Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI_DU LỊCH_MARKETING
MAR 12 _ K33
Đề tài:
GVHD:
Nhóm sinh viên Mar 02: Trần Phi Khương
Nguyễn Du Thy Lam
Nguyễn Thị Hoàng Nga
Hoàn Thị Thu Loan
Thân Huỳnh Vĩnh Long
- 1 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN ĐIỂM:.............................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
LỜI MỞ ĐẦU
Nhật Bản là một quốc gia không được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, diện tích nhỏ
hẹp lại luôn phải chịu hậu quả của thiên tai, đặc biệt hậu quả từ sau Thế Chiến thứ 2,
tuy nhiên Nhật Bản ngày nay đã trở thành một cường quốc trên Thế giới không chỉ là
đất nước đi đầu về khoa học công nghệ mà còn là một quốc gia có tầm ảnh hưởng kinh
tế lớn đối với tất cả các quốc gia khác. Vậy đâu là yếu tố làm nên sự thành công của
Nhật Bản ngày nay? Đi sâu vào tìm hiểu về Nhật Bản, với các mặt về kinh tế, văn hóa,
xã hội và quan hệ đối ngoại hy vọng chúng ta có thể thu được nhiều những kinh
nghiệm cho sự phát triển kinh tế ở Việt Nam giai đoạn hiện tại. Bên cạnh đó, hiểu rõ
về cách giao tiếp kinh doanh của người Nhật sẽ giúp cho chúng ta dễ dàng nắm bắt và
tiếp cận với nền kinh tế Nhật Bản.
- 3 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
MỤC LỤC
A. TỔNG QUAN VỀ NHẬT BẢN..................................................................5
I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ NHẬT BẢN:............................................................5
1. Vị trí địa lí – địa hình...............................................................................5
2. Khí hậu ....................................................................................................5
3. Mạng lưới giao thông...............................................................................6
II. KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ NHẬT:.........................................................7
1. Sơ lược về văn hoá Nhật................................................................................7
2. Các yếu tố cấu thành văn hóa truyền thống Nhật Bản...................................8
3. Những nét đặc trưng trong văn hoá Nhật.....................................................12
B. VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG KINH DOANH.................................78
1 Những nét đặc thù của văn hóa doanh nhân Nhật Bản...........................78
2 Giao tiếp và đàm phán.................................................................................84
3. Phong cách đàm phán của người Nhật.....................................................86
4. Tặng quà.....................................................................................................88
- 4 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
Hầu hết các miền ở Nhật Bản có 4 mùa rõ rệt, mùa hè nóng ẩm bắt đầu vào giữa tháng 7,
trước đó là mùa mưa kéo dài một tháng trừ Hokkaido- đảo lớn ở phía bắc hầu như không có
mưa. Mùa đông nhiệt độ xuống thấp, tuyết rơi nhiều đặc biệt ở khu vực phía đông bắc. Mùa
đông và mùa thu là những mùa tốt nhất trong năm, khí hậu êm dịu và rực rỡ ánh mặt trời trên
khắp đất nước. Tuy nhiên, vào khoảng tháng 9 Nhật Bản thường có bão có thể làm lở đất
bằng những trận gió mạnh và mưa như trút nước. Lượng mưa ở Nhật là rất lớn, từ 1000 tới
2500mm/ năm.
Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40.9 độ C - đo được vào 16 tháng 8, 2007.
Nhật Bản là quê hương của chín loại sinh thái rừng, phản ánh khí hậu và địa lý của các hòn
đảo. Nó trải dài từ những rừng mưa nhiệt đới trên quần đảo Ryukyu và Bonin tới các rừng
hỗn hợp và rừng ôn đới lá rụng trên các vùng khí hậu ôn hòa của các đảo chính, tới rừng ôn
đới lá kim (temperate coniferous forests) vào mùa đông lạnh trên các phần phía Bắc các đảo.
3. Mạng lưới giao thông:
Giao thông ở Nhật Bản rất phát triển, vào năm 2004 ở Nhật Bản có khoảng 1.177.278 km
(731.683 miles) đường bộ, 173 sân bay, 23.577 km (14.653 miles) đường sắt. Phương tiện
đường không được hoạt động chủ yếu bởi All Nippon Airways (ANA) và Japan Airlines
(JAL). Đường sắt được điều khiển bởi Japan Railways. Có rất nhiều các chuyến bay quốc tế
lớn từ nhiều thành phố và đất nước trên thế giới đến và rời Nhật Bản.
