sử dụng chế phẩm sinh học bio bacter for shrimp trong ương ấu trùng tôm càng xanh theo quy trình nước trong kín - Pdf 11

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ NGÀNH: 304 SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC BIO BACTER FOR
SHRIMP TRONG ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH
THEO QUI TRÌNH NƯỚC TRONG KÍN

Sinh viên thực hiện:
HOÀNG GIANG

MSSV: 06803010
LỚP: NTTS K1

SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC BIO BACTER FOR SHRIMP
TRONG ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH THEO QUI TRÌNH NƯỚC TRONG
KÍN

Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.s TẠ VĂN PHƯƠNG HOÀNG GIANG
MSSV: 06803010
LỚP: NTTS K1
Cần Thơ, 7/2010
3LỜI CẢM TẠ
Trong suốt thời gian 3 tháng thực tập từ tháng 3 đến tháng 6, áp dụng những kiến thức
đã học kết hợp với kinh nghiệm thực tế, nay luận văn đã được chỉnh sửa và hoàn thành.
Em xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy Tạ Văn Phương - Khoa Sinh Học Ứng
Dụng - Trường Đại Học Tây Đô đã tận tình động viên, chỉ dạy cho em suốt thời gian
làm đề tài.

nuôi quan trọng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tuy nhiên, nâng cao tính ổn định của
các qui trình sản xuất giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là một yêu
cầu của các trại và qua đó góp phần làm tăng sản lượng tôm bột. Nghiên cứu sử dụng
vi sinh nhằm ổn định môi trường bể ương là một giải pháp ngày càng được quan tâm
nhiều.
Thí nghiệm được tiến hành với mục tiêu chính là tìm ra liều lượng và nhịp sử dụng tốt
nhất của men vi sinh Bio Bacter For Shrimp trong quá trình ương ấu trùng tôm càng
xanh theo qui trình nước trong kín. Nghiên cứu được tiến hành với 2 thí nghiệm mỗi
thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức và được lặp lại ngẫu nhiên 4 lần với các liều lượng và
nhịp sử dụng khác nhau.
Kết quả thí nghiệm cho thấy men vi sinh sử dụng với liều lượng 0,5g/ m
3
với nhịp sử
dụng là 1 ngày/lần cho kết quả tốt nhất. Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, TAN,
NH
3
, NO
2
-
ở các nghiệm thức có sử dụng men vi sinh ổn định và ít biến động hơn các
nghiệm thức không sử dụng men vi sinh. Tương tự, mật độ vi khuẩn tổng cộng cao
(8,50x10
2
-19,0x10
4
CFU/mL) nhưng vi khuẩn Vibrio lại thấp (0,00x10
2
-15x10
2


Ngày 22 tháng 07 năm 2010
Sinh viên thực hiện
HOÀNG GIANG
6

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii


4.1.1: Yếu tố nhiệt độ 23
4.1.2: Yếu tố pH 24
4.1.3: Yếu tố đạm 26
4.1.4: Vi khuẩn 28
4.1.5: Tỷ lệ sống 30
4.2: Xác định nhịp sử dụng tốt nhất của chế phẩm vi sinh Bio Bacter For Shrimp đến
sự phát triển của ấu trùng tôm càng xanh 31
4.2.1: Yếu tố Nhiệt độ 31
4.2.2: Yếu tố pH 32
4.2.3: Các yếu tố đạm 34
4.2.4: Vi khuẩn 35
4.2.5: Tỷ lệ sống 36
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 38
5.1: Kết luận 38
5.2: Đề xuất 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC A
Phụ lục A1: Biến động nhiệt độ sáng trong thí nghiệm 1 A
Phụ lục A2: Biến động nhiệt độ sáng trong thí nghiệm 1 B
Phụ lục A3: Biến động pH sáng trong thí nghiệm 1 C
Phụ lục A4: Biến động pH chiều trong thí nghiệm 1 D
Phụ lục A5: Biến động NH
4
trong thí nghiệm 1 E
Phụ lục A6: Biến động NO
2
trong thí nghiệm 1 E
Phụ lục A7: Biến động vi khuẩn tổng cộng trong thí nghiệm 1 E
Phụ lục A8: Biến động vi khuẩn Vibrio trong thí nghiệm 1 F


