PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Từ thế kỉ XVII, việc nuôi cá cảnh đã trở một thú vui giải trí của nhiều
người trên thế giới. Nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn, thú vui giải trí của
con người ngày càng cao, con người đã không chỉ bằng lòng với những cái mà
thiên nhiên ban tặng, những cái kỳ lạ, những cái đẹp hiện hình trên cơ thể của
cá, con người đã ứng dụng những kiến thức khoa học kỹ thuật tiên tiến trong
lai ghép, tạo màu, áp dụng sự đột biến gen để tạo ra những loài lạ về hình dáng,
đẹp về màu sắc, có giá trị thẩm mĩ cao và được nhiều người ưa chuộng.
Nuôi cá cảnh đã trở thành một nghề, cũng như những nghề chơi nuôi
khác, không chỉ mang lại cuộc sống tươi vui cho một gia đình, một tập thể mà
còn là một nghề kinh doanh mang tính chất công nghiệp. Ngoài ra, việc nuôi cá
cảnh còn là một thú vui giải trí lành mạnh thể hiện lòng yêu thiên nhiên, giúp
cho con người giảm bớt sự căng thẳng của đời thường mà sống thoải mái hơn.
Ngày nay, do đời sống vật chất ngày càng cao nên nhu cầu về mặt tinh
thần ngày càng được coi trọng. Chính vì vậy thú chơi cá cảnh đã và đang phát
triển trên khắp cả nước. Hiện nay ở Thừa Thiên Huế nhu cầu nuôi cá cảnh đã
phát triển rộng khắp. Do đó nhiều nghệ nhân đã bắt tay và đầu tư vào việc lai
tạo, chọn giống tạo ra được một số dạng cá cảnh đẹp nhưng về mặt giá trị còn
thấp. Những loài cá cảnh có giá trị cao hầu như phải nhập từ các nơi khác đến
Huế làm giàu cho khu hệ cá cảnh hiện nay ở Thừa Thiên Huế.
Để góp phần tạo cơ sở khoa học cho việc xác định nhu cầu chơi cá
cảnh của người dân cũng như xác định thành phần loài cá cảnh ở Thành
phố Huế từ đó có những phát triển đúng đắn đối với ngành cá cảnh tỉnh
nhà, chúng tôi thực hiện đề tài: “Điều tra tình hình nuôi và chơi cá cảnh
trên địa bàn Thành phố Huế”.
Mục tiêu của đề tài:
- Bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu.
- Nâng cao kiến thức thực tế.
- Tìm ra các thành phần loài đang được nuôi phổ biến và tình hình nuôi
cá cảnh trên địa bàn thành phố Huế
phong phú với khoảng 600 loài thuộc nhiều bộ, họ khác nhau.
2
Trong thú chơi cá cảnh, có lẽ sự xuất hiện của chiếc bể kính là cuộc
cách mạng thật sự tạo bước ngoặt lớn đưa cá cảnh trở nên phổ biến và có tính
chất đại chúng hơn. Cá cảnh được nuôi thả trong bể kính từ những năm 1750
ở Anh, nhưng gần 100 năm sau đó hình thức nuôi này vẫn không thể phát
triển do những hạn chế về kiến thức và sự hiểu biết về cách thức quản lý chất
lượng nước cũng như duy trì cân bằng cây – cá và khí ôxy [14].
Các bể kính trưng bày cá cảnh xuất hiện thường xuyên hơn ở châu Âu
trong giai đoạn từ 1836 đến 1850, mặc dù thời kỳ đó các bể kính cá cảnh chưa
có tên gọi như ngày nay. Điều đáng lưu ý là các bể kính này phần nhiều trưng
bày cá cảnh biển, có lẽ do sự nghèo nàn về chủng loại của cá cảnh nước ngọt
vào thời kỳ đó. Vào năm 1853, bể cá cảnh công cộng đầu tiên được khánh
thành ở Sở thú Luân Đôn, với tên gọi là “nhà cá” (Fish House). Philip Henry
Gosse là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “bể cá cảnh” (Aquarium) trong
quyển sách “The Aquarium: An Unveiling of the Wonders of the Deep
Sea”[12].