Tại các thành phố lớn như Tokyo, Kyoto, Osaka hệ thống giao thông công cộng rất phát triển
nhất là hệ thống tàu điện ngầm rất quy mô và hiện đại.
- 6 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
II/ KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ NHẬT
1/ Sơ lược về văn hoá Nhật
Văn hoá Nhật Bản ngày nay là kết tinh thành quả lao động hàng ngàn năm của
những cư dân trên quần đảo Nhật Bản, là sự kết hợp sáng tạo những giá trị văn hoá bản
địa và các giá trị văn hoá nước ngoài, cũng do vậy, là nơi hội tụ của văn hoá phương
cứng nhắc, mà luôn luôn là quá trình tiếp thu có cải biến. Tư tưởng, tín ngưỡng, lối sống
nước ngoài một khi được du nhập vào Nhật Bản đều buộc phải biến đổi để phù hợp với
hệ giá trị văn hoá bản địa và tồn tại như là cái có tính độc đáo Nhật Bản. Chính nhờ vậy
mà ngày nay Nhật Bản không chỉ là một cường quốc hàng đầu thế giới về kinh tế mà
còn là đất nước có nền văn hoá phát triển đa dạng và giàu bản sắc
2/ Các yếu tố cấu thành văn hóa truyền thống Nhật Bản :
Dân tộc :
Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa. Người dân không có
nguồn gốc Nhật chỉ chiếm hơn 1% tổng dân số vào năm 1993. Sắc dân nước ngoài đông nhất
là Triều Tiên nhưng nhiều người Triều Tiên sinh trưởng tại Nhật Bản đã nói tiếng Nhật không
khác gì người Nhật Bản cả. Sắc dân này trước kia bị kỳ thị tại nơi làm việc và tại một số
phương diện trong đời sống hàng ngày. Sắc dân ngoại quốc thứ hai là người Trung Hoa rồi về
sau còn có một số dân lao động gồm người Phi Luật Tân và người Thái.
Người Nhật Bản có nguồn gốc Mông Cổ, giống như người Triều Tiên và Trung Hoa.
Có lẽ vào khoảng 10.000 năm về trước, sắc tộc gốc Mông Cổ này đã di cư tới Nhật Bản là nơi
có sẵn tộc người Ainu, một loại thổ dân gốc Caucase. Ngày nay thổ dân Ainu chỉ còn vào
khoảng 14,000 người, sinh sống trong các khu vực riêng biệt thuộc Hokkaido. Người Ainu
đang chịu các số phận thiệt thòi giống như thổ dân da đỏ tại Bắc Mỹ.
Gia đình và xã hội :
Do sống biệt lập với các quốc gia khác tại châu Á trong nhiều thế kỷ cho tới thời kỳ
mở cửa vào năm 1868, Nhật Bản đã có các nét riêng về phong tục, tập quán, chính trị, kinh tế
và văn hóa... trong đó gia đình đã giữ một vai trò trọng yếu. Trước Thế Chiến thứ Hai, phần
lớn người Nhật sống trong loại gia đình gồm ba thế hệ. Sự liên lạc gia đình đã theo một hệ
thống đẳng cấp khắt khe theo đó người cha được kính trọng và có uy quyền. Người phụ nữ
khi về nhà chồng phải tuân phục chồng và cha mẹ chồng nhưng sau khi Luật Dân Sự năm
1947 được ban hành, người phụ nữ đã có nhiều quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi
mặt của đời sống và đặc tính phụ quyền của gia đình đã bị bãi bỏ. Phụ nữ Nhật đã tham gia
vào xã hội và chiếm 40,6% tổng số lực lượng lao động của năm 1990.
Các phát triển nhanh chóng về kinh tế, kỹ thuật và đô thị cũng làm gia tăng loại gia
đình hạt nhân chỉ gồm cha mẹ và các con, khiến cho loại đại gia đình giảm từ 44% vào năm
cách gập người xuống và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội của cả hai người. Đây là một dấu
hiệu quan trọng để tỏ lộ sự kính trọng. Một nét phong tục khác là việc trao đổi danh thiếp.