9

DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm càng xanh 4
Bảng 2.2: Chu kỳ lột xác của tôm ở các giai đoạn khác nhau 6
Bảng 3.1: Cách bố trí thí nghiệm 1 18
Bảng 3.2: Cách bố trí thí nghiệm 2 19
Bảng 3.3: Công thức ăn chế biến thức ăn 20
Bảng 3.4: Chăm sóc và cho ấu trùng ăn 21


3
trong suốt quá trình ương thí nghiệm 1 27
Hình 4.7: Hàm lượng NO
2
-
trong suốt thời gian ương thí nghiệm 1 27
Hình 4.8: Tổng vi khuẩn trong suốt thời gian ương thí nghiệm 1 28
Hình 4.9: Vi khuẩn Vibrio trong suốt thời gian ương thí nghiệm 1 29
Hình 4.10: Tỷ lệ sống và mật độ Post trung bình thí nghiệm 1 30
Hình 4.11: Nhiệt độ sáng trong suốt thời gian ương thí nghiệm 2 32
Hình 4.12: Nhiệt độ chiều trong suốt thời gian ương thí nghiệm 2 32
Hình 4.13: pH trong suốt thời gian ương thí nghiệm 2 33
Hình 4.14: pH trong suốt thời gian ương thí nghiệm 2 33

Hình 4.15: Hàm lượng TAN trong suốt thời gian ương thí nghiệm 2 34
Hình 4.16: Hàm lượng NH
3
trong suốt thời gian ương 34
Hình 4.17: Hàm lượng NO
2
-
trong suốt thời gian ương thí nghiệm 2 35
Hình 4.18: Mật độ vi khuẩn tổng cộng trong thời gian ương thí nghiệm 2 36
Hình 4.19: Mật độ vi khuẩn Vibrio trong thời gian ương thí nghiệm 2 36
Hình 4.20: Tỷ lệ sống và mật độ Post/L trong suốt thời gian ương thí nghiệm 2 37
trọng và có ý nghĩa đến hiệu quả sản xuất. Hiện nay, nhiều loại chế phẩm vi sinh đã và
đang được ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản, nhằm cải tạo môi trường nuôi tốt hơn
cũng như tạo ra nguồn giống có chất lượng cao hơn.
Sử dụng chế phẩm sinh học vào quá trình ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh đang
được quan tâm nhằm nâng cao việc quản lý môi trường bể nuôi và có thể không cần
thay nước trong quá trình ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh. Đề tài “Sử dụng chế
phẩm sinh học Bio Bacter For Shrimp trong ương ấu trùng tôm càng xanh trong
mô hình nước trong kín” được đặt ra để đánh giá sự ảnh hưởng của chế phẩm sinh
12

học trong sản xuất giống tôm càng xanh góp phần cung cấp nguồn giống có chất lượng
tốt phục vụ cho nhu cầu của nông dân.
Mục tiêu nghiên cứu
Sử dụng chế phẩm Bio Bacter For Shrimp vào quá trình ương ấu trùng tôm càng xanh
nhằm cải thiện môi trường cũng như chất lượng con giống, nâng cao tỉ lệ sống, từ đó
góp phần làm cho nghề nuôi tôm càng xanh ở Việt Nam nói chung và Đồng Bằng Sông
Cửu Long nói riêng ngày càng phát triển.
Nội dung nghiên cứu
Xác định liều lượng tốt nhất của chế phẩm vi sinh Bio Bacter For Shrimp đến sự phát triển
của ấu trùng tôm càng xanh.
Xác định nhịp sử dụng tốt nhất của chế phẩm vi sinh Bio Bacter For Shrimp đến sự phát
triển của ấu trùng tôm càng xanh.
phân bố rộng ở các vùng nhiệt dới, tập trung ở khu vực Ấn độ Dương và Tây Nam Thái
Bình Dương, chủ yếu ở khu vực từ Châu Úc đến New Guinea, Trung Quốc và Ấn Độ
(Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003). Ở Việt Nam tôm càng xanh phân bố tự nhiên từ
Nha Trang trở vào đến Đồng Bằng Nam Bộ và tập trung chủ yếu ở Đồng Bằng Sông
Cửu Long. Ở các thủy vực có độ mặn 18‰ đôi khi cả 25‰ vẫn thấy tôm xuất hiện
(Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
2.1.2. Vòng đời của tôm càng xanh
Theo Ling (1969), ấu trùng trải qua 8 giai đoạn, nhưng theo Uno và Soo (1969), ấu
trùng trải qua 11 lần lột xác tương ứng với 11 giai đoạn biến thái khác nhau trước khi
14