Ở các nước như Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Bỉ, Hà Lan, Canada, Nhật,
Singapore, HongKong, Thái Lan,…người ta đã thành lập những viện bảo tàng
lớn với những bể cá hiện đại, có thể chứa tới 500.000 lít nước, với vài trăm
loài cá khác nhau.
Ở Pháp, có tới 8 triệu gia đình nuôi cá cảnh, số bể cá kiểng được bán ra
hàng năm lên tới 150.000 – 200.000 cái.
Ở Nhật Bản, nghề nuôi cá kiểng được đưa vào sản xuất công nghiệp,
được bán ra khắp thế giới và thu nhập hàng triệu đô la mỗi năm[10][14].
Lịch sử cá cảnh nước ngọt tuy nhiên lại bắt nguồn từ khu hệ cá nhiệt
đới, chủ yếu ở Nam Mỹ, Đông nam Á, châu Phi… Quyển sách cá cảnh nước
ngọt đầu tiên được ghi nhận là của tác giả Chang Chiên Tê viết về cá vàng
vào khoảng năm 1618 tại Trung Quốc. Cá cảnh nước ngọt nhiệt đới du nhập
vào châu Âu vào khoảng năm 1868 khi Carbonier mang cá đuôi cờ (thiên
này là nắm vững về kỹ thuật nuôi và cho sinh sản nhân tạo [1] [12].
Ngày nay, nhờ những thành tựu của khoa học nghề cá, số lượng loài cá
nuôi ngày một nhiều và đang biến động lớn. Lúc đầu người nuôi, chơi cá cảnh
chỉ biết đến các loài cá cảnh nước ngọt, sau đó họ tìm nuôi một số loài cá
nước lợ và mặn. Tùy từng đối tượng nuôi mà ta áp dụng những biện pháp kỹ
4
thuật riêng kéo theo đó là vấn đề về hiệu quả kinh tế. Từ đó, việc nghiên cứu
những đặc điểm sinh học, sinh sản, thành phần giống loài cá cảnh nước ta đã
được phát triển rộng. Bắt đầu từ hai thành phố lớn Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh với các tác giả Võ Văn Chi (1993) với cuốn “cá cảnh” đã đưa ra
116 loài cá nước ngọt thuộc 34 họ của 8 bộ khác nhau cùng với đặc điểm sinh
học, sinh sản của từng loài cá, Vĩnh Khang với các cuốn “kỹ thuật nuôi cá
kiểng” tập I, II (1993) “cá cảnh”(1998), Nguyễn Khoa Diệu Thu và Vũ Thị
Tám với cuốn “kỹ thuật nuôi cá cảnh” (2000), TS. Vũ Cẩm Lương với cuốn “
cá cảnh nước ngọt” (2008) và hiện nay với trang web feshviet.com nghiên
cứu sâu về mảng cá cảnh[13].
Lịch sử cá cảnh ở Huế từ thời kì thập niên 50 trở lại đây.
Thời kỳ thập niên 50 chỉ có hai loài cá chủ lực là lia thia đá và lia thia
tàu (theo cách gọi thời bấy giờ), các loài cá khác như cá chép, bảy màu cũng
phổ biến. Cá cảnh mua bán được gói bằng lá môn và buộc bằng dây lạt, do
vậy người bán buổi chiều còn phải đi cắt lá môn để chuẩn bị cho buổi bán
hôm sau. Nguồn cá nhập lúc bấy giờ chủ yếu từ Hongkong, do người Hoa đưa
về. Vào năm 1960, ngoài cá đá, bảy màu, hồng kiếm… còn có tứ vân, hồng
nhung, ông tiên, tai u (tai tượng)…[10][11]. Thức ăn cá cảnh vào đầu thập
niên 60 chủ yếu là lăng quăng đỏ (sau gọi là bo bo, moina), lăng quăng đen và
một số thức ăn tự chế biến. Đặc điểm giai đoạn này là các loài cá tự nhiên
(còn gọi là cá sông) đã xuất hiện khá đa dạng trong nuôi cảnh, có người chơi
cá sông tự nhiên, còn được gọi là “cá lạ”, bao gồm các loài: chuột, chạch các
loại, bã trầu kim cương…Vào năm 1963 cá heo (sau còn gọi tai tượng phi),
cá tai tượng Nam Dương (sau gọi là tai tượng Việt Nam)(1964) được một số
ngày nay đã đơn giản đi nhiều. Với nhu cầu ngày càng tăng cao của thú chơi
đồng thời cũng là công cụ trang trí nội thất này, thị trường cá cảnh ngày nay có
hàng trăm loài cá cảnh khác nhau. Thêm vào đó là thị trường thiết bị và phụ
kiện đi kèm. Chỉ với khoảng vài trăm ngàn đồng, người chơi đã có một bể
kiếng, máy sục khí, máy lọc, vài đồ trang trí dưới nước, bóng đèn… và tất
nhiên cả vài chú cá cảnh bơi lượn tung tăng.[9][10][13].