Mỗi lần giới thiệu hay gặp mặt đều cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng
hai tay là một cử chỉ lễ độ. Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay trên đó.
Trong việc giao thiệp, người Nhật thường không thích sự trực tiếp và việc trung gian đóng
một vai trò quan trọng trong cách giải quyết mọi hoàn cảnh khó khăn. Cũng như đối với nhiều
- 9 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
người châu Á khác, người ngoại quốc tới Nhật Bản cần phải bình tĩnh trước mọi điều không
vừa ý, không nên nổi giận và luôn luôn nên nở nụ cười.
Tôn giáo và tư tưởng
Thần đạo (Shintò) là một tôn giáo đa thần, có nguồn gốc từ những tín ngưỡng
thời cổ xưa ở Nhật Bản. Người ta thờ cúng các sự vật, hiện tượng được coi là có năng lực
linh thiêng trong tự nhiên và xã hội, như đỉnh núi, con sông, biển, mặt trời, mưa, dông
bão, các vị anh hùng và tổ tiên để mong được sự phù hộ, chở che trong cuộc sống hiện
tại. Những truyền thuyết về nguồn gốc thần linh của Hoàng tộc đã trở thành một phần
quan trong của giáo lý Thần đạo. Từ Thần đạo (Shintò) chỉ những nghi lễ tế thần và đền
thờ được thấy xuất hiện rất sớm, nhưng phải đến tận cuối thế kỷ thứ XII thuật ngữ này
mới mang ý nghĩa chỉ một loại giáo lý tôn giáo nhất định.
Thần đạo có một quá trình kết hợp lâu dài với Phật giáo dưới dạng tín ngưỡng
Thần Phật tập hợp. Đầu thế kỷ XIX một phong trào Thần đạo phục cổ đã nổi lên và dần
chiếm ưu thế, Phật giáo bị tách ra khỏi Thần đạo vì bị coi là một tôn giáo ngoại lai. Sau
cải cách Minh Trị và đặc biệt trong Chiến tranh Thế giới thứ II, Thần đạo được các nhà
chức trách đưa lên thành quốc giáo. Kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II quân Đồng
Minh đã chiếm đóng Nhật Bản, giải thể Thần đạo Nhà nước - một tổ chức Thần đạo
được coi là có liên quan đến việc cổ súy tư tưởng dân tộc cực đoan và chủ nghĩa quân
phiệt. Theo Hiến pháp Nhật Bản sau chiến tranh, Thần đạo không còn được hưởng bất
kỳ một đặc quyền nào và tồn tại bình đẳng như các tôn giáo khác. Ngày nay trong ý
thức dân chúng Thần đạo tồn tại song song và đôi khi hoà trộn với Phật giáo. Nhiều
phương Tây. Tuy nhiên, chính quyền Tokugawa (1603-1867) cho rằng Kitô giáo là nguy
cơ đe doạ sự ổn định của trật tự vừa được thiết lập nên đã cấm nó hoạt động. Kitô giáo
bị cấm cho đến tận giữa thế kỷ XIX- khi Nhật Bản lại mở cửa ra thế giới bên ngoài.
Trong số tín đồ Kitô giáo ở Nhật Bản hiện nay tín đồ Tin lành nhiều hơn tín đồ Thiên
chúa.
Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của người Nhật đã đóng một vai trò quan trọng trong văn hoá Nhật. Ngôn
ngữ chính được nói ở Nhật cũng như các cộng đồng di cư người Nhật trên toàn thế giới là một
loại ngôn ngữ chấp dính. Kho ngữ âm của Nhật khá nhỏ nhưng lại có một hệ thống ngữ điệu
theo từ vựng vô cùng rõ rệt. Lúc đầu, tiếng Nhật cổ đại được biết rộng rãi trên nền trạng thái
của thế kỉ thứ 8, khi mà 3 tác phẩm chính của tiếng Nhật cổ được hoàn thành. Chứng nhận
đầu tiên về sự tồn tại của tiếng Nhật là một văn bản của người Trung Hoa từ năm 252 sau
công nguyên. Nó được xem là một loại loại ngôn ngữ cực kì khó học với người phương Tây,
đặc biệt là người lớn.
