nghiên cứu đặc điểm sinh học cá nanh heo (botia modesta bleeker, 1865) - Pdf 11


1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CÁ NANH HEO (Botia modesta Bleeker, 1865)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CÁ NANH HEO (Botia modesta Bleeker, 1865)

Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện

Ts. PHẠM MINH THÀNH HUỲNH THÀNH PHÁT
MSSV: 0753040065
Lớp: NTTS K2
4

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Luận văn: Nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Nanh Heo (Botia modesta Bleeker, 1865)
Sinh viên thực hiện: Huỳnh Thành Phát
Lớp: Nuôi trồng thủy sản K2
Luận văn đã được hoàn thành theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và hội đồng bảo vệ
đề luận văn tốt nghiệp Đại học - Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học Tây Đô.
Cần Thơ, ngày 30 tháng 06 năm 2011
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
(Chữ ký) (Chữ ký) Ts. PHẠM MINH THÀNH HUỲNH THÀNH PHÁT CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Chữ ký)

Fulton = 3,85% và Clark = 3,52%, ball mỡ cao nhất tháng 5 (bậc 5) 45,83%, cá tích
lũy vật chất dinh dưỡng chuẩn bị cho quá trình sinh sản; Hệ số thành thục tương đối
thấp và cao nhất ở tháng 5 GSR = 0,21%, sức sinh sản tương đối từ 14 – 35 trứng/g
cá.
Từ khóa: Botia modesta, cá Nanh Heo, đặc điểm sinh học

6

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH TỪ VIẾT TẮT xiii
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1Giới thiệu chung 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Một số nghiên cứu về cá Nanh Heo 3
2.1.1 Hệ thống phân loại 3
2.1.2 Hình thái 4
2.1.3 Phân bố 4
2.1.4 Giá trị kinh tế 5
2.2 Những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu cá 5
2.2.1 Về nghiên cứu sinh trưởng cá 5
2.2.2 Về nghiên cứu sinh sản cá 7

4.3 Đặc điểm sinh sản 26
4.3.1 Xác định giới tính 26
4.3.2 Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục cá Nanh Heo đã bắt gặp 27
4.3.3 Tỷ lệ đực cái trong quần đàn 29
4.3.4 Sự biến đổi hệ số thành thục (GSR) của cá Nanh Heo theo thời
gian 30
4.3.5 Sức sinh sản 31
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 32
5.1 Kết luận 32
5.2 Đề xuất 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
PHỤC LỤC A A1

8



9

DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Hình dạng ngoài cá Nanh Heo 3
Hình 2.2: Sự phân bố cá Nanh Heo (A.F.Poulsen et al, 2004) 5
Hình 3.1: Bản đồ thu mẫu 14
Hình 4.1: Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá Nanh Heo 18
Hình 4.2: Độ béo Fulton của cá Nanh Heo qua các tháng 19
Hình 4.3: Độ béo Clark của cá Nanh Heo qua các tháng 20
Hình 4.4: Hình thái răng miệng cá Nanh Heo 21
Hình 4.5: Hình thái lược mang cá Nanh Heo 22
Hình 4.6: Hình thái ngoài dạ dày cá Nanh Heo 22
Hình 4.7: Hình thái ngoài ruột cá Nanh Heo 22
Hình 4.8: Tần số xuất hiện các loại thức ăn cá Nanh Heo 24
Hình 4.9: Thành phần số lượng các loại thức ăn cá Nanh Heo 25
Hình 4.10: Phổ thức ăn cá Nanh Heo 25

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
RLG: Relative length of the gut
GSR: Gonadosomatic ratio 11

CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu chung
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những vùng kinh tế trọng điểm
quan trọng của Việt Nam, vùng trù phú nhất của Đông Nam Á. Nơi đây có hệ thống
sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, nhiều ao đầm, ruộng trũng kết hợp với điều kiện tự
nhiên thuận lợi cho các loài thủy sản làm nơi sinh sống và phát triển, rất thích hợp với
nghề nuôi trồng thủy sản.
Hiện nay nghề nuôi trồng thủy sản đang phát triển với tốc độ cao, đem lại lợi nhuận
đáng kể trong thu nhập, cải thiện hiệu quả đời sống người dân. Việc phát triển bền
vững nghề cá đang trở thành mối quan tâm đặc biệt trong các chính sách phát triển
kinh tế của các nước trong khu vực cũng như của Việt Nam. Là một nước có tiềm
năng phát triển thủy sản mạnh, Việt Nam đang nổ lực tìm kiếm và sẵn sàng áp dụng
mọi biện pháp nhằm đạt được mục tiêu chính như ổn định và tăng trưởng kinh tế thủy
sản gắn liền với bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là các
loài di cư. Đồng thời phải thu thập thông tin cần thiết phục vụ cho việc đánh giá
nguồn lợi và khả năng khai thác cho phép, để phát triển bền vững nghề cá (VASEP,
2010).
Bảo tồn nghề cá là một trong những yếu tố then chốt của sự phát triển bền vững. Một
số loài cá đã giảm sản lượng nghiêm trọng do việc khai thác quá mức, và sử dụng ngư
cụ không phù hợp của ngư dân. Cá Nanh Heo do có những đặc tính ưu việt như: Phẩm
chất thịt thơm ngon, không có xương dăm, giá trị kinh tế cao, đặc biệt cá Nanh Heo có


13

CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Một số nghiên cứu về cá Nanh Heo
Cá Nanh Heo sống, sinh trưởng và phát triển ở sông Tiền, sông Hậu và các chi lưu của
chúng thuộc hệ sống sông Mê Công. Đây là loài có kích thước nhỏ. Thời gian qua loài
này ít được quan tâm nghiên cứu, các tài liệu nói về loài cá này còn rất nghèo nàn cả
trên thế giới và trong nước.
Trên thế giới có A.F. Poulsen et al (2004), Eric Baran et al (2007) đã đề cập đến loài
cá này cũng rất sơ lược về phân bố, về tập tính dinh dưỡng, về tập tính di cư của loài

môi liên tục. Môi dưới dày hơn môi trên, chia làm nhiều thùy và trên có nhiều gai thịt
mịn. Mắt nhỏ không bị che phủ bởi da, nằm lệch về phía trên của đầu và gần chót
mõm hơn gần điểm cuối nắp mang. Phía dưới và lệch về phía trước mắt có một gai
nhọn, cứng, gốc gai có một nhánh nhọn, gai này có thể giương ra phía trước để tự vệ
khi gặp nguy hiểm hoặc xếp vào một rãnh nằm ở phía dưới mắt. Phần trán giữa hai
mắt cong lồi. Lỗ mang hẹp, màng mang dính với eo mang.
Thân ngắn, dẹp bên. Vẩy rất nhỏ, rất khó thấy bằng mắt thường, đường bên hoàn toàn
nằm trên trục giữa thân, kéo dài từ mép trên lỗ mang và ngang qua điểm giữa gốc vi
đuôi. Các tia vi đơn mềm dẻo, vi đuôi chẻ hai rãnh, chẻ sâu hơn nữa chiều dài vi đuôi.
Ở cá thể nhỏ có từ 5 – 9 vạch đen vắt ngang thân, vạch nằm ở gốc vi đuôi rộng hơn
các vạch khác. Ở cá thể lớn các vệt này biến mất, chỉ còn một sọc ở gốc vi đuôi. Thân
cá thể lớn có màu xám xanh, mặt lưng và mặt bên đậm hơn mặt bụng. Vùng quanh
mắt, má có màu vàng cam. Các vi có màu đỏ cam đến màu đỏ huyết, vi lưng, vi hậu
môn có màu đậm hơn vi ngực và vi bụng.
2.1.3 Phân bố
Cá Nanh Heo sống ở thủy vực nước ngọt, phân bố chủ yếu ở sông Mê Công: Tìm thấy
ở khắp khu vực ở ĐBSCL Việt Nam cho đến Lào, Cam–Pu–Chia, Thái Lan và ở phía
Bắc My–An–Ma, ngay cả hồ chứa nước vẫn thấy tồn tại (A.F. Poulsen et al, 2004).
15Hình 2.2: Sự phân bố cá Nanh Heo (A.F. Poulsen et al, 2004)
2.1.4 Giá trị kinh tế
Cá Nanh Heo có kích thước nhỏ, sản lượng thấp, tuy nhiên màu sắc đẹp có thể thuần
hóa làm cá cảnh (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
2.2 Những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu cá
Có nhiều tài liệu trình bày phương pháp nghiên cứu sinh học cá từ đặc điểm hình thái

