xác định khả năng thay thế artermia bằng moina macrocopa trong sản xuất giống tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) theo qui trình nước xanh cải tiến - Pdf 11


1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304 XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG THAY THẾ ARTEMIA
BẰNG Moina macrocopa TRONG SẢN XUẤT
GIỐNG TÔM CÀNG XANH THEO QUI TRÌNH
NƯỚC XANH CẢI TIẾN

Sinh viên thực hiện
ĐỖ TRUNG KIÊN
MSSV: 06803016
Lớp: NTTS K1Cần Thơ, 2010 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ

TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tên đề tài: “Xác định khả năng thay thế Artermia bằng Moina macrocopa trong
sản xuất giống tôm càng xanh (Macrobrachium Rosenbergii) theo qui trình nước
xanh cải tiến”
Sinh viên thực hiện: Đỗ Trung Kiên
Lớp: Nuôi trồng thủy sản K-1
Đề tài đã hoàn thành đúng theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và hội đồng Khoa Sinh
Học Ứng Dụng, Đại Học Tây Đô. Cần Thơ, ngày……tháng ……năm 2010

Cán Bộ Hướng Dẫn Sinh Viên Thực Hiện
ThS. Nguyễn Lê Hoàng Yến Đỗ Trung Kiên
ThS. Tăng Minh Khoa Chủ Tịch hội đồng
ThS. Nguyễn Hữu Lộc

4

Nghiên cứu được thực hiện về sản xuất giống nhân tạo tôm càng xanh theo qui trình
nước xanh cải tiến, gồm 2 thí nghiệm . Thí nghiệm thăm dò: Xác định khả năng chịu
đựng của Moina macrocopa ở các độ mặn khác nhau.Thử nghiệm được tiến hành với
thể tích 100 mL, 3 lần lặp lại ở các độ mặn khác nhau từ 2, 4, 6, 8, 10, 12
o
/
oo.
Kết quả
Moina chịu được độ mặn 12%o trong khoảng thời gian 30 phút. Thí nghiệm chính:
thay thế Artemia bằng Moina macrocopa ở các tỉ lệ khác nhau theo mỗi nghiệm thức:
nghiệm thức I cho ăn 100% Artemia (NT đối chứng), nghiệm thức II thay thay thế
25% Artemia, nghiệm thức III thay thế 50% Artemia, nghiệm thức IV thay thế 75%
Artemia, nghiệm thức V thay thế 100% Artemia, kết hợp sử dụng thức ăn chế biến
được cho ăn 3 – 4 lần/ngày. Kết quả thu được sai khác có ý nghĩa có ý nghĩa thống kê
giữa các nghiệm thức: Tỉ lệ sống cao nhất ở nghiệm thức không thay thế Artermia
bằng Moina là 40,06 ± 7,23, thấp nhất ở nghiệm thức thay thế 100% Artermia bằng
100% Moina là 16,42 ± 2,07, chu kỳ lột xác ở nghiệm thức I (cho ăn 100% Artemia
và thức ăn chế biến) là nhanh nhất và xuất hiện Postlarvae đầu tiên sớm nhất so với
nghiệm thức khác. Hàm lượng TAN tăng cao (2- 5mg/L) vào cuối chu kỳ ương và
tăng nhanh ở các nghiệm thức thay thế Artemia bằng Moina.


2.3.1 Đặc điểm sinh học Moina 6
2.3.2 Giá trị dinh dưỡng Moina 7
2.4 Giá trị dinh dưỡng của Artemia 8
CHƯƠNG 3 10
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 Địa điểm và thời gian thực hiện 10
3.2 Phương tiện nghiên cứu 10
3.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị 10
3.2.2 Tôm mẹ 11
3.2.3 Nguồn nước 11
3.2.4 Chuẩn bị hệ thống ương 11
3.2.5 Thức ăn 11

7
3.3 Phương pháp nghiên cứu 11
3.3.1 Phương pháp thu ấu trùng 11
3.3.2 Định lượng ấu trùng 12
3.3.3 Bố trí thí nghiệm 12
3.3.4 Chăm sóc và quản lý 12
3.4 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 13
CHƯƠNG 4 14
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 14
4.1 Các yếu tố thủy lý hóa trong môi trường nước ương 14
4.1.1 Nhiệt độ 14
4.1.2 pH 16
4.1.3 Sự biến động của TAN trong quá trình ương 17
4.1.4 Sự biến động của N-NO
2
- trong quá trình ương 18
4.1.5 Sự biến động của N-NO