Tiếng Nhật được viết với sự kết hợp của ba nguyên bản: hiragana có nguồn gốc từ nguyên
- 11 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
bản tiếng Trung thảo ra; katakana có nguồn gốc từ phương pháp tốc ký các kí tự tiếng trung;
và kanji được bắt nguồn từ tiếng Trung. Chữ Latin, Romaji, cũng thường được sử dụng bởi
người Nhật đương thời, đặc biệt là tên và logo hoặc quảng cáo của các công ty và khi nhận
thiếng Nhật vào máy tính. Chữ số Hindu-Ả Rập là loại chữ số được sử dụng rộng rãi, nhưng
chữ số Sino-Nhật cổ cũng có một vị trí đáng ghi nhận.
Ý thức về cái đẹp của người Nhật :
“Wabi- Sabi” là những từ luôn xuất hiện khi bàn về ý thức đối với cái đẹp của người
Nhật. “Wabi” là từ chỉ sự “mộc mạc”, còn “Sabi” lại mang ý nghĩa thể hiện sự tĩnh lặng,
thanh tịnh. Nói chung, người Nhật không quen với những thứ lòe loẹt, nhiều màu sắc, hay
những việc ầm ĩ gây xôn xao, và họ cũng không thấy như thế là đẹp.
Bên cạnh đó, những dạng thức mang tính hình học cũng không phù hợp với sở thích
của người Nhật. Đối với người Nhật, vẻ đẹp mà họ cảm nhận được là vẻ đẹp ẩn chứa trong
Tokyo
Nguồn gốc các Samurai:
Đầu thời Heian (Bình An thời đại) - cuối thế kỷ thứ 8 và đầu thế kỷ thứ 9, với tham vọng
bành trướng lãnh thổ về phía Bắc Honshū để củng cố quyền lực, Thiên hoàng Kammu (Hoàn
Vũ Thiên hoàng) đã cho quân đến đàn áp phiến quân Emishi nhưng đội quân của ông thất thủ
do thiếu kỷ luật và ý chí chiến đấu. Vì vậy, Thiên hoàng Kammu bắt đầu dựa dẫm vào các thế
lực địa phương và chiêu dụ họ, phong cho chức Seiitaishogun (Chinh di Đại tướng quân) hay
gọi tắt là shogun (tướng quân). Với đội quân tinh thông về cưỡi ngựa và bắn cung (kyudo -
Cung đạo), các thế lực này trở thành công cụ đắc lực để đàn áp quân nổi loạn cho Thiên
hoàng. Dù các võ sĩ này ít nhiều đều được học hành nhưng lúc bấy giờ (thế kỷ thứ 7 đến thế
kỷ thứ 9) trong mắt triều đình Thiên hoàng họ chỉ là những võ phu thô lỗ thất học không hơn
không kém.
Cứ như vậy, cuối cùng, Thiên hoàng Kammu đã giải tán quân đội triều đình, từ đó thế lực của
Thiên hoàng từng bước một suy sụp. Trong khi Thiên hoàng vẫn còn cai trị, các thị tộc ở
Kyoto (Kinh Đô) đã nắm trong tay một số chức vụ quan trọng như bộ trưởng, còn những
người thân của họ dùng tiền mua lấy các chức quan trong tòa án. Để vơ vét của cải làm giàu
và trả nợ cho mình, các quan tòa này thường xuyên đánh thuế nặng nề, khiến cho nhiều nhà
nông mất hết ruộng đất. Trước sự đe dọa của nạn trộm cướp ngày càng tăng, các thị tộc bắt
đầu tuyển mộ những người tha hương trên vùng đồng bằng Kanto, huấn luyện họ kỹ càng về
võ thuật và đào tạo họ trở thành đội ngũ lính canh rất thiện chiến. Một số người có nhiệm vụ
- 13 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
hộ tống các quan thu thuế, và chỉ sự hiện diện của họ thôi cũng đủ cho vị quan thu thuế này an
toàn trước bọn trộm cướp. Họ được gọi là những "samurai", hay những thị vệ có vũ trang,
nhưng lực lượng đầy tớ này nhanh chóng trở thành một thế lực vũ trang độc quyền. Thông
qua những hợp đồng bảo vệ và các cuộc hôn nhân vì mục đích chính trị, họ dần dần giành
được thế lực trong giới chính trị, và cuối cùng còn qua mặt cả giai cấp quý tộc truyền thống.