biến thái qua hậu ấu trùng (postlarvae). Mỗi giai đoạn có hình thái và kích thước khác
nhau. Giai đoạn 1 dài khoảng 2mm, giai đoạn 11 dài khoảng 7mm. Giai đoạn hậu ấu
trùng có hình dạng giống như tôm trưởng thành nhỏ, di chuyển chủ yếu bằng cách bò
nhiều hơn là bơi lội tự do. Khi chúng bơi thường theo kiểu mặt lưng ở phía trên và tiến
về phía trước. Chúng có thể lẩn tránh nhanh nhẹn bằng cách co các cơ bụng lại. Các
hậu ấu trùng có khả năng chịu được sự dao động lớn của nồng độ muối.
Bảng 2.1. Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm càng xanh (Uno và Soo, 1969).
Giai đoạn Ngày tuổi
(ngày)
Chiều dài ấu
trùng (mm)
Đặc điểm
I
II
III
IV

V
VI

7,05
7,73
7,69
Mắt chưa có cuống.
Mắt có cuống.
Xuất hiện chân đuôi( Uropod).
Có 2 răng trên chủy, chân đuôi có hai nhánh, có
lông tơ.
Telson hẹp và kéo dài ra.
Mầm chân bụng xuất hiện.
Chân bụng có hai nhánh, chưa có lông tơ.
Chân bụng có lông tơ.
Nhánh trong của chân bụng có nhánh phụ trong.

Có 3-4 răng trên chủy.
Răng xuất hiện hết nửa răng trên chủy.
Răng xuất hiện cả trên và dưới chủy, có tập tính
như tôm lớn.
2.1.3. Đặc điểm sinh sản
Dựa vào hình thái bên ngoài có thể phân biệt được tôm càng xanh đực và cái dễ dàng.
Ở tôm trưởng thành, tôm đực thường có kích thước lớn hơn tôm cái cùng tuổi. Đầu
ngực tôm đực to hơn và khoan bụng hẹp hơn so với con cái. Bên cạnh đó, đôi càng thứ
hai dài , to và thô hơn. Tôm đực trưởng thành thường có đôi càng to màu xanh dương
đậm. Các góc chân ngực của tôm đực cũng xếp khít nhau hơn so với tôm cái, cạnh đốt
gốc chân ngực thứ 5 có 2 lỗ sinh dục đực. Ngoài ra, tôm dực còn có nhánh phụ đực
15

nằm kế nhánh trong của chân bụng 2 và điểm cứng ở giữa mặt bụng của đột bụng thứ
nhất.
Tôm cái thường có kích thước nhỏ hơn tôm đực, có phần đầu ngực và đôi càng nhỏ, 3

và csv.
(
2003)
thì trong quá trình lớn lên, sự tăng
trưởng về chiều dài và trọng lượng của tôm càng xanh không liên tục mà theo hình
bậc thang. Sự tăng trưởng của tôm tùy thuộc vào nhiều giai đoạn, giới tính điều
kiện ương nuôi như môi trường, mật độ nuôi và dinh dưỡng. Tôm nhỏ có tốc độ
tăng trưởng nhanh hơn tôm lớn, tôm đực lớn nhanh hơn con cái. Tôm lớn lên phải
trải qua nhiều lần lột xác, chu kỳ lột xác của tôm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
kích cỡ của tôm, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiên sinh lý của tôm.
16

