
mỗi vèo là 6.667.000±4.054.000 đồng/vèo.
Tóm lại, cá lóc là đối tượng dễ nuôi và được nuôi với nhiều mô hình khác nhau, phù
hợp với nhiều vùng đất. Tuy nhiên nếu chọn nuôi theo hình thức vèo trên sông thì
khâu quản lý nguồn nước là khó khăn nhất. Vì vậy muốn phát triển mô hình này cần
phải căn nhắc rất nhiều và sự vào cuộc của chính quyền địa phương.

5

MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG I 1


6

4.2.1 Tỷ lệ giới tính và trình độ văn hóa 14
4.2.2 Kiến thức về nuôi trồng thủy sản 15
4.2.3 Kinh nghiệm về nuôi trồng thủy sản 15
4.2.4 Các hoạt động kinh tế chủ yếu của nông hộ 16
4.3 Những thông tin về kỹ thuật 16
4.3.1 Chuẩn bị vèo và mùa vụ thả nuôi 16
4.3.2 Thể tích vèo, con giống, mật độ và thức ăn 18
4.3.3 Chăm sóc và quản lý dịch bệnh 21
4.3.4 Thu hoạch, năng suất và kích cỡ cá 22
4.4 Hiệu quả kinh tế 23
4.4.1 Các khoản chi phí để thực hiện vèo nuôi 23
4.4.2 Hạch toán kinh tế 24
4.5 Thị trường tiêu thụ 25
4.6 Những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi cá lóc trong vèo 25
4.6.1 Thuận lợi 25
4.6.2 Khó khăn 25
CHƯƠNG V 26
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 26
5.1 Kết luận 26
5.2 Đề xuất 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
PHỤ LỤC A. 1

Phụ lục A: Phiếu phỏng vấn A. 1
Phụ lục B: Bảng số liệu điều tra thực tế và đã xử lý B. 1
Phụ lục C: Tỷ lệ sống, năng suất cá thu hoạch của các hộ khảo sát C. 1
Phụ lục D: Tổng chi, tổng thu và lợi nhuận của các hộ khảo sát D. 1

Vì vậy, một trong những hướng nghiên cứu cho mục tiêu này là thu thập và tổng kết
những kinh nghiệm đã có được đồng thời xác định nhu cầu tiêu thụ nguồn thực phẩm
hiện có để tránh tình trạng nuôi một cách tự phát và cuối cùng không có thị trường
tiêu thụ. Đề tài “Điều tra tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở Vị Thủy - Hậu
Giang” sẽ góp phần cho nghề nuôi cá lóc ngày càng đạt hiệu quả hơn.
1.2 Mục tiêu đề tài
Đề tài thực hiện nhằm thu thập và tổng kết kinh nghiệm nuôi cá lóc thương phẩm
trong vèo trên sông ở Vị Thủy - Hậu Giang, từ đó làm cơ sở khoa học xây dựng và
hoàn thiện quy trình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông, giúp người dân địa

8

phương có định hướng phát triển và ứng dụng các biện pháp khoa học - kỹ thuật vào
thực tiễn của mô hình nuôi nhằm đạt được hiệu quả sản xuất.
1.3 Nội dung đề tài
Khảo sát hiện trạng, kỹ thuật và hiệu quả của mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong
vèo trên sông ở huyện Vị Thủy - Hậu Giang. Từ đó phân tích những thuận lợi và khó
khăn của mô hình nuôi. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm góp phần nâng cao năng
suất và hiệu quả của mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông ở huyện Vị
Thủy - Hậu Giang.