dụng đối với những đàn cá (quần thể cá) có sự kiểm soát chặt chẽ của con người
(thường là cá trong ao nuôi) Nikolsky (1963).
Nghiên cứu gián tiếp
Sự tăng trưởng của cá không đều, biến đổi theo mùa, nhiệt độ, điều kiện sinh lý hình
thành vòng tăng trưởng. Xác định sinh trưởng dựa vào sự khác nhau giữa các vòng
tăng trưởng của cá. Phương pháp này thường được áp dụng đối với đàn cá (quần thể
cá) trong tự nhiên, ở những vùng có điều kiện môi trường thay đổi theo quy luật mùa
(thường là nhiệt độ) dẫn đến sự sinh trưởng không đều của cá theo thời gian. Phương
pháp này ít được áp dụng ở vùng nhiệt đới vĩ độ thấp mà thường áp dụng ở vùng vĩ độ
cao Nikolsky (1963).
Những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu sinh trưởng của cá được đề cập tới nhiều là
độ béo và độ mỡ của cá: Khi nghiên cứu độ béo của cá, thông thường người ta sử
dụng công thức của Fulton (%) = Wt*100/(SL)
3
và Clack (%) = W
0
*100/(SL)
3
; Đó là
tỷ số giữa chiều dài lũy thừa 3 với khối lượng cá (không bỏ nội quan là độ béo Fulton,
có bỏ nội quan là độ béo Clack).
Độ mỡ của cá được xác định theo thang 6 bậc (thường được gọi là ball mỡ) từ bậc 0
đến bậc 5. Thang 6 bậc này được đề xướng bởi M.L.Prozorovxkaia được trích dẫn bởi
Nikolsky (1963).
Bậc 0: Ruột cá không có mỡ, đôi khi ruột non có một lớp màng trắng bao phủ. Giữa
những mấu của ruột non thấy rõ các sợi của màng này.
Bậc 1: Có một dãy mỡ mỏng giữa phần thứ hai và thứ ba của ruột non. Đôi khi ở mép
trên của phần thứ hai có một dãy mỡ rất hẹp đứt quãng.

17

Tuổi thành thục của cá
Tuổi thành thục của cá khác nhau theo loài và phụ thuộc vào điều kiện sống, trong đó
nổi bật nhất là nhiệt độ và thức ăn.
Cá là động vật biến nhiệt nên đặc tính sinh sản theo mùa thể hiện rất rõ. Cá sinh sống
ở vùng nhiệt đới thì có thời gian sinh sản kéo dài hầu như quanh năm. Tuy nhiên vẫn
có những thời kỳ cá sinh sản nhiều (mùa vụ sinh sản chính). Có những loài cá có khả