Chu kỳ lột xác của tôm tùy thuộc vào giai đoạn sinh trưởng, tình trạng sinh lý, điều
kiện dinh dưỡng, điều kiện môi trường,…. Tôm càng xanh tuân theo qui luật chung của
tôm là tôm nhỏ chu kỳ lột xác ngắn hơn tôm lớn. Chu kỳ lột xác của tôm trình bày
trong bảng sau:
Bảng 2.2. Chu kỳ lột xác của tôm ở các giai đoạn khác nhau (Sandifer và Smith, 1985).
Trọng lượng (g/con). Chu kỳ lột xác (ngày).
2-5
6-10
11-15
16-20
21-25
26-35
36-60
9
13
17
18
20

lúa,… Mô hình nuôi luân canh trên ruộng lúa đang được chú ý phát triển ở vùng này vì
diện tích đất ngập nước ở Đồng Bằng Sông Cửu Long lầ rất lớn. Theo thống kê năm
2002 của bộ thủy sản thì cả nước đạt khoảng 10.000 tấn tôm càng xanh, mà chủ yếu là
Đồng Bằng Sông Cửu Long. Nghề nuôi tôm hiện phổ biến ở các tỉnh An Giang, Cần
Thơ, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh với các mô hình như nuôi tôm trong
mương vườn, nuôi tôm trên ruộng lúa, nuôi tôm trong đăng quầng. Năng suất tôm đạt
bình quân 184 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm kết hợp với trồng lúa, 686 kg/ha/vụ đối với
nuôi tôm luân canh với trồng lúa, 4120 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm đăng quầng và 1.200
kg/ha/vụ đối với nuôi tôm ao (Nguyễn Thanh Phương, 2004).
Sản xuất giống tôm càng xanh theo hệ thống nước trong hở
Qui trình nước trong hở được khởi xướng đầu tiên bởi Ling năm 1969 và đã được hoàn
thiện bởi Aquacop từ năm 1977. Qui trình này được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước.
Đây cũng là qui trình được ứng dụng chủ yếu ở nước ta trước đây. Nguyên tắc của qui
trình là đảm bảo môi trường nước trong, sạch bằng cách thay nước hằng ngày. Đặc
điểm quan trọng của qui trình là mật độ ương cao, thay nước và hút cặn hàng ngày. Qui
trình này thường đạt năng suất cao, tuy nhiên, tốn nhiều nước biển để thay, do đó cần
phải đặt trại gần biển. Hơn nữa qui trình cũng tốn nhiều công lao động và chi phí khác.
Sản xuất giống tôm càng xanh theo hệ thống nước trong kín
Qui trình này do một số tác giả như Sandifer và csv (1977), Menasveta và csv (1980),
nghiên cứu và căn bản được hoàn chỉnh để đưa vào sản xuất đại trà năm 1984. Hiện hệ
thống này được ứng dụngở nhiều nơi. Nguyên tắc hoạt động của qui trình là ổn định
môi trường nước ương nhờ hệ thống lọc sinh học. Đặc điểm cơ bản của hệ thống này là
dùng bể lọc sinh học để lọc nước thải ra từ bể ương và tái sử dụng. Đây là qui trình có
kỹ thuật cao, đầu tư cao, thiết bị đồng bộ, phức tạp khi lắp đặt nhưng đơn giản khi vận
hành và tiết kiệm được nước và công lao động. Tuy nhiên khi xay ra sự cố khó sử lý. 18

Sản xuất giống tôm càng xanh theo hệ thống nước xanh

nhu cầu thân thiện với môi trường (Gatesoupe, 1999). Hầu hết các probiotics sử dụng
trong nuôi trồng thủy sản là LBC, thuộc loài Bacillus để các vi khuẩn quang hợp, mặc
19