Thị trường cá cảnh không chỉ có cá, mà còn đang lên cơn sốt với phong
trào chơi bể thủy sinh. Bể cá thủy sinh được mệnh danh là một “thiên nhiên
xanh thu nhỏ” trong nhà. Những phong cảnh mê hồn trong các hồ thủy sinh
thường làm cho bất cứ ai khi thưởng ngoạn đều liên tưởng đến hình ảnh thiên
nhiên của một khu rừng, một khu vườn ở nơi nào đó. Chính vì thế, người có
nhu cầu làm đẹp và làm nội thất trong nhà xanh mát đặc biệt ưa chuộng trang
trí loại bể này.
6
Không chỉ là để vui mắt, điểm tô cho không gian mỗi căn phòng, góc
làm việc, chơi cá cảnh còn mang đến khoảnh khắc bình yên và thư thái tâm
hồn cho mỗi người. Khó có thể kể hết các loại cá đang được giới chơi cá cảnh
ưa chuộng và trong mỗi loài cá lại có một đặc điểm riêng, gửi gắm ước vọng
của người chơi. Để tạo một bể cá lung linh sắc màu mang sức sống và sự vui
mắt là quá trình xây dựng công phu. Bể cá được thắp đèn ban ngày và tắt lúc
ban đêm, trong bể gắn máy bơm tạo bọt hoạt động 24 giờ. Bể cá cảnh không
thể thiếu các loại rong, rong được chăm sóc bằng phân nền vi sinh và các
nguyên liệu khác để không làm ảnh hưởng đến độ trong của nước và sự sống
của cá. Toàn bộ cây, cá và nước tạo thành một môi trường sinh thái cộng sinh
hoàn chỉnh. Cá cảnh được ví như một đứa trẻ suốt ngày cần được chăm sóc,
nâng niu. Người chơi phải chăm cá thường xuyên như thay nước, vệ sinh bể,
khám chữa bệnh cho cá vào những ngày thời tiết thất thường. Theo quan niệm
phong thủy, bể cá thủy sinh sẽ điều hòa không gian, hướng sinh khí vào không
gian sống và làm việc. Làm bạn với cá cảnh là tạo ra sự thích thú, vui tươi cho
con người khi tự tay nuôi, chăm sóc chúng. Người chơi cá cảnh rất vui thích
tập hợp, giúp đỡ nhau, góp phần phát triển thị trường cá cảnh thành phố theo
đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Hội cá cảnh thành phố
chịu sự quản lý của Nhà nước và Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Kể
từ lúc thành lập đến nay, mặc dù với thời gian rất ngắn nhưng Hội cá cảnh
thành phố đã hoạt động một cách rất hiệu quả. Ngoài việc thu hút hội viên
sinh hoạt trong một tập thể quần chúng (khoảng 800 hội viên), Hội còn
thường xuyên tổ chức những hội thảo chuyên đề về cá cảnh (xử lý nước, kỹ
thuật nuôi cá cảnh, ấp trứng, phòng trị bệnh cho cá, xuất nhập khẩu cá…).