9

CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc
Hệ thống phân loại (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Ophiocephalidae

Long, 2005).
2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng của cá lóc
Cá lóc là loài cá dữ có kích thước lớn. Lược mang dạng hình núm. Thực quản ngắn,
vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Dạ dày to hình chữ Y (Hình 2.2 và
Hình 2.3). Quan sát thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá cho thấy cá chiếm
63%; tép 35,9%; ếch nhái 1,03% và 0,07% là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ. Cá
nhỏ ăn: giáp xác, chân chèo, ấu trùng bọ gậy, ấu trùng côn trùng, tôm con, nòng nọc,
các loại cá nhỏ khác. Cá trưởng thành ăn tạp: cá, ếch, nhái, tôm Chúng ăn mạnh vào
mùa hè, khi nhiệt độ giảm xuống dưới 12
0
C cá ngừng kiếm ăn. Hàm lượng chất béo
của cá cao vào trước mùa đẻ, cá ở vùng nước lợ béo hơn ở vùng nước ngọt (Dương
Nhựt Long, 2005).
Giai đoạn ấu trùng mới nở, cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong khoảng 3-4 ngày.
Sau khi hết noãn hoàng, cá bắt mồi xung quanh như các loài động vật phù du (luân
trùng, giáp xác chân chèo…) vừa cỡ miệng. Khi cá dài khoảng 5-6 cm đã có thể bắt
các loài cá, tép nhỏ. Trong giai đoạn ương cá bột thì Moina là thức ăn tốt trong 3 tuần
lễ đầu, đối với cá giống thức ăn ưa thích là sâu gạo và dòi (Dương Nhựt Long, 2005).
Hình 2.2: Lược mang dạng hình núm Hình 2.3: Dạ dày to hình chữ Y

(Ảnh: Dương Nhựt Long, 2005) (Ảnh: Dương Nhựt Long, 2005)
Theo Nguyễn Thị Ngọc Lan (2004), khi nghiên cứu hiệu quả sử dụng các loại thức ăn
khác nhau để ương cá lóc bông giai đoạn 0,2-3,0g cho kết quả: ở các nghiệm thức cá
đã được cho ăn hoàn toàn trùn chỉ, hoàn toàn thức ăn chế biến (TACB) và kết hợp
TACB với trùn chỉ có tỷ lệ sống đạt 97,0-97,5% và khác biệt có ý nghĩa so với
nghiệm thức cho cá ăn hoàn toàn cá xay và nghiệm thức kết hợp TACB với cá xay.
11

cá bắt đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài (Dương Nhựt Long, 2005).
2.2 Tình hình nuôi thủy sản ở Việt Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long
Sản lượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) trong tháng 01/2010 ước tính đạt 151.000 tấn,
tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó sản lượng cá đạt 112.000 tấn, tăng
3,7%; sản lượng tôm đạt 20.000 tấn, tăng 5,3%; sản lượng thủy hải sản và trồng rong
biển đạt 19.000 tấn. Sản lượng NTTS tăng nhanh, chủ yếu do các địa phương tiếp tục
phát triển mạnh mô hình nuôi đa canh, đa con cho năng suất và hiệu quả cao (Thông
tin thống kê, 2010).