dù các giống hoặc loài khác nhau cũng đã được đề cập (Wang, 2007). Những lợi ích
của các chất bổ xung gồm việc cải thiện dinh dưỡng thức ăn, bổ xung enzym tiêu hóa,
ức chế vi sinh vật gây bệnh, hoạt chất gây đột biến, các yếu tố kích thích tăng trưởng,
và tăng cường đáp ứng miễn dịch (Wang, 2007).
2.3.2 Vai trò và tác dụng của chế phẩm vi sinh
Sản sinh ra các hợp chất ức chế
Có rất nhiều nghiên cứu chứng minh có nhiều dòng vi khuẩn (in vitro). Kìm hãm mầm
bệnh trong nuôi trồng thủy sản. Những nghiên cứu này cũng chứng minh rằng khả
năng kìm hãm vi khuẩn của những dòng vi khuẩn thông thường cũng dễ tìm thấy trong
môi trường (Fuller, 1989). Những quần thể sinh vật này có thể tiết vào môi trường chất
có tính sát khuẩn hoặc kìm khuẩn gây ảnh hưởng đến quần thể sinh vật khác. Mục đích
gián tiếp là cạnh tranh dinh dưỡng và năng lượng có sẵn trong môi trường. Sự có mặt
những vi khuẩn này sản sinh chất kìm hãm, có thể tiết ra trong ruột, trên bề mặt cơ thể
vật chủ hay ra môi trường nước làm rào cản sự nhân lên của vi khuẩn cơ hội gây ức chế
các vi sinh vật gây bệnh. Các chất diệt khuẩn này có thể có tác dụng đơn lẽ hoặc kết
hợp nhau. Trong sản xuất những dòng vi khuẩn có khả năng tiết ra chất kìm hãm mầm
bệnh được ứng dụng trong các nghiên cứu về vi sinh vật hữu ích. Sản phẩm có thể là:
chất kháng sinh, siderophores, men phân hủy, axit hữu cơ, v.v (Sugita và csv.,1997).
Thường khó có thể xác định được thành phần chất tiết ra nên được gọi chung là chất ức
chế. Vi khuẩn lactic từ lâu được biết là tiết ra chất kháng sinh vi khuẩn ( bacteriocin)
chống lại các vi khuẩn gam dương( không chuyên biệt). Đa số các vi khuẩn gây bệnh
trong thủy sản là gam âm;do vậy tác động của vi khuẩn lactic trong nuôi tròng thủy sản
bị hạn chế. Hiện nay chưa biết khả năng ức chế gam âm của vi khuẩn lactic. Vi khuẩn
lactic được biết là vi khuẩn không có hại, cạnh tranh chỗ cư trú. Nhiều vi khuẩn khác
cũng tiết ra chất ức chế chống lại vi khuẩn gây bệnh như Aeromonas hydrophila và
Vibrio parahaemolyticus (Nair và csv, 1985).

bệnh trên cá như Vibrio anguillarum và Aeromonas hydrophila (Garcia và csv., 1997)
và dòng vi khuẩn hữu ích sử dụng trong thí nghiệm là Carnobacterium K1 (Jöborn và
csv., 1997) và vài dòng vi khuẩn phân lập có khả năng kìm hãm vi khuẩn Vibrio
anguillarum (Olsson và csv., 1992).
Tăng cường các phản ứng miễn dịch
Định nghĩa chất kích thích miễn dịch: là “ Những hợp chất kích thích hệ thống miễn
dịch của động vật và làm cho chúng đề kháng hơn đối với sự cảm nhiễm của virut, vi
khuẩn, nấm hoặc ký sinh trùng” (Raa, 1996).
Phản ứng miễn dịch khác nhau theo loài và theo độ tuổi. Ấu trùng thủy sản có hệ thống
miễn dịch rất kém phát triển. Một số tác giả công bố, những hợp chất tế bào chuyên
biệt hay các vi khuẩn làm chết có thể là chất kích thích miễn dịch trên tôm cá khi cho
ăn. Có một vài nghiên cứu trên động vật máu nóng cho thấy nếu bổ sung vi khuẩn
probiotic (vi khuẩn lactic acid) qua đường thức ăn có thể tăng khả năng đề kháng với
sự nhiễm bệnh về đường ruột (Holzapfel và csv., 1998). Có nhiều báo cáo cho rằng
21