Qua những hội thảo trên đã góp phần giúp đỡ những hội viên (cả những người
mới vào nghề và những người nuôi cá lâu năm) có được những kiến thức hữu
ích trong việc nuôi và cải thiện kinh tế hộ gia đình, cũng như phát triển thú
vui tao nhã nuôi cá cảnh. Trước kia, khi hội cá cảnh thành phố chưa ra đời,
hầu hết người chơi thường tự thu thập thông tin qua sách báo trong và ngoài
nước, tự học hỏi trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau. Giờ đây, họ có thể an tâm
hơn vì thông qua những hội thảo này, họ có thể nắm bắt được những thông tin
cần thiết cho việc phát triển nghề nuôi của mình. Ngoài việc mời những
chuyên gia đầu nghành thuỷ sản tham dự, hội thảo còn tập trung nhiều chuyên
gia, nghệ nhân trong lĩnh vực nuôi cá cảnh; những chuyên gia, nghệ nhân này
sẽ trực tiếp trả lời, giảng giải, trao đổi ý kiến với hội viên để giúp hội viên có
những kiến thức hữu ích sau này[7][9][11][12].
8
2.2. Vài nét về điều kiện tự nhiên ở thành phố Huế
2.2.1.Vị trí địa lý
Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc -
Nam của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển,
gần tuyến hành lang Đông - Tây của tuyến đường Xuyên Á.
Toạ độ địa lý: 107
0
31’45”-107
0
ngày 26-03-2010) (nguồn UBND Thành phố Huế).
3.2.Điều kiện tự nhiên:
a. Khí hậu
Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á
xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa
miền Bắc và miền Nam nước ta.
b. Chế độ nhiệt
Thành phố Huế có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh. Nhiệt độ trung
bình hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24°C - 25°C.
+ Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam
nên khô nóng, nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C -
29°C, tháng nóng nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°C- 40°C.
10
+ Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió
mùa Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh. Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở
vùng đồng bằng là 20°C - 22°C. Do trời thường rất lạnh vào những đợt gió
mùa đông bắc tràn về nên việc nuôi giữ cá trong thời kì này rất khó khăn vì có
nhiều loài cá xứ nóng nhập về không thể chịu đựng được sự khắc nghiệt của
cái lạnh ở Huế.
Chế độ nhiệt có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống thuỷ sinh vật. Chính sự
dao động lớn về biên độ nhiệt (cao nhất từ 38-40
0
C và thấp nhất từ 9-12
0
C) đã
gây ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất của thuỷ sinh vật.
c. Chế độ mưa
Lượng mưa trung bình khoảng 2500- 3000mm/năm. Mùa mưa bắt đầu từ
tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30%
lượng mưa cả năm. Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng
Phùng, Nguyễn Quang Bích, Thanh Nam Bồ và các hộ gia đình nuôi cá cảnh
trên thành phố Huế. Phòng thí nghiệm khoa thuỷ sản.
+ Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 6/1/2010 đến 9/5/2010.
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Điều tra tình hình nuôi/bán cá cảnh trên địa bàn thành phố Huế-tỉnh
Thừa Thiên Huế.
3.2.2. Điều tra thành phần các loài cá cảnh được nuôi tại thành phố Huế
3.2.3. Những thuận lợi và khó khăn trong khi nuôi cá cảnh
3.2.4. Giá trị kinh tế và giá trị tinh thần của cá cảnh
3.2.5. Các bệnh thường gặp ở cá cảnh.
3.2.6. Tìm hiểu đặc điểm sinh học của các loài cá cảnh phổ biến.
3.3. Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin sơ cấp:
-Lập bảng hỏi với nội dung cụ thể
- Hỏi trực tiếp người nuôi và buôn bán cá cảnh
Thu thập thông tin thứ cấp:
-Tìm tài liệu trên các Website
12
-Đọc các sách báo chuyên ngành
-Đọc các báo cáo khoa học về cá cảnh
Ghi chép đầy đủ các số liệu
Tiến hành nghiên cứu ở phòng thí nghiệm
-Tiến hành phân loại và tìm hiểu một số đặc điểm sinh học của các loài
cá cảnh phổ biến.
3.3.2. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel.
13
PHẦN 4
như cá xiêm, bảy màu, thần tiên, chép cảnh. Các loài cá có giá từ 5000-25000
đồng/con gồm có các loài như cá sặc, tứ vân, tỳ bà, mã giáp…Đắt nhất trên
thị trường hiện nay vẫn là các loài cá trong họ cá rồng, cá la hán, cá dĩa…giá
của những loài này rất đắt, tùy theo màu sắc, kích cỡ và hình dáng của cá mà
giá có thể lên đến 2-3 triệu đồng/con hay hơn thế nữa.