Một số thị tộc ban đầu chỉ là những nông dân. Họ đã cầm vũ khí vùng lên để bảo vệ chính
mình và chống lại các quan do chính quyền phong kiến cử đến cai quản nơi họ sống và thực
thừa kế cho thế hệ sau (theo kiểu cha truyền con nối) để tiếp tục lãnh đạo quý tộc địa phương
đàn áp các cuộc nổi loạn trên khắp nước Nhật vào khoảng giữa và cuối thời Heian.
Võ sĩ đánh nhau trong trận Dan-no-Ura năm 1185
Nhờ binh lực hùng mạnh và tài lực vững chắc, đội quân của các quý tộc sau cùng đã trở thành
một thế lực quân đội mới của triều đình. Quyền lực của họ đã được củng cố vững chắc sau
cuộc nổi loạn Hōgen vào cuối thời Heian; và cũng từ đó mà dẫn đến hậu quả là sự đối đầu của
hai gia tộc thù địch nhau Minamoto và Taira, trong cuộc nổi dậy Heiji vào năm 1160.
Sau nhiều chiến thắng vang dội, tướng Taira no Kiyomori trở thành chiến binh đầu tiên vươn
tới chức Thiên hoàng quân sư, thậm chí nắm trong tay chính quyền trung ương, lập ra chính
quyền thống trị samurai đầu tiên và biến Thiên hoàng thành một đấng quân vương bù nhìn.
Dù vậy, dòng họ Taira vẫn tỏ ra khoan hòa, thận trọng trong quan hệ với dòng họ Minamoto;
thay vì mở rộng và củng cố quân đội của mình, dòng họ Taira đã áp dụng chiêu "mỹ nhân kế",
đưa những phụ nữ trong gia tộc tiến cung và lợi dụng họ giành lấy quyền hành từ tay Thiên
hoàng.
Hai dòng họ Taira-Minamoto lại tiếp tục đối đầu nhau vào năm 1180 với chiến tranh Genpei
và kéo dài đến năm 1185. Chiến thắng của Minamoto no Yoritomo đã cho thấy sự thất bại của
quý tộc trước các chiến binh samurai. Năm 1190 Yoritomo đến Kyoto; năm 1192 trở thành
Seii Taishogun (chính dị đại tướng quân), thành lập chế độ Mạc phủ Kamakura Mạc phủ
Kamakura hay Kamakura Bokufu, dời đô từ Kyoto về Kamakura, gần căn cứ quân đội của
ông. Bakufu có nghĩa là "chính quyền lều trại", bởi hiện thời chính quyền mang tính chất là
chính quyền quân sự và quân đội đều sống trong các khu lều trại.
- 15 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
Thời gian qua đi, dòng dõi samurai trở thành các chiến binh quý tộc (buke), trên danh nghĩa
chỉ thuộc quyền cai quản của quý tộc triều đình. Khi các samurai bắt đầu học các thú tiêu
khiển theo kiểu quý tộc như thư đạo, thi ca... thì các nhà quý tộc, ngược lại, bắt đầu sống theo
kiểu samurai. Trải qua hàng loạt mưu đồ và những thời đại trị vì ngắn ngủi của các vị hoàng
đế khác nhau, quyền lực thật sự giờ đây nằm trong tay các shogun và các samurai.
Mạc phủ Ashikaga và thời phong kiến
nước của họ thuộc về thần thánh và được bảo vệ bởi các thế lực siêu nhiên.
Thế kỷ 14, một thợ rèn tên là Masamune đã cải tiến kết cấu hai lớp của thép mềm và thép
cứng dùng trong việc rèn kiếm, giúp nâng cao lực cắt và tính bền. Kỹ thuật mới này đã giúp
cho thanh kiếm Nhật Katana trở thành một trong những khí giới lợi hại nhất của thời kì tiền
công nghiệp ở Đông Á. Nhiều thanh kiếm được xuất khẩu xuyên Đông Hải, một số được đưa
đến tận Ấn Độ xa xôi.
Việc anh em trong nhà hãm hại lẫn nhau, giành địa vị con trưởng để thừa kế tài sản thường
xuyên xảy ra ở thời kì này, trái hẳn với các điều luật trước thế kỷ 14, quy định tài sản thừa kế
được chia theo công trạng của mỗi nguời. Các cuộc xâm lấn địa phận và xung đột, tranh cãi
giữa các samurai xảy ra liên miên, trở thành một vấn đề đáng lo ngại suốt thời Mạc phủ
Kamakura và Mạc phủ Ashikaga.