Bảng 4.3: Biến động pH trung bình
giữa các nghiệm thức trong thí nghiệm
………… 16
Bảng 4.4: Biến động TAN trung bình
giữa các nghiệm thức trong thí nghiệm……
…….17
Bảng 4.5: Biến động ( N-NO
2
-
) trung bình
giữa các nghiệm thức trong thí nghiệm
…….18
Bảng 4.6: Biến động ( N-NO
3
-
) trung bình
giữa các nghiệm thức trong thí nghiệm
… 19
Bảng 4.7: Thời gian chuyển Postlarvae giữa các nghiệm thức………………………………22
Bảng 4.8: Kích thước ấu trùng theo từng giai đoạn phát triển……………………………….23
Bảng 4.9: Tỉ lệ sống của ấu trùng ………………………………………………………… 24

9
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3.1: Hệ thống bể ương ấu trùng……………………………………………………… 10
Hình 4.1: Sự biến động nhiệt độ sáng giữa các nghiệm thức trong quá trình ương…………15
Hình 4.2: Sự biến động nhiệt độ chiều giữa các nghiệm thức trong quá trình ương…… …15
Hình 4.3: Tỷ lệ phân đàn ấu trùng NT I…………………………………………………… 20
Hình 4.4: Tỷ lệ phân đàn ấu trùng NT II ………………………………………………….20

Tuy nhiên, trong quá trình ương ấu trùng, thức ăn là vấn đề được người ương quan
tâm nhiều nhất. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chế biến thành công các loại thức
ăn phù hợp với nhu cầu của ấu trùng tôm càng xanh, nhưng do giá thành cao, do đó
người nuôi cần kết hợp cho ăn thức ăn tự chế và Artemia.

Artemia là loại thức ăn tươi sống có giá trị dinh dưỡng cao, thuận tiện và ít tốn nhân
công trong sản xuất giống thuỷ sản. Tuy nhiên Artemia có giá thành khá cao chưa thể
giúp cho người sản xuất tiết kiệm ở mức thấp nhất. Để giảm chi phí về thức ăn các
nhà sản xuất giống đã tìm một loại thức ăn khác có thể thay thế Artemia nhưng vẫn
đảm bảo giá trị dinh dưỡng là Moina macrocopa, với những đặc tính như: kích thước
nhỏ (300-400 µm), lượng protein ở Moina macrocopa chiếm 50% khối lượng khô,
chất béo chiếm 20-27%, di chuyển chậm chạp, lơ lửng vì vậy thích hợp cho ấu trùng
tôm mới nở ( 3/2010)

Trên cơ sở đó Moina là thức ăn lý tưởng dành cho tôm cá nói chung và tôm càng xanh
nói riêng. Do đó đề tài: “Xác định khả năng thay thế Artemia bằng Moina macrocopa
trong sản xuất giống tôm càng xanh theo qui trình nước xanh cải tiến” được thực hiện

11
nhằm nghiên cứu khả năng thay thế Artemia bằng Moina macrocopa trong ương ấu
trùng tôm càng xanh từ đó giúp giảm giá thành con giống tôm càng xanh nhân tạo.

Nội dung nghiên cứu
Xác định khả năng chịu đựng của Moina macrocopa ở các độ mặn khác nhau từ 2 đến
12‰.
Đánh giá sự phát triển của ấu trùng tôm càng xanh khi thay thế Artemia bằng Moina
macrocopa trong quá trình ương theo qui trình nước xanh cải tiến.