thành phần vi khuẩn đóng vai trò như chất miễn dịch trên cá và tôm, số liệu hiện nay
đã được tổng kết (Sakai, 1999), nhưng chỉ có thành phần tế bào chuyên biệt đã được
áp dụng trong thí nghiệm này. Tuy nhiên ở thời điểm này chưa phân biệt rõ ràng hoặc
vi khuẩn được thêm vào như vi khuẩn hữu ích có ảnh hưởng tốt đến hệ miễn dịch của
những loài thủy sinh.
Tác động qua lại với thực vật phù du
Có khả năng điều khiển sự phát triển ổn định của tảo, vì sản phẩm hoạt động phân hủy
của các vi khuẩn có lợi là CO2 và các loại muối dinh dưỡng, chúng sẽ giúp ổn định hệ
thực vật phù du, đồng thời gián tiếp kìm hãm sự phát triển của tảo đáy. Gần đây các
nghiên cứu tạo ra một số dòng vi khuẩn có khả năng tiêu diệt một số loài tảo gây ảnh
hưởng lớn đến nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là tảo gây ra hồng triều (Fukami và csv.,
1997). Tuy nhiên những dòng vi khuẩn này có thể không tốt đối với ương ấu trùng
bằng nước xanh, nhưng chúng sẽ có lợi khi tảo phát triển quá mức trong ao nuôi. Nhiều
dòng vi khuẩn khác còn có khả năng kích thích sự phát triển của tảo dùng để cung cấp

đặc biệt là sự hấp thụ và giải phóng dinh dưỡng của nền đáy.
Trong vài nghiên cứu về chất lượng nước đã được báo cáo, trong suốt thời gian bổ
sung probiotics, đặc biệt Bacillus sp…nhận thấy rằng Bacillus sp. Vi khuẩn gram
dương thường chuyển vật chất hữu cơ sang CO
2
tốt hơn vi khuẩn gram âm, gram âm
chuyển carbon hữu cơ thành sinh khối vi khuẩn hoặc vôi (Stanier và csv., 1963). Đó là
lý do duy trì mật độ vi khuẩn gram dương hơn trong ao, người nuôi có thể hạn chế tối
đa sự tích tụ chất hòa tan và carbon hữu cơ trong suốt quá trình nuôi, trong khi quan sát
sự ổn định của thực vật thủy sinh bằng cách tăng hàm lượng CO
2
(Scura, 1995).
Vũ Ngọc Út (1999) cho rằng sự tác động của “probiotics” lên vật chủ theo hai hướng
có lợi và có hại. Những tác động có lợi: thứ nhất là ngăn chặn vi khuẩn có hại do tạo
các chất kháng khuẩn, cạnh tranh thức ăn và không gắn với các loại vi khuẩn có hại.
Thứ hai là tương tác với quá trình trao đổi chất của vật chủ hay hệ sinh vật trong cơ thể
vật chủ với quá trình enzym hỗ trợ cho tiêu hoá, giảm lượng ammonia hay những
enzym độc hại và cải thiện chức năng của thành ruột. Thứ ba là cải tiến phản ứng miễn
dịch của vật chủ theo do nồng độ kháng thể gia tăng và tăng số lượng đại thực bào.
Thứ tư là cải thiện môi trường, các vi khuẩn có lợi phân huỷ các chất hữu cơ có từ thức
ăn dư thừa, các chất bài tiết của tôm cá và có thể ngăn ngừa sự phát triển của vi khuẩn
gây bệnh trong ao nuôi, giúp giảm ô nhiễm đáy ao. Ngoài những ảnh hưởng có lợi,
những tác động có hại là cạnh tranh các chất dinh dưỡng (glucose và các acid amin)
với vật chủ.
2.3.3 Thành phần và cơ chế hoạt động của chế phẩm vi sinh
Theo Trần Công Bình và csv. (2002) trên thị trường thuốc và hoá chất cho thuỷ sản
hiện nay, các chế phẩm từ “vi sinh vật hữu ích” rất đa dạng với nhiều tên thương mại
khác nhau. Thành phần của các chế phẩm này cũng rất khác nhau, có thể chứa một loài
hay rất nhiều loài vi khuẩn, có thể có bổ sung thêm các men phân giải hữu cơ, các
vitamin hay các chất chiết xuất sinh học,… Về công dụng có thể phân loại một cách