12

Theo ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, năm 2010, ĐBSCL phấn đấu đưa diện tích NTTS lên
930.000 ha mặt nước, tăng hơn 100.000 ha so với năm 2009 (Khuyến ngư Tp. HCM -
Thông tin thủy sản, 2009).
Nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) trong lồng bè đã được bắt đầu từ 1960s trong
khi nuôi cá lóc đen (Channa striatus) được áp dụng từ thập kỷ 90 cùng thế kỷ và hiện
trở nên phổ biến ở ĐBSCL (Lê Xuân Sinh và ctv, 2009).
Tỉnh Đồng Tháp, phong trào nuôi cá lóc thương phẩm rất phát triển, tổng sản lượng cá
lóc thu hoạch của toàn tỉnh năm 2008 đạt 4.981 tấn (Nguyễn Đặng Thùy, 2009). Bên
cạnh đó ở An Giang, Hậu Giang nghề nuôi cá lóc thương phẩm cũng không kém phần
phát triển.
Hiện nay các mô hình nuôi cá lóc thương phẩm phổ biến như: nuôi trong ao đất,
vèo/giai trong ao, vèo/giai trên sông, lồng bè và ao nổi (nylon hoặc xi măng). Riêng ở
Hậu Giang mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông được xem là phổ
biến nhất. Ở ĐBSCL, cá lóc bông có thể nuôi thâm canh cả trong ao lẫn trong bè và
đều đạt năng suất cao, dao động từ 42,5-116 kg/m
3
(Nguyễn Đình Chiến, 2003).
Hầu hết nuôi cá lóc thương phẩm đều sử dụng nguồn cá tạp nước ngọt làm thức ăn
(tập trung nhiều trong mùa lũ từ tháng 9-12) và chiếm 37,8% lượng thức ăn hàng năm.
Hình 2.4: Bản đồ hành chánh tỉnh Hậu Giang
(Ảnh: Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007).
2.3.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Khí hậu, thời tiết: tỉnh Hậu Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão,
quanh năm nóng ẩm không có mùa lạnh. Mùa mưa từ tháng 5-11, mùa khô từ tháng
12-4 (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007).
Chế độ thủy văn: địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng của 2 hệ thống dòng chảy: hệ thống
sông Hậu và hệ thống sông Cái Lớn (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007).
Đất đai: trên địa bàn tỉnh có ba nhóm đất chính là đất phù sa (chiếm 42% diện tích tự
nhiên); đất phèn (chiếm 41% diện tích tự nhiên) và đất ngập nước (chiếm 17% diện
tích tự nhiên) (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007).
2.3.1.2 Xã hội:
Năm 2006 dân số toàn tỉnh đạt 799.114 người, mật độ 497 người/km
2
. Mức tăng từ
1,07-1,11%/năm. Dân thành thị là 132.406 người, chiếm 17%. Đa phần dân số sống
dựa chủ yếu vào canh tác nông nghiệp chiếm 41,4%, phi nông nghiệp chiếm 58,6%
(Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007).
Thành phần dân tộc: gồm 4 dân tộc là Kinh, Khmer, Hoa, Chăm. Dân tộc Kinh chiếm
96,5%; dân tộc Khmer chiếm 2,33%; dân tộc Hoa chiếm 1,14%; dân tộc Chăm chiếm
0,03% (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007).
Nhìn chung, Hậu Giang có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi để phát triển
nông nghiệp, kinh tế vườn phát triển sẽ giúp người dân Hậu Giang sớm đạt được mục
tiêu thu nhập 50.000 đồng/ha. Nằm ở vị trí trung tâm miền Tây Sông Hậu là điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và giao lưu phát triển kinh tế với

14


2.4.1 Điều kiện tự nhiên
Vị Thủy là một huyện của tỉnh Hậu Giang được tách ra từ huyện Vị Thanh vào năm
1999 theo nghị định 45/1999/NĐ - CP ngày 01/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ.
Trung tâm huyện là Thị trấn Nàng Mau. Tổng diện tích của huyện là 230 km
2
với tổng
dân số là 96.500 người (Hoàng Chí Hùng, 2008).

15 Hình 2.5: Địa điểm điều tra (Bản đồ hành chánh tỉnh Hậu Giang)
(Ảnh: Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007).
Huyện có địa bàn khá thuận lợi về vị trí địa lý: nằm ở phía tây của Hậu Giang; phía
Bắc giáp huyện Châu Thành A; Nam giáp huyện Long Mỹ; Tây giáp tỉnh Kiên Giang
và thị xã Vị Thanh; Đông giáp huyện Phụng Hiệp. Về hành chánh, bao gồm thị trấn
Nàng Mau và 9 xã là Vị Bình, Vị Trung, Vị Thủy, Vị Đông, Vị Thanh, Vị Thắng,
Vĩnh Tường, Vĩnh Trung, Vĩnh Thuận Tây (Hoàng Chí Hùng, 2008).
Ở Vị Thủy nông nghiệp phát triển chủ yếu bằng nghề trồng lúa, chăn nuôi gia súc, gia
cầm và thủy sản. Sau 10 năm thành lập, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng
năm của huyện đạt khoảng 11,1%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ
trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ
(Hoàng Chí Hùng, 2008).
2.4.2 Tình hình phát triển và nuôi thủy sản ở huyện Vị Thủy