18

năng sinh sản nhiều lần trong năm hoặc trong đời (gọi là cá có tuyến sinh dục đa chu
kỳ), cũng có những loài trong chu kỳ sống chỉ sinh sản một lần (gọi là đơn chu kỳ)
như cá Hồi.
Sức sinh sản của cá thay đổi theo kích thước trứng (những cá có trứng nhỏ thì sức sinh
sản cao), khả năng bảo vệ con cái (những loài có đặc tính bảo vệ con thì sức sinh sản
thấp).
Nghiên cứu đặc tính sinh sản của cá ở ĐBSCL đã khẳng định mùa vụ sinh sản của đa
số các loài cá ở ĐBSCL tập trung vào đầu mùa mưa (Lê Như Xuân và csv, 1994).
Chu kì sinh sản của cá thường được xác định bằng cách khảo sát về hình thái và tổ
chức của tuyến sinh dục. Phương pháp thông thường để đánh giá giai đoạn thành thục
của cá là dựa theo bậc thang thành thục (bậc thang chín muồi sinh dục). Có rất nhiều
tác giả đưa ra bậc thang thành thục theo đối tượng nghiên cứu của mình. Tuy khác
nhau giữa các tác giả nhưng cũng có nhiều điểm chung. Đó là giai đoạn I và II đặc
trưng cho thời kỳ non trẻ, giai đoạn III và IV đặc trưng cho thời kỳ trưởng thành. Đặc
biệt giai đoạn IV còn đặc trưng cho giai đoạn thành thục, giai đoạn V đặc trưng cho
thời kỳ đang đẻ, giai đoạn VI xuất hiện sau khi sinh sản.
Các giai đoạn phát triển của buồng trứng
Xác định các giai đoạn phát triển của buồng trứng theo thang bậc thành thục sinh dục
theo Kixelevits được trích dẫn bởi Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009),
với 6 giai đoạn
Giai đoạn I

đầu tích lũy noãn hoàng. Buồng trứng có thể dừng lại ở giai đoạn này 1 – 2 tháng tùy
điều kiện nhiệt độ. Giai đoạn III chủ yếu chứa tế bào trứng ở phase 3.
Giai đoạn IV
Mạch máu kém phát triển hơn giai đoạn III, buồng trứng đạt kích thước lớn nhất ở
nhiều loài cá chiếm 2/3 xoang bụng, hệ số thành thục cao. Buồng trứng của nhiều loài
cá có màu vàng làm nền (vàng nhạt hoặc vàng xanh đậm), màng buồng trứng có tính
đàn hồi, trong buồng trứng chứa đầy trứng, rất dễ tách rời từng trứng. Giai đoạn này
tùy theo cá đẻ một lần hay nhiều lần trong năm mà có các đặc điểm khác nhau. Buồng
trứng giai đoạn IV chiếm hầu hết thể tích xoang bụng, cá có hệ số thành thục (tỷ lệ
phần trăm giữa khối lượng buồng trứng với khối lượng cá) cao nhất.
Giai đoạn IV của cá đẻ một lần trong năm bao gồm những trứng thành thục đã tích lũy
đầy đủ noãn hoàng và có cùng một dạng hình (phase 4). Ở cá đẻ nhiều lần trong năm
bao gồm hầu hết những trứng phase 4 ngoài ra còn bắt gặp những trứng chưa tích lũy
noãn hoàng đầy đủ (ở phase 3 hoặc quá độ từ phase 3 đến phase 4) và những trứng ở
phase 2.
Căn cứ vào mức độ tích lũy noãn hoàng và vị trí nhân trong tế bào trứng mà người ta
phân chia giai đoạn IV làm các giai đoạn phụ là: Giai đoạn IVa, giai đoạn IVb, giai
đoạn IVc. Trong sinh sản nhân tạo, buồng trứng phát triển đến giai đoạn IVb hoặc IVc
mà cho cá đẻ bằng tiêm hormone thì thu được kết quả cao. Ở giai đoạn IVa mà cá
được tiêm hormone sinh dục thì khả năng sinh sản rất thấp. Trong trường hợp này có
thể thành công khi sử dụng phương pháp tiêm cho cá nhiều lần hoặc kéo dài thời gian
và cường độ khi cá được kích thích sinh sản bằng các tác nhân sinh thái.
Giai đoạn V
Khi trứng đã rụng, thì buồng trứng ở giai đoạn V bề mặt buồng trứng có hiện tượng
xung huyết (căng phồng), buồng trứng rất mềm, vuốt nhẹ bụng cá, trứng có thể chảy
ra thành dòng, trong thời gian cá đang sinh sản thì buồng trứng cũng thuộc giai đoạn