4.1.4. Thức ăn cá cảnh
Hiện tại trên thành phố Huế các loại thức ăn sử dụng cho cá cảnh chỉ
gồm những loại thức ăn viên công nghiệp hay trùn chỉ, bo bo tươi và sấy khô
đóng hộp. Tuy nhiên thức ăn công nghiệp vẫn là thức ăn được sử dụng chính
còn trùn chỉ, bo bo chỉ là thức ăn bổ sung thêm. Giá thức ăn cũng tương đối
rẻ, thức ăn viên công nghiệp được sử dụng chủ yếu là Sanghai, giá có thể dao
động từ 10000-50000 đồng/kg tùy loại thức ăn tốt hay xấu; trùn chỉ, bo bo
đóng hộp được nhập từ thành phố Hồ Chí Minh ra giá cũng chỉ từ
20000-40000 đồng/hộp/0,3kg. Trùn chỉ, bo bo đóng hộp thường chỉ có những
trại sản xuất hay quầy bán mới sử dụng còn các người nuôi chơi thường sử
dụng bo bo, trùn chỉ tươi để bổ sung thêm thức ăn tươi cho cá cảnh.
4.2. Thành phần các loài cá cảnh được nuôi tại thành phố Huế.
4.2.1. Thành phần loài
Qua điều tra về thành phần các loài cá cảnh đang được chơi ở Huế hiện
nay thì đối tượng cá cảnh nước ngọt vẫn là chủ yếu chưa thấy xuất hiện các đối
tượng cá cảnh nước mặn vì chơi cá nước mặn vừa tốn kém lại khó nuôi, thỉnh
thoảng chỉ có một số người nuôi chơi các loài cá cảnh nước mặn vào dịp hè
như cá hoàng đế, thia xanh, thia lam,...Qua bảng điều tra tôi đã xác định được
40 loài cá thuộc 13 họ của 6 bộ cá cảnh nước ngọt khác nhau (không có đối
tượng cá nước mặn).Danh mục các loài cá được phân loại và sắp xếp theo khóa
phân loại của fishviet.com/net, Vĩnh Khang (1993), Võ Văn Chi (1993) và Mai
Đình Yên - Vũ Trung Tạng (1979)…Kết quả được thể hiện ở bảng 1 dưới đây.
15
Bảng 1: Danh mục các thành phần loài cá cảnh ở Huế
STT Tên khoa học Tên Việt Nam
Đầu lân Nam Mỹ
14 Apisfogranma reitzigi Cá phượng hoàng
Cá phượng
hoàng
Nam Mỹ
15 Astronotus ocellatus Cá heo lửa Cá tai tượng Nam Mỹ
16 Pterophyllum scalare Cá ông tiên Cá thần tiên Nam Mỹ
17 Rajah cichlasonma Cá La Hán Cá La Hán Malaysia
18
Symphysodon
aequifasciata
Cá đĩa xanh lục Dĩa xanh Sông Amazone
19
Symphysodon
aequifasciata axelrodi
Cá đĩa nâu Dĩa nâu Sông Amazone
20
Symphysodon
aequifasciata haraldi
Cá đĩa xanh lam Cá dĩa lam Sông Amazone
21 Symphysodon discus Cá đĩa đỏ Cá dĩa đỏ Sông Amazone
(8) Osphronemidae Họ cá tai tượng
22 Osphronemus goramy Tai tượng thường Phát tài Đông Nam Á
23 Betta splendens Cá chọi, cá đá Cá xiêm, cá đá Đông Nam Á
24
Trichogaster
trichopterus
Cá sặc vàng Cá hoàng vân Đông Nam Á
25 Trichogaster leerii Cá sặc trân châu Cá mã giáp Đông Nam Á
26 Colisa lalia Sặc gấm Cá sặc gấm Đông Nam Á
32
Osteoglossum
bicirrhosum
Ngân Long Ngân Long Nam Mỹ
33 Scleropages aureus
Kim Long Hồng
Vỹ
Kim Long Indonesia
34
Scleropages
macrocephalus
Thanh long
Borneo
Thanh Long Indonesia
V CHARACIFORMES
BỘ CÁ CHIM
TRẮNG
18