nuôi bền vững mà UBND huyện đã và đang tính đến (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009).
Ngoài các mô hình sản xuất như: 2 vụ lúa xen 1 vụ cá; vườn ao chuồng (VAC) thì
hiện nay huyện còn có các mô hình nuôi chuyên canh theo quy trình nuôi bán công
nghiệp - công nghiệp, cá lồng, bè rãi rác ở các xã, thị trấn. Đặc biệt trong thời gian
gần đây, mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông đang là hướng phát
triển mới của huyện. Tuy nhiên, các mô hình nuôi còn khá đơn giản, chưa có quy
hoạch cụ thể, nuôi trong vèo trên sông là chủ yếu và chưa được đầu tư đúng mức, với
diện tích chiếm khoảng 5% tổng diện tích các đối tượng thủy sản nuôi của huyện
(Phan Dũng và Hà Thanh, 2009).
Nhìn chung, cho đến nay các đối tượng cá đồng như cá lóc, cá rô đồng…được nuôi
với hình thức thương phẩm khá nhiều. Tuy nhiên những số liệu điều tra về các đối
tượng này còn hạn chế. Do đó cần có những nghiên cứu sâu hơn, tổng thể hơn nhằm
phát triển nghề nuôi các đối tượng cá đồng. Đó cũng là một trong những lý do để thực
hiện đề tài này. 17


trình độ văn hóa, số lao động trong gia đình; lý do chọn đối tượng nuôi là cá lóc;

18

Thông tin về kỹ thuật: đặc điểm mô hình nuôi; con giống; tình hình sử dụng thuốc,
hóa chất trong cải tạo vèo và nuôi; nguồn thức ăn; cách chăm sóc, quản lý; tình hình
phòng và trị bệnh.
Thông tin về kinh tế: tổng chi phí; tổng thu; lợi nhuận; những thuận lợi và khó khăn từ
mô hình nuôi vèo.
Thông tin về thị trường: khả năng và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu đã được kiểm tra, điều chỉnh trước khi nhập vào máy tính, sau đó dùng phần
mềm microsoft excel 2003 để tính như giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ %, tỷ
suất lợi nhuận dùng để mô tả diện tích nuôi trồng, các đặc trưng kinh tế xã hội của
nông hộ
Phân tích hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi:
Lợi nhuận = Tổng thu - Tổng chi.
Tổng thu = Sản lượng * Giá bán.
Tổng chi: Chi phí vèo, thức ăn, con giống, hóa chất, thuốc phòng và trị bệnh
Tổng thu
Hiệu quả chi phí =
Tổng chi
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận =
Tổng chi
Tổng số lượng cá thu hoạch
Tỷ lệ sống (%) = *100
Tổng số lượng cá thả nuôi

Hệ số thức ăn (FCR): là lượng thức ăn (tính theo khối lượng khô) sử dụng để tăng một