+ 2 H
+
+ H
2
O.
NO
2
-
+ 0,5 O
2
 Nitrobacter  NO
3
-
.
Giảm tảo
Vi sinh vật thuộc nhóm Bacillus vừa sử dụng trực tiếp chất hữu cơ trong ao, vừa khử
Nitrate (NO
3
-
) thành Nitơ phân tử (N2) dạng khí thoát ra ngoài, làm giảm muối dinh
dưỡng trong ao, từ đó làm hạn chế sự gia tăng mật độ tảo, duy trì độ trong trong ao
nuôi tôm các tháng cuối không nhở hơn 30cm.
Giảm bệnh
Vi sinh vật thuộc nhóm Bacillus sẽ phát triển số lượng rất lớn, cạnh tranh sử dụng hết
thức ăn của nguyên sinh động vật, các vi sinh vật và nhóm vi khuẩn Vibrio có hại,
ngăn cản sự phát triển của chúng. Từ đó làm giảm các tác nhân gây bệnh cho tôm nuôi.
Nhờ đó, hạn chế được việc sử dụng các hoá chất, thuốc kháng sinh, giảm thay nước
trong quá trình nuôi, góp phần cải thiện chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản.
2.3.4. Các lưu ý khi sử dụng và lựa chọn chế phẩm vi sinh
Một chế phẩm vi sinh tốt phải bao gồm: Một nhóm vi khuẩn (vi khuẩn dị dưỡng

lợi. Chế phẩm vi sinh là sản phẩm chỉ nên dùng trong hệ thống ao nuôi thâm canh, siêu
thâm canh và bán thâm canh là nơi có nhiều nguy cơ ô nhiễm hữu cơ.
2.3.5. Các nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản
Trên thế giới vào những năm cuối của thập kỷ 80, những công bố đầu tiên về kiểm soát
sinh học trong nuôi trồng thủy sản đã được công nhận và từ đó nhiều nghiên cứu về
vấn đề này không ngừng phát triển. Nhìn chung, men vi sinh đã được áp dụng trong bể
nuôi, trong ao để hạn chế sự nhiễm bệnh đối với các vi khuẩn gây bệnh, mặc dù ảnh
hưởng về dinh dưỡng cũng đóng vai trò trong men vi sinh, đặc biệt là việc sử dụng
dinh dưỡng mang lại tác dụng làm sạch môi trường. Hầu hết men vi sinh sử dụng làm
tác nhân kiểm soát sinh học trong nuôi trồng thủy sản là vi khuẩn lactic axít
(Lactobacillus, Carnobacterium ), giống Vibrio (Vibrio alginolyticus ), giống
Bacillus hoặc giống Pseudomonas (Verschuere et al,.2000).
Garriques và Arevalo (1995) đưa dòng Vibrio alginolyticus vào bể ương ấu trùng tôm
(Litopenaeus vannamei) mỗi ngày. Tỷ lệ sống trung bình và trọng lượng thân cao nhất
trong bể có thêm vi khuẩn hữu ích so với bể xử lý bằng kháng sinh oxytetracyline và
đối chứng. Số bể có bổ sung vi khuẩn Vibrio alginolyticus, không thấy xuất hiện vi
25

khuẩn gây bệnh V. parahaemolyticus, trong khi các nghiệm thức còn lại có khoảng 10
% mẫu có mặt vi khuẩn này.
Griffith (1995) cho rằng nhờ đưa men vi sinh vào trong bể ương tôm giống ở Ecuador
trong năm 1992, mà các trại nuôi tôm giống giảm thời gian nghỉ để làm vệ sinh các bể
nuôi, sản lượng tôm giống tăng 35% và giảm sử dụng các chất diệt khuẩn đến 94%.
Rengpipat và Rukpratanporn (1998) cho rằng Bacillus S11 là vi khuẩn hữu ích có thể
bổ sung vào dung dịch giàu hóa Artemia trước khi cho ấu trùng tôm sú ăn. Kết quả tôm
ít bệnh hơn và phát triển nhanh hơn, đạt tỉ lệ sống 100% khi gây cảm nhiễm với Vibrio
harveyi, trong khi kết quả đối chứng chỉ 26%.
Nghiên cứu cho thấy 86% người nuôi tôm ở Thái Lan sử dụng men vi sinh hoặc dẫn
xuất men vi sinh để cải thiện chất lượng nước và bùn đáy ao nuôi (Graslund et al.,
2003 trích bởi Boyd, 2005).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status