TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN NHAN TRUNG NGHĨA NGHIÊN CỨU TUỔI THÀNH THỤC VÀ THỬ NGHIỆM
SINH SẢN LƯƠN ĐỒNG (Monopterus albus Zuiew, 1793)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGs. Ts. NGUYỄN ANH TUẤN
Ts. ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG
2010
i
LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Sóc Trăng, Sở Nội Vụ
ii
TÓM TẮT
Đề tài gồm 3 thí nghiệm: theo dõi tuổi thành thục của lươn đồng; thử
nghiệm sinh sản lươn đồng với nguồn bố mẹ không được nuôi vỗ thành thục
và thử nghiệm sinh sản lươn đồng với nguồn bố mẹ được nuôi vỗ thành thục.
Lươn 5 và 6 tháng tuổi được nuôi trong bể 200 lít để theo dõi tuổi thành thục.
Kết quả cho thấy lươn đồng thành thục ở giai đoạn 10 tháng tuổi. Hàm lượng
vitellines tăng nhanh trong giai đoạn lươn đồng 9-10 tháng tuổi từ 1,67
(µgALP/mg protein) lên 2,72 (µgALP/mg protein). Ở lươn đồng 10 tháng tuổi
có tỷ lệ thành thục là 18,2% và hệ số thành thục cao nhất là 1,04%.
Thử nghiệm sinh sản lươn đồng với nguồn bố mẹ không được nuôi vỗ
thành thục gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lập lại 6 lần bao gồm:
Nghiệm thức (1): đối chứng, (2): tiêm HCG, (3): tiêm LHRH-a. Lươn được bố
trí vào bể xanh 500 lít, có mô đất và lục bình làm giá thể, mỗi bể bố trí 1 cặp
lươn bố mẹ. Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh sản cao nhất ở nghiệm thức 3 (50%),
nghiệm thức đối chứng và HCG đều ở mức 33,3%. Thời gian tái sinh sản của
lươn đồng trung bình là
11,2
ngày (nghiệm thức 1). Tỷ suất lợi nhuận của thí
nghiệm 2 là -0,51.
Ở thử nghiệm sinh sản lươn đồng với nguồn bố mẹ được nuôi vỗ thành
thục, nguồn lươn được nuôi vỗ 4 tuần, tiêm HCG vào đầu mỗi tuần để kích
thích lươn thành thục. Sau đó bố trí tương tự thí nghiệm 2. Kết quả cho thấy tỷ
lệ sinh sản cao nhất ở nghiệm thức 2 (83,3%), tiếp theo là nghiệm thức 3
(66,7%) và thấp nhất là nghiệm thức đối chứng (50%). Thời gian tái sinh sản
của lươn đồng trung bình từ 10,6-13,9 ngày, thấp nhất là 3 ngày. Tỷ suất lợi
was -0.51.
In reproductive experiment for the swarm eels with rearing broodstock,
ricefield eels were reared broodstock in four weeks, the eels were injected
HCG at beginning each of weeks to stimulate eels maturation. Then three
treatments were arranged similarly as the second experiment. Results showed
the highest fertility rate in the treatment 2 (83.3%), followed by treatment 3
(66.7%) and the least one in control treatment (50%). The average time of eel
reproduction was from 10.6 to 13.9 days, the lowest time was 3 days. The
profit rate of the experiment 3 was 3.4.
iv
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được thực hiện dựa trên kết quả nghiên
cứu của tôi, các kết quả
nghiên
cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn
cùng cấp nào. Nghiên cứu này được thực hiện là một phần nội dung của Đề án
Enreca số 104.Dan.8.L.207 (physCAM) “Nghiên cứu và Đào tạo về Sinh lý
động vật Thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long”. Đề án hoàn toàn có quyền
sử dụng số liệu này.
CAM KẾT KẾT QUẢ IV
MỤC LỤC V
DANH SÁCH BẢNG VII
DANH SÁCH HÌNH VIII
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT IX
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Nội dung của