1.003 tấn lên 2.701 tấn, sản lượng tăng mạnh nhất vào năm 2008, chiếm tới 64,2% so
với tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng của toàn huyện. Riêng năm 2009 mặc dù số hộ
nuôi và tổng sản lượng cá lóc có tăng lên so với năm 2008 nhưng số lượng vèo và
tổng thể tích vèo lại giảm xuống, từ đó dẫn đến tỷ lệ phần trăm sản lượng cá lóc nuôi
trong vèo cũng giảm theo, chỉ chiếm 54,1% (năm 2008 là 64,2%, giảm 10,1%). Điều
này đã cho thấy, do những năm trước một hộ có thể đầu tư tới 4-5 vèo nhưng vì một
số lý do như nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm, nhà nước có chính sách bảo vệ nguồn
lợi thủy sản, nghiêm cấm không cho khai thác quá mức làm mất cân bằng sinh thái
dẫn đến nguồn cá tạp dùng làm thức ăn nuôi cá lóc khó tìm đồng nghĩa với mức giá
thức ăn dùng để nuôi cá lóc sẽ tăng lên, dẫn đến người nuôi không có lãi Do đó một
số hộ đã chuyển sang các đối tượng nuôi mới và giảm dần số lượng vèo của gia đình
xuống. Trung bình mỗi hộ chỉ nuôi từ 1-2 vèo, chỉ vài hộ còn đầu tư tới 5-6 vèo vì đây
là nguồn thu nhập chính của gia đình.
Theo ý kiến của Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư của huyện thì hình thức nuôi cá
lóc vèo trên sông cần được phát triển vì với mức đầu tư ban đầu thấp, tận dụng mặt
nước sẵn có nhưng hàng năm lại đóng góp một sản lượng không nhỏ vào tổng sản
lượng thủy sản chung của toàn huyện. Hiện nay khi nói đến hình thức nuôi cá thương
phẩm trong vèo ở Vị Thủy thì đối tượng đầu tiên được cán bộ khuyến nông, khuyến
ngư nghĩ đến là cá lóc.
Qua số liệu điều tra từ trung tâm khuyến nông, khuyến ngư của huyện Vị Thủy thì
trong năm vừa qua hầu hết ở các xã đều có hộ nuôi cá lóc vèo trên sông. Tập trung

20

Nam, 74%
Nữ, 26%
nhiều nhất là ở các xã Vị Đông, Vị Bình, Vị Trung, Vĩnh Trung…Trong đó, xã có
tổng số hộ nuôi nhiều nhất và mức độ thành công cao là xã Vĩnh Trung. Vì vậy khi
khảo sát các hộ nuôi cá lóc vèo trên sông thì xã Vĩnh Trung có số hộ được điều tra
chiếm nhiều hơn 4 xã còn lại.


Qua Bảng 4.2 cho thấy trình độ văn hóa của các hộ được khảo sát đa phần là cấp I,
chiếm 71%, phần còn lại là cấp II và không có tỷ lệ người mù chữ. Như vậy đây cũng
là một trong những thuận lợi

cho người dân trong quá trình nhận thức, tham khảo sách
báo, các tài liệu về đối tượng mình nuôi. Tuy nhiên với một trình độ mà phần lớn kiến
thức của các chủ hộ là cấp I nên khả năng tiếp thu những kỹ thuật mới, các ứng dụng
mới sẽ chậm, từ đó để các hộ nuôi có thể áp dụng các kỹ thuật mới vào mô hình nuôi
của mình chưa được chú trọng dẫn tới hiệu quả nuôi của các mô hình chưa cao.
Nhìn chung trình độ văn hóa và giới tính của nông hộ cũng là một trong những trở
ngại và ảnh hưởng rất lớn đến việc ứng dụng và tiếp thu các kỹ thuật mới, điều này
ảnh hưởng đến năng suất của mô hình nuôi cũng như thu nhập của nông hộ.
4.2.2 Kiến thức về nuôi trồng thủy sản
Nguồn kiến thức về NTTS của các hộ được khảo sát thông thường là từ tivi, radio, từ
nông dân khác, kinh nghiệm nuôi thủy sản…và được trình bày ở Bảng 4.3.
Bảng 4.3: Nguồn tiếp cận thông tin kỹ thuật các hộ khảo sát
Nguồn tiếp cận Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%)
Tivi + radio + nông dân khác 21 68
Kinh nghiệm nuôi thủy sản 10 32
Tổng cộng 31 100
Qua Bảng 4.3 cho thấy các nông hộ tiếp nhận nguồn thông tin kỹ thuật từ các phương
tiện như tivi, radio. Bên cạnh đó đa phần là từ học hỏi kinh nghiệm nuôi ở người này
truyền sang người khác trong vùng nuôi, hầu hết thì chưa có hộ nào được tham dự qua
lớp tập huấn về nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông.