20

V. Đối với những cá đẻ nhiều lần trong năm, ngoài những trứng đã rụng, trong buồng

Tinh sào có màu trắng sữa, đạt kích thước lớn nhất, bên trong chứa tinh tử và tinh
trùng, tinh bào sơ cấp, quá trình tạo tinh cơ bản kết thúc. Trong các ống dẫn tinh chứa
đầy tinh trùng chín muồi đã thoát ra khỏi bào nang và các tinh nguyên bào (là nguồn
dự trữ cho các chu kỳ sau). Ở giai đoạn này, tinh trùng dễ dàng thoát ra ngoài khi có

21

tác động cơ học ngay cả khi cá quẫy mạnh. Nếu dùng dao cắt ngang tinh sào thì mép
cắt không phẳng mà tù, trên dao có dính tinh dịch.
Giai đoạn V
Tinh sào cá ở trạng thái đang sinh sản. Tinh trùng chứa đầy các ống dẫn tinh. Ngoài ra
trong ống dẫn tinh còn có một lượng đáng kể các tế bào sinh dục ở các phase trước đó.
Giai đoan VI
Là giai đoạn tinh sào của cá đã sinh sản xong. Bề mặt tinh sào có màu đỏ hồng nhạt,
mềm nhão. Trong ống dẫn tinh ngoài tinh trùng đã chín, các bào nang còn có tế bào
sinh dục ở các phase phát triển khác nhau.
Hầu hết các tác giả đều có điểm chung nữa là khi tuyến sinh dục ở giai đoạn nào thì
trong đó có nhiều tế bào ở phase tương ứng.
2.2.3 Về nghiên cứu dinh dưỡng cá
Thức ăn là vật chất chứa các chất dinh dưỡng mà động vật có thể ăn, tiêu hóa và hấp
thụ được các chất dinh dưỡng đó để duy trì sự sống, xây dựng cấu trúc cơ thể. Thức ăn
là cơ sở để cung cấp vật chất dinh dưỡng và năng lượng cho quá trình dinh dưỡng
(Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009)
Vấn đề trung tâm khi nghiên cứu dinh dưỡng cá được nhiều tác giả quan tâm là tính
ăn của cá. Tùy theo những căn cứ khác nhau mà người ta chia tính ăn của cá làm
nhiều kiểu. Xác định tính ăn của cá, người ta căn cứ vào phổ dinh dưỡng của cá (thành
phần và tỷ lệ các loại thức ăn trong ống tiêu hóa). Khi dự báo tính ăn của cá, người ta
căn cứ vào cấu tạo cơ quan tiêu hóa bao gồm cấu tạo mang, miệng, hầu, thực quản, dạ
dày, hình thái ruột. Những cá có răng cửa thường là cá ăn động vật. Tỷ lệ chiều dài
ruột và chiều dài thân là căn cứ quan trọng để xác định tính ăn của cá. Những cá có