Lớp phụ Malacostraca
Bộ Decapoda
Họ Palaemonidae
Giống Macrobrachium
Loài Macrobrachium rosenbergii De man, 1879.
Tôm càng xanh là loài có kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm nước ngọt. Có thể phân
biệt tôm càng xanh với các nhóm tôm khác ở hình dạng và màu sắc của chúng. Tôm
càng xanh có cơ thể thon dài, đối xứng hai bên. Con trưởng thành thường có màu
xanh dễ nhận biết bằng mắt thường, đôi khi có màu nâu nhạt (Nguyễn Thanh Phương
và csv, 2003).
2.1.2 Phân bố
Tôm càng xanh phân bố rộng ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, tập trung ở khu vực
Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương, chủ yếu ở khu vực từ Châu Úc đến
New Guinea, Trung Quốc và Ấn Độ. Tôm phân bố ở các thuỷ vực nước ngọt (đầm,
hồ, ao, sông) và các thuỷ vực nước lợ ở cửa sông (Nguyễn Thanh Phương và csv,
2003).
Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bố tự nhiên chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ, đặc biệt là
vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, ở các thuỷ vực 18‰ hay đôi khi cả 25‰ vẫn có thể
thấy tôm xuất hiện (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
2.1.3 Vòng đời của tôm càng xanh
Vòng đời của tôm càng xanh được chia thành 4 giai đoạn trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng
và tôm trưởng thành. Khi tôm đã trưởng thành, chúng thường sống chủ yếu ở nước
ngọt. Khi thành thục, tôm bắt cặp đẻ trứng dính vào các chân bụng của tôm mẹ. Tôm
mang trứng có xu thế bơi ra vùng cửa sông nước lợ (6-18‰) để nở. Ấu trùng nở ra và
sống phù du. Sau 11 lần biến thái thành hậu ấu trùng, lúc này tôm con di cư về vùng
nước ngọt, sống và lớn lên ở đây (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
13

hay nhỏ thì tuỳ thuộc vào điều kiện như mật độ, nhiệt độ, dinh dưỡng (Nguyễn
Thanh Phương và csv, 2003).
2.1.7 Phát triển ấu trùng tôm càng xanh
Sự biến thái của tôm càng xanh trải qua 11 lần lột xác (Uno và Soo, 1969. Trích dẫn
bởi Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003). 14
Bảng 2.1: Phát triển ấu trùng tôm càng xanh qua 11 lần lột xác
Giai đoạn
Tuổi
(ngày)
Chiều dài
(mm)
Đặc điểm
I 1 1,92 Mắt chưa có cuống
II 2 1,99 Mắt có cuống
III 3- 4 2,14 Xuất hiện chân đuôi
IV 4- 6 2,5 Có 2 răng trên chủy, chân đuôi có 2 nhánh, có lông tơ

V 5- 8 2,8 Telson hẹp và kéo dài ra
VI 7- 10 3,75 Mầm chân bụng xuất hiện
VII 11- 17 4,06 Chân bụng có 2 nhánh, chưa có lông tơ
VIII 14- 19 4,68 Chân bụng có lông tơ
IX 15- 22 6,07 Nhánh trong của chân bụng có nhánh phụ trong
X 17- 4 7,05 Có 3-4 răng trên chủy
XI 19- 26 7,73 Răng xuất hiện hết nửa trên chủy

Sản - Trường Đại học Cần Thơ đã bắt đầu nghiên cứu về sinh học và kĩ thuật ương
nuôi ấu trùng tôm càng xanh và tiến hành ương nuôi thu thập mẫu, nhận xét về sinh
học phát triển của tôm, đến năm 1983, đã sản xuất ra Postlarvae. Sau đó, năm 1987
tiến hành ương nuôi Postlarvae trong bể xi măng và ao đất (Lý Hoàng Phúc, 2006).
Để phát triển quá trình sản xuất giống nhân tạo, Nguyễn Thị Nga (1987) đã tiến hành
thực hiện thí nghiệm về sản xuất giống tôm càng xanh ở Vĩnh Châu với mật độ 50 ấu
trùng/lít đạt tỷ lệ sống 80%, Lâm Thành Hưng (1988) tiếp tục nghiên cứu sản xuất
giống tôm càng trong mô hình nước xanh và mô hình nước trong với mục đích tìm ra
một mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế. Kết quả là tỷ lệ sống 56.4- 61.6%
(Lê Thị Cẩm Oanh, 2000).
Nguyễn Việt Thắng (1993), đã nghiên cứu một vài đặc điểm sinh học và sản xuất
giống tôm càng xanh ở đồng bằng Nam bộ, ông đã thí nghiệm hết 3 qui trình (qui
trình nước xanh, nước trong hở, nước trong kín) đạt tỷ lệ sống khá cao và ông đề nghị
ương nuôi theo qui trình nước trong hệ hở vào sử dụng phổ biến trong nhân dân
(Nguyễn Lê Hoàng Yến, 1999).
Hiện nay, ở miền Nam Việt Nam, nhiều trại đã ứng dụng sản xuất như trại Nhà Bè Tp.
Hồ Chí Minh, trại thực nghiệm giống thủy sản Gò Công (Tiền Giang), trại Long Mỹ
(Cần Thơ), các trại đã và đang sử dụng qui trình nước trong hở, nước xanh cải tiến (ít
phổ biến).
Từ 1998 đến nay trường Đại Học Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu và sản
xuất giống tôm càng xanh với mô hình nước xanh cải tiến và đã thu được kết quả
thành công, tôm giống rất khỏe có khả năng chịu đựng tốt với điều kiện bất lợi của
môi trường (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
2.3 Đặc điểm sinh học và giá trị dinh dưỡng Moina macrocopa
2.3.1 Đặc điểm sinh học
Là loài giáp xác nước ngọt, Moina có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo vùng như
trứng nước, bọ đỏ, hồng trần và rận nước. Chúng xuất hiện hầu như khắp nơi trên thế
giới, ấu trùng của các loài thuỷ sản có thể ăn Moina ngay từ khi mới nở. Tuy nhiên
cần biết rằng Moina rất khó phân tách theo kích thước. Thí nghiệm lọc Moina bằng
lưới nhuyễn kích thước 500µm tại UF/IFAS Tropical Aquaculture Laboratory cho kết

0
C. Khả năng chịu đựng tốt của Moina
là điểm thuận lợi để các trại giống sử dụng làm thức ăn cho tôm càng xanh.
Thức ăn của Moina là các loại vi khuẩn, men bia, vi tảo và mùn bã hữu cơ. Số lượng
Moina phát triển nhanh nhất khi lượng thức ăn dồi dào. Ngoài ra Moina là một trong
những sinh vật phù du có thể tiêu thụ tảo lam Microcystis aeruginosa. Cả mùn bã hữu
cơ động lẫn thực vật đều cung cấp năng lượng cho sự tăng trưởng của Moina (Lavens
và Sorgeloos, 2003).
Sinh sản
Moina có thể sinh sản vô tính và hữu tính. Thông thường, Moina gồm toàn con cái
sinh sản theo cách vô tính, ở điều kiện bất lợi, con đực xuất hiện và sinh sản hữu tính
bắt đầu, tạo ra trứng tiềm sinh (trứng Cyst) tương tự như trứng Artemia
( 3/2010).
2.3.2 Giá trị dinh dưỡng của Moina macrocopa
Giá trị dinh dưỡng của Moina phụ thuộc vào độ tuổi và loại thức ăn mà chúng được
nuôi. Dù vậy, lượng Protein ở Moina chiếm 50% khối lượng khô. Moina trưởng thành
chứa nhiều chất béo hơn Moina nhỏ. Lượng chất béo chiếm từ 20- 27% lượng khô ở
Moina cái trưởng thành và 4- 6% ở Moina nhỏ. Ngoài ra giá trị dinh dưỡng của Moina
phụ thuộc vào thành phần dinh dưỡng của thức ăn mà chúng tiêu thụ, nhưng vì Moina
sống ở nước ngọt cho nên nó không phải là thức ăn thích hợp đối với sinh vật biển.
Nhưng Moina có chứa một phổ rộng các enzim tiêu hoá như proteinaza, peptidaza,
amylaza, pipaza và ngay cả xanlulaza, hàm lượng HUFA là những acid amin thiết yếu
mà cơ thể cá, tôm không thể tự tổng hợp được. Moina có thể làm enzym ngoại bào

17
trong ruột của ấu trùng tôm khi tiêu thụ chúng vào cơ thể
( 3/2010).
Moina có thể được giàu hóa bằng phương pháp trực tiếp là nuôi chúng bằng men bánh
mì và dầu gan cá hoặc dầu gan mực chuyển thành thể nhũ tương. Các thí nghiệm cho
thấy rằng Moina hấp thu HUFA (omega 3) tuy chậm nhưng cũng giống như trùng

trình nở, các hàm lượng axit ascoobic ở các Nauplius của Artemia biến đổi từ 300-
550 µg/g trọng lượng khô. Các dẫn liệu được công bố cho thấy rằng, các hàm lượng
vitamin ở Artemia là đủ để đáp ứng các yêu cầu về chế độ thức ăn được khuyến nghị
dùng nuôi thuỷ sản (Lavens và Sorgeloos, 2003). Hàm lượng các axit amin là yếu tố

18
quan trọng ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của Artemia khi sử dụng làm thức ăn
cho ấu trùng biển. Các axit amin quan trọng là hàm lượng các axit béo thiết yếu như
axit eicosapentaenoic (EPA: 20:5n-3) và quan trọng hơn là axit docosahexaenoic
(DHA: 22:6n-3). Trái với các loài nước ngọt, hầu hết sinh vật biển không có khả năng
tổng hợp những EPA này từ các axit béo không no có chuỗi thấp hơn như axit
linolenic (18:3n-3). Để cải thiện thành phần lipid, Artemia được giàu hoá bằng các
thức ăn giàu HUFA. Phương pháp này được áp dụng rộng rãi ở các trại giống khắp
nơi trên thế giới nhằm làm tăng giá trị dinh dưỡng các axit béo thiết yếu của Artemia.
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu Anh, Nhật, Pháp và Bỉ cũng đã phát triển các sản
phẩm làm giàu hóa khác nhau gồm có tảo đơn bào, men hoặc các chất nhũ tương hoá,
các thức ăn hợp chất, các thức ăn vi hạt hoặc các chất cô đặc tự nhũ tương hoá. Vì tầm
quan trọng của DHA ở các loài cá biển nên người ta đã có nhiều cố gắng để đưa các tỷ
lệ cao DHA/EPA vào thức ăn tươi sống, ngoài ra còn các chất dinh dưỡng khác như
sắc tố cũng được đưa vào Artemia (Lavens và Sorgeloos, 2003).


Bể nuôi cá rô phi tạo nước xanh là bể composite màu xám có thể tích 1 m
3
.
Xô nhựa có thể tích 10 lít để ấp Artermia.
Bể composite màu xanh có thể tích 1 m
3
/bể chứa nước mặn.
Máy đo nồng độ muối cầm tay.
Kính hiển vi.
Hệ thống sục khí, hệ thống dẫn nước và hệ thống điện dự phòng.
Ngoài ra còn có các dụng cụ như lưới, vợt, ống siphon, cốc, cân, tủ lạnh, thau, chậu
Trại giống được lợp bằng mái che tối xen với mái che nhựa trong suốt để đảm bảo ánh
sáng cho tảo và tôm phát triển.
3.2.2 Tôm mẹ
Tôm mẹ được mua tại các vựa thu mua có trọng lượng từ 50- 80 g/con, đồng cỡ.
Chọn tôm mẹ khoẻ mạnh, không thương tật, không có dấu hiệu bệnh tật (chấm đen,
đốm đỏ ) màu sắc sáng, khối trứng không rời rạc hay dễ rơi rớt.

21
Tôm mẹ mua về được nuôi trong môi trường nước ngọt, có sục oxy. Khi thấy khối
trứng có màu xám nhạt và xuất hiện điểm mắt, tôm mẹ được chuyển sang môi trường
nước lợ, nồng độ 8- 10‰, sục khí liên tục. Sau 12- 24 giờ trứng nở thành ấu trùng.
3.2.3 Nguồn nước

Nước ngọt sử dụng từ nước cung cấp cho sinh hoạt của nhà máy nước thành phố.
Nước lợ 12‰ nước ót lấy từ ruộng muối Vĩnh Châu độ mặn 80-120‰ sau đó được
pha với nước máy thành nước lợ 12‰.

nhựa hút ấu trùng vào thùng lớn, sục khí mạnh liên tục.

22
3.3.2 Định lượng ấu trùng
Ấu trùng được chứa trong thùng nhựa, định lượng bằng phương pháp: sục khí mạnh,
sao cho ấu trùng phân bố đều trong thùng, dùng cốc 200 ml thu ngẫu nhiên ở 3 điểm
khác nhau, đếm số lượng 3 mẫu thu đó tính trung bình một mẫu. Tổng lượng ấu trùng
chứa trong thùng được tính theo công thức: ∑ thể tích mẫu chứa trong thùng x SL ấu trùng TB 1 mẫu
∑ SL ấu trùng chứa trong thùng =
(ấu trùng/L) 200 ml

3.3.3 Bố trí thí nghiệm

* Thí nghiệm thăm dò: Xác định khả năng chịu đựng của Moina macrocopa ở các
độ mặn khác nhau
Thử nghiệm được tiến hành với thể tích 100 mL, 3 lần lặp lại ở các độ mặn khác nhau
từ 2, 4, 6, 8, 10, 12‰
.

Mật độ Moina được cho vào là 62 cá thể/mL
Tỷ lệ sống của Moina được xác định cứ 30 phút/lần bằng cách: dùng pipet hút lần lượt
1ml nước mẫu ở các cốc thử nghiệm cho vào đĩa petri và xác định tỉ lệ sống Moina
bằng kính hiển vi soi nổi.
* Thí nghiệm chính: Thay thế Artemia bằng Moina macrocopa trong ương ấu
trùng tôm càng xanh
Ấu trùng được bố trí chung trong cùng 1 bể và ương nuôi đến giai đoạn VI thì được
bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại, gồm 5 nghiệm thức:

LSI = ∑(A
i
)/i.

Trong đó LSI: % ấu trùng có cùng giai đoạn phát triển
A
i
: Số ấu trùng có cùng giai đoạn phát triển
i: Tổng số ấu trùng quan sát
+ Chiều dài của ấu trùng được xác định theo từng giai đoạn phát triển bằng thước kẻ ô
ly (mm)
- Thu hoạch Postlarvae
Khi ấu trùng trong bể chuyển sang Postlarvae khoảng 80% tiến hành hạ dần nồng độ
mặn từ 12- 8- 4 và 0‰ trong 3- 4 ngày.
Đếm số lượng Postlarvae/ bể, tính tỉ lệ chuyển Post và xác định tỉ lệ sống.

Số lượng Postlarvae
Tỷ lệ chuyển Postlarva (%)= x 100
Tổng số lượng ấu trùng ban đầu

Số lượng Postlarvae + Số lượng ấu trùng còn lại
Tỷ lệ sống ấu trùng (%) = x 100
Tổng số lượng ấu trùng ban đầu

3.4 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
Số liệu ghi nhận được tính toán bằng chương trình Excel và xử lý thống kê theo
chương trình Statictica 5.0.


6‰
.

8‰
.

10‰
.

12‰
.

100
100
100
70
60
50
50
50
50
0
0
0

B. Thí nghiệm chính thức
4.1. Các yếu tố thủy lý hóa trong môi trường nước ương
4.1.1 Nhiệt độ
Khi ương ấu trùng tôm càng xanh Nguyễn Việt Thắng (1993), đã thí nghiệm và đưa ra

t đ

(
o
C)

Mặc dù có những ý kiến khác nhau nhưng các tác giả đều có chung quan điểm cho
rằng phạm vi nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của ấu trùng tôm càng xanh là
26- 31
0
C và trong khoảng này nếu nhiệt độ càng tăng thì sự lột xác và tăng trưởng của
ấu trùng càng nhanh.
Bảng 4.2: Biến động nhiệt độ trung bình giữa các nghiệm thức trong thí nghiệm
Nhiệt độ
(
o
C)
NT I NT II NT III NT IV NT V
Sáng 28,10 ± 0,15 28,03 ± 0,13 28,09 ± 0,14 28,10 ± 0,21 28,14 ± 0,18
Chiều 30,18 ± 1,08 30,24 ± 1,07 30,24 ± 1,05 30,36 ± 1,10 30,28 ± 1,06
Sự biến động nhiệt độ trung bình ở 5 nghiệm thức dao động từ 28,03 ± 0,13
o
C đến
30,36 ± 1,1
o
C (Bảng 4.2) không chênh lệch nhau nhiều.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status