Từ đó cho thấy với một
trình độ tương đương nhau và khả năng tiếp thu là như nhau thì mức độ truyền đạt
những kiến thức cho nhau là rất thấp, sự nắm bắt những kỹ thuật mới sẽ rất hạn chế,
dẫn đến một kết quả tất yếu là hiệu quả của các mô hình chưa được cao. Với những

3
sau 4 tháng nuôi đã thu được lợi
nhuận tới 13.385.000 đồng (phụ lục B).

4.2.4 Các hoạt động kinh tế chủ yếu của nông hộ
Trồng lúa là hoạt động chính của 31 hộ đã được khảo sát, hầu hết các nông hộ đều cho
rằng nuôi thủy sản chỉ là công việc phụ thêm trong thu nhập của gia đình, tận dụng
mặt nước sẵn có, một số hộ còn tham gia chăn nuôi, tham gia khai thác thủy sản với
quy mô nhỏ nhằm cung cấp thức ăn cho gia đình và làm nguyên liệu phục vụ cho
NTTS. Qua đó cho thấy quan điểm về NTTS của các nông hộ còn hạn chế, các hộ
chưa thật sự chú trọng trong việc đầu tư mà chỉ nuôi theo hình thức có bao nhiêu thì
làm bấy nhiêu, coi nhẹ lợi ích của NTTS. Với suy nghĩ trên thì khả năng mở rộng mô
hình nuôi và việc đầu tư đúng mức hơn cũng như việc làm sao để tăng hiệu quả mô
hình nuôi là vấn đề rất khó khăn.
4.3 Những thông tin về kỹ thuật
4.3.1 Chuẩn bị vèo và mùa vụ thả nuôi
4.3.1.1 Chuẩn bị vèo
Tất cả các vèo đều được dùng lưới cước may nối các phần dưới và căng thẳng các
góc, cố định các góc trên và dưới bằng những cây trụ (tre, tầm vong ), những vèo có
thể tích lớn thì cần thêm hai cây trụ được đặt ở phần giữa chiều dài của vèo để kéo
vèo lên bằng với các góc nhằm tránh tình trạng cá tập trung ở giữa vèo nhiều sẽ làm
phần giữa vèo thấp hơn cá góc, cá dễ thoát ra ngoài, một số hộ cẩn thận có thể may
thêm phần lưới ở phía trên, như vậy khi mặt nước sông có dâng lên quá cao cũng

23

không làm cá thoát ra ngoài được. Khoảng cách từ đáy lưới của vèo nuôi đến đáy sông
khoảng 0,5m, nếu như vèo được đặt chạm đáy sông thì chất thải và thức ăn thừa sẽ
tích tụ gây ô nhiễm nước. Mặt khác do đặc điểm sinh học của loài cũng như việc đặt
lưới quá sâu chỉ làm hao tốn diện tích lưới, các chất cặn bã cũng như phù sa tích tụ sẽ