triển của cơ thể (cá non trẻ có cường độ dinh dưỡng lớn hơn cá trưởng thành), theo
điều kiện môi trường (nhất là nhiệt độ và mức độ phong phú của thức ăn), theo trạng
thái sinh lý của cơ thể.
Tính ăn của cá thay đổi theo giai đoạn phát triển của cơ thể. Điểm chung nhất của các
loài cá là khi mới nở từ trứng đều dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Đây là quá trình dinh
dưỡng bên trong. Hết noãn hoàng cá chuyển sang tìm kiếm thức ăn trong môi trường
nước. Thức ăn thích hợp cho giai đoạn này (ấu trùng) là động vật phù du có kích
thước phù hợp với khả năng bắt mồi của cá. Sau giai đoạn này, cá chuyển sang ăn
thức ăn của loài (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009).
Phân tích thành phần thức ăn có trong ruột (dạ dày) của cá. Có ba phương pháp chính
để phân tích
Phương pháp số lượng
Đếm các loại thức ăn hiện diện trong ống tiêu hóa của cá và được tính thành phần
phần trăm trên tổng số các loại thức ăn hiện diện trong ống tiêu hóa của cá.
Phương pháp thể tích
Thức ăn trong mẫu ruột cá được đưa về cùng một đơn vị thể tích, quan sát dưới kính
hiển vi để xác định phần trăm của loại thức ăn đó trong một đơn vị thể tích.
Phương pháp trọng lượng
Xác định trọng lương khô của mẫu thức ăn trong ruột cá, sau đó tính ra tỉ lệ phần trăm
trên tổng trọng lượng mẫu quan sát.
Theo Das và Moitra (1963), được trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định
(2004), phân chia các loài cá ở Ấn Độ ra thành 3 nhóm chính
Cá ăn thực vật với thành phần thức ăn chiếm hơn 75% là các loại thực vật.
Cá ăn tạp là nhóm cá ăn được cả thức ăn thực vật và động vật.
Cá ăn thịt với thành phần thức ăn động vật chiếm hơn 80%.
2.2.4 Về định danh cá
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), dựa vào các đặc điểm hình
thái
Mô tả hình thái của loài như hình dạng cơ thể, các loại vi, vị trí miệng, kiểu vẩy.
Các chỉ tiêu số lượng: Số lượng tia vi, vẩy, đốt sống.

Điểm thu mẫu được xác định trên bản đồ ở hình 3.1.
Mẫu cá và mẫu môi trường được phân tích trong phòng thí nghiệm Khoa Sinh Học
Ứng Dụng - Trường Đại Học Tây Đô.
3.2.2 Phương pháp thu mẫu
Mẫu được thu theo định kỳ mỗi tháng thu một lần ở mỗi điểm thu mẫu. Số cá thể
trong mẫu tùy thuộc số lượng cá xuất hiện nhiều hay ít tại các điểm thu. Tuy nhiên số
cá thể trong mẫu phải đảm bảo từ 30 cá thể trở lên. Mẫu được giữ lạnh tại hiện trường
(bảo quản trong thùng nước đá).

24Hình 3.1: Bản đồ điểm thu mẫu
Ghi chú: (1) Tân Châu; (2) Châu Đốc; (3) Phú Tân; (4) Long Xuyên
3.2.3 Phương pháp phân tích mẫu
Mẫu cá được phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại
Học Tây Đô. Phương pháp phân tích mẫu dựa theo: “Hướng dẫn nghiên cứu cá” của
I.F.Pravdin (1973); Method of fish Biology (Phương pháp nghiên cứu sinh học cá) của
C.B.Schreck et al (1990); “Sinh thái học cá” của Nikolsky (1963). Các phương pháp
cụ thể như sau
3.2.3.1 Đặc điểm sinh tưởng
Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng
Chiều dài tổng (TL) và chiều dài chuẩn (SL) được đo đạt với độ chính xác là milimet
(cm). Tổng trọng lượng (Wt) và trọng lượng tuyến sinh dục (Wg) được xác định bằng
cân điện tử với độ chính xác là 0,01g. Số lượng mẫu mỗi tháng trên 30 cá thể ở mỗi
điểm thu.
Để xác định mối tương quan giữa chiều dài tổng và trọng lượng ta dùng phương pháp
hồi qui, bằng cách sử dụng phần mềm ứng dụng của Microsoft Office Excel.
Quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng của cá theo Huxley (1924), được trích bởi
Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định (2004)

Wt x 100
Fulton (%) =
(SL)
3
Trong đó
Wt: Khối lượng cá (g)
SL: Chiều dài chuẩn (cm)
Độ béo Clark
W
0
x 100
Clark (%) =
(SL)
3
Trong đó
W
0
: Khối lượng không nội quan của cá (g)
SL: Chiều dài chuẩn (cm)
Độ mỡ (ball mỡ) của cá được xác định theo thang 6 bậc (từ bậc 0 đến bậc 5) của
M.L.Prozorovxkaia được trích dẫn bỡi Nikolsky (1963).
3.2.3.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân
Chỉ số tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân được xác định theo Nikolsky
(1963)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status