Thời kì Chiến quốc (Sengoku jidai) đánh dấu sự nới lỏng về đạo đức trong văn hóa samurai.
Các tầng lớp xã hội khác thi nhau gắn lên mình cái mác võ sĩ và ung dung được mọi người
kính trọng dưới tư cách một samurai. Vì vậy, tinh thần Võ sĩ đạo (bushido)trở thành một nhân
tố quan trọng trong việc cải quản và ổn định xã hội trong thời kì hỗn loạn này.
Các chiến lược và trình độ kỹ thuật của Nhật phát triển rất nhanh vào thế kỉ 15 và thế kỉ 16.
Quân đội chủ yếu là bộ binh có tên gọi là ashigaru ("túc khinh", do chiến bào của họ rất nhẹ),
gồm những võ sĩ có địa vị thấp kém và dân thường, được trang bị bằng giáo dài (nagayari)
hay Naginata, phối hợp với kỵ binh tinh nhuệ. Số quân được huy động cho chiến sự dao động
từ hàng ngàn đến hàng chục vạn người.
- 17 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
Áo giáp samurai của người Nanban ở phía Tây Nhật Bản, thế kỉ
16
Súng hỏa mai, một dạng của súng trường, ban đầu được người Tây
Ban Nha mang đến trên một chiếc thuyền hải tặc của Trung Quốc vào năm 1543, và người
Nhật Bản đã chế tạo được nó thành công trong vòng chưa đến 1 thập kỉ. Kể từ đó, các nhóm
sản xuất súng hỏa mai đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong quân đội.
Cuối thời phong kiến, nước Nhật sở hữu hàng trăm ngàn khẩu súng ngắn và quân số khổng lồ
được Nobunaga trọng dụng; còn Ieyasu là bạn cùng lớn lên với Nobunaga từ thời thơ ấu.
Hideyoshi đã đánh bại kẻ phản bội Mitsuhide chỉ trong vòng một tháng và trở thành người kế
tục sự nghiệp của chủ soái Nobunaga.
Cả hai người đều có phần trong các chiến công của Nobunaga trước đó và đã tiếp nối sự
nghiệp thống nhất Nhật Bản của Nobunaga. Người xưa có câu: "Thống nhất Nhật Bản là một
cái bánh gạo. Oda làm bánh, Hashiba nặn bánh. Cuối cùng chỉ Ieyashu được ăn bánh"
(Toyotomi Hideyoshi theo họ Hashiba khi còn là thuộc hạ của Nobunaga).
Huyền thoại và sự thật
Phần lớn samurai (trong thời kỳ Edo) gắn liền với quy tắc danh dự gọi là võ sĩ đạo, và luôn là
những người làm gương cho cấp dưới. Một phần đáng chú ý của quy tắc võ sĩ đạo là luật tự
mổ bụng hay còn gọi là harakiri, cho phép một samurai bị hạ nhục phục hồi danh dự cho mình
bằng cái chết, nơi samurai vẫn còn chịu ơn nguyên tắc Võ sĩ đạo. Tuy nhiên, quy tắc Võ sĩ
đạo được viết ra trong thời bình và đã không phản ánh trung thực tính chất chiến binh của một
samurai. Trong khi vẫn tồn tại những cách hành xử của samurai mang tính chất huyền thoại,
- 19 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
những nghiên cứu về Võ gậy Nhật Bản và Võ đạo Nhật Bản đã cho thấy trên chiến trường,
samurai cũng là những chiến binh như bao chiến binh khác.
Mặc dù được gắn với quy tắc Võ sĩ đạo, trên thực tế, samurai vẫn có những người không
trung thành và phản bội (như Akechi Mitsuhide), hèn nhát, dũng cảm, hoặc quá trung thành
(như Kusunoki Masashige). Samurai thường trung thành đối với cấp trên trực tiếp của họ,
những người sẽ gắn liền lòng trung thành với những lãnh chúa cao hơn. Tuy nhiên, cũng có
những trường hợp samurai sẽ bất trung với lãnh chúa hoặc đại lãnh chúa, khi lòng trung thành
đối với Thiên Hoàng cao cả hơn.
Một khả năng huyền thoại của samurai là Song đấu Tâm lý (Duel of Wills), một kỹ thuật tâm
lý để kiểm tra sức mạnh tinh thần của kẻ địch mà không phải đánh nhau. Hai người tham
chiến (phải cùng là samurai, hoặc ở đẳng cấp ngang nhau) nhìn chằm vào nhau, không chớp
mắt trong yên lặng, không cử động cơ thể, cho đến khi một trong hai phải thất bại.
Trà đạo(Sado)
Vào thế kỷ thứ 8 - 14 trà bắt đầu được sử dụng phổ biến trong tầng lớp quý tộc.
Lúc đó có các cuộc thi đấu đoán tên trà. Văn hóa uống trà giai đoạn đó giống như những
trò chơi xa xỉ và các người quý tộc rất thích dụng cụ uống trà Trung Quốc.
Trong hoàn cảnh như vậy, có một nhà sư tên là Murata Juko tìm thấy vẻ đẹp
giản dị trong văn hóa uống trà. Ông đến với trà với tư cách là một nhà sư, rất coi trọng
cuộc sống tinh thần. Trà đạo ra đời như thế.
Juko yêu cái đẹp "wabi" và "sabi".
Tuy nhiên, trà đạo vẫn còn chưa được nhiều người biết đến, người kế nghiệp tiếp
theo là Takeno Jyoo.
Jyoo quan niệm: "Mặc dù xung quanh chúng ta chẳng có gì cả: không hoa,
không lá; nhưng có cảnh hoàng hôn chiều tà với một mái nhà tranh."
Giai đoạn 2
Sau thời Jyoo thế kỷ 16 là Senno Rikyu. Ông mới là người đưa ra bước ngoặt
quan trọng, tạo nên một nền văn hóa trà đạo trong giới võ sĩ (samurai). Senno Rikyu đã
là thày dạy trà đạo cho Oda Nobunaga (Shogun - người đứng đầu giới võ sĩ) của thời
Azuchi. Sau khi Oda Nobunaga chết, Toyotomi Hideyoshi lên (thời Momoyama) thì
Senno Rikyu tiếp tục dạy cho ông này. Như vậy, hoạt động của Senno Rikyu khá phổ
biến và có ảnh hưởng sâu rộng trong tầng lớp võ sĩ, ảnh hưởng mạnh đến chính trị thời
đó.
Cùng thời với Senrikyu, còn có Yabunnouchi Jyochi, cũng là học trò của Takeno
Jyoo. Yabunouchi Jyochi là trà sư của chùa Honganji, ngôi chùa lớn nhất ở Nhật Bản.
Yabunouchi chú trọng vào việc thực hành Trà đạo ở chính bản thân mỗi người.
- 21 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
Ngoài ra còn có nhiều trà nhân khác nữa. Mỗi trà nhân đều pha trà theo cách
riêng của mình. Nếu các phái khác nhau cũng chỉ khác nhau ở trên bề mặt nghi thức
pha trà, còn đạo là duy nhất.
Giai đoạn 3
Trà đạo trong thời hội nhập
phòng hay đặt dưới bức tranh trong phòng. Nó có tác dụng làm cho căn phòng thêm
sinh động, tạo cảm giác thoải mái, gần gũi với thiên nhiên cho người tham gia. Lư trầm:
Được đặt ở góc phòng hay dưới bức tranh hoặc giữa phòng. Nhưng thường lư trầm
được đặt ở góc phòng. Trầm hương có tác dụng làm cho căn phòng có được mùi hương
thoang thoảng phảng phất nhẹ nhàng, khiến cho mọi người được thư giãn tinh thần,
thoải mái dễ chịu. Các đạo cụ trên được xếp rất gọn gàng, không chiếm diện tích của
phòng trà, tạo sự cân bằng, hòa hợp theo phong thủy.
Cách bày trí đạo cụ trong Trà Viên:
Hoa, Lư Trầm: Thường được đặt ở giữa chỗ ngồi họp nhóm của những người
tham gia. Trong vườn thì có các loài cây như: Hoa anh đào, hoa mai, hoa mơ, tùng, liễu.
Những loài cây này dễ tạo cảm hứng thi phú cho người xem trong quá trình đàm Đạo,
đối ẩm. Bên cạnh đó là các hòn non bộ, những tảng đá lớn, chậu nước cũng được sắp
xếp theo bố cục chặt chẽ, thể hiện sự cân đối Âm – Dương trong phong thủy.
Những đạo cụ dùng trong việc pha chế và thưởng thức trà:
Trà: Tùy theo hệ phái nào mà trà được sử dụng cũng có nhiều sự khác biệt. Hệ
phái sử dụng trà bột: thường dùng loại trà có màu xanh tươi, được phơi khô và xay
nhuyễn thành bột. Khi uống thì bột trà được hòa tan và uống hết. Hệ phái sử dụng trà
nguyên lá, chỉ lấy nước tinh chất từ lá trà, bỏ xác, thường sử dụng loại trà cho nước màu
vàng tươi, hay màu xanh nhẹ. Lá trà được phơi khô, pha chế trong bình trà, lấy tinh
chất, bỏ xác.
Phụ liệu: Ngoài nguyên liệu chính là trà bột hay trà lá, người pha chế còn cho
thêm một số thảo dược, các loại củ quả phơi khô, đậu để làm tăng thêm hương vị cho
chén trà, hay quan trọng hơn là mang tính trị liệu, rất có lợi cho sức khỏe, giúp người
bệnh mau hồi phục thể chất lẫn tinh thần.
Nước pha trà: Thường là nước suối, nước mưa hay nước đã qua khâu tinh lọc.
Ấm nước: Đun nước cho sôi lên để pha trà.
Lò nhỏ: Một cái bếp lò nhỏ đủ để chiếc ấm lên.
Chén trà: Để đựng trà cho khách thưởng thức.
Hủ, lọ đựng trà: Chiếc hủ này cũng được trang trí rất đẹp, tăng tính thẩm mỹ và
làm cho trà đựng bên trong tăng thêm giá trị.
được cắm theo hình núi Sumeru, một ngọn núi huyền thoại của thế giới nhà Phật tượng
trưng cho toàn vũ trụ. Các vật liệu được sử dụng cho lối cắm hoa này đều có tính tượng
trưng. Phong cách này đạt tới độ hoàng kim vào thế kỷ XVII, nay không còn phổ biến
nữa.
Từ thế kỷ thứ XV xuất hiện lối cắm hoa tự nhiên.
Các ngôi nhà dù nhỏ đều có kotonoma- một không
gian nhỏ thụt vào của căn phòng để đặt các đồ mỹ
- 24 -
Nhật Bản_ Giao tiếp _ Kinh doanh với người Nhật.
nghệ hay để cắm hoa. Các luật lệ cắm hoa theo đó trở nên giản đơn để mọi người đều có
thể thưởng thức được. Cuối thể kỷ XVI có lối cắm hoa tự nhiên gọi là nageire (quăng
vào) như là một phần của nghi lễ trà đạo. Hoa được sử dụng trong trà đạo được gọi là
chabana (trà hoa), chỉ cần một bông hoa trong một bình hoa tạo nên cảm giác giản dị,
thuần khiết, thanh tao. Cắm hoa hiện đại mang ảnh hưởng nhiều của văn hoá phương
Tây. Phong cách cắm hoa moribana (một rừng hoa) đã mở đường tự do cho nghệ thuật
cắm hoa, tìm cách thu nhỏ một phong cảnh hay một mảnh vườn. Đó là phong cách cắm
hoa có thể thưởng thức được ở bất cứ đâu và thích hợp với mọi khung cảnh. Ngày nay ở
Nhật Bản có khoảng 3000 trường phái ikebana, trong số đó 3 trường phái có tiếng nhất
là Ikenobò, Ohara và Sògetsu
Rất nhiều người phụ nữ ở Nhật tham gia học nghệ thuật Ikebana để trở thành người
phụ nữ quyến rũ và tài năng, Ngày nay Ikebana được sử dụng rộng rãi ở Nhật và toàn thế giới.
Hội họa và điêu khắc :
Tranh vẽ :
Tranh vẽ là một loại hình nghệ thuật lâu đời ở
Nhật Bản : bút lông là một loại dụng cụ viết
chữ truyền thống và hơn nữa nó được nhiều
hoạ sĩ sử dụng một cách tự nhiên. Công nghệ
vẽ tranh cổ truyền của người Nhật vẫn còn
được sử dụng cho đến ngày nay, bên cạnh