2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 (AL) Vụ 1
Vụ 2
Vụ 3
Qua kết quả khảo sát cho thấy các nông hộ đều chọn nuôi cá lóc ở vụ 1 và vụ 2. Đối
với vụ 3 chỉ một vài hộ thả nuôi, còn phần lớn thì các hộ bỏ trống không nuôi do thời
điểm này rơi vào những tháng nắng nguồn cá tạp tự nhiên dùng làm thức ăn để nuôi
cá lóc khó tìm, nếu hoàn toàn mua nguồn cá tạp để nuôi cá lóc thì chi phí khá đắt và
cuối cùng là người nuôi sẽ không có lãi. Bên cạnh đó nhiệt độ những tháng này biến
động nhiều làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá dẫn đến khả năng tăng trọng
của cá sẽ chậm. Với những nguyên nhân trên, các hộ nuôi cá lóc thường không chọn
nuôi ở vụ 3 và nếu có nuôi sẽ không thu được lợi nhuận cao thậm chí sẽ lỗ. Điển hình
ở hộ anh Trần Văn Kửng, tháng 2 vừa qua anh thả 4.000 con cá lóc giống, do vụ này
khó tìm nguồn thức ăn cho cá lóc nên anh không cung cấp đủ thức ăn dẫn đến cá ăn
lẫn nhau nhiều và thời tiết không được tốt, vì vậy sau 5 tháng nuôi chỉ đạt tỷ lệ sống là
40%, trọng lượng trung bình khi thu hoạch là 500 g/con. Sau khi thu hoạch anh trừ đi
tổng chi phí thì lỗ khoảng 5.065.000 đồng.
4.3.2 Thể tích vèo, con giống, mật độ và thức ăn
4.3.2.1 Thể tích vèo nuôi cá lóc
Thể tích NTTS của các hộ khảo sát trung bình là 18,1±5,64 m
3
/vèo (phụ lục B). Sở dĩ
độ lệch chuẩn biến động khá lớn là do mức đầu tư của nông hộ cũng như diện tích mặt
tiền trước nhà của các hộ nuôi, nếu như mặt tiền có chiều dài lớn thì hộ nuôi có thể
mở rộng thể tích vèo và ngược lại. Vèo nhỏ nhất có thể tích là 6 m
3
và vèo lớn nhất có

) Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%)
> 200 11 35,5
200 - 250 18 58,1
< 250 2 6,4
Trung bình±ĐLC 206±35,2
Tổng 31 100
Qua Bảng 4.5 cho thấy mật độ cá thả nuôi dao động trong khoảng 200-250 con/m
3
,
chiếm tỷ lệ cao nhất (58,1%). Trong 31 hộ đã khảo sát thì mật độ trung bình cá thả
nuôi là 206±35,2 con/m
3
. Có sự biến động quá lớn về độ lệch chuẩn cá thả nuôi là do
mức đầu tư ban đầu của hộ nuôi, kích cỡ cá thả khác nhau cũng như có nhiều hộ thả
với mật độ dầy và nhiều hộ thả với mật độ thưa,…
Với mật độ thả cá giống khá cao như trên cho thấy chỉ thích hợp với hình thức nuôi cá
trong vèo trên sông, do nước chảy liên tục nên khả năng cung cấp oxy sẽ không bị
thiếu, đây cũng là một ưu thế khi chọn hình thức nuôi. Qua khảo sát từ 31 hộ cho thấy
mật độ cá thả nuôi phụ thuộc vào thể tích của vèo, vèo có thể tích càng lớn thì mật độ
thả cá giống càng cao và lợi nhuận tương đối đạt hơn các hộ nuôi với thể tích nhỏ.
Theo phụ lục B cho thấy, các hộ nuôi cá có thể tích vèo từ 22,5 m
3
trở lên đều thả
giống với mật độ trên 200 con/m
3
và một số hộ có mức lợi nhuận trên 10.000.000 đ/vụ
đều thả nuôi với thể tích vèo lớn. Ngoài ra mật độ cá thả còn phụ thuộc vào mùa vụ
nuôi và mức vốn vào thời điểm thả nuôi cá của từng hộ, do một số hộ sử dụng vèo của
vụ trước để tiếp tục nuôi cho vụ sau nhưng do thời tiết xấu, khả năng kiếm nguồn thức
ăn để nuôi cá lóc khó khăn hay giá cá thương phẩm lúc thu hoạch không cao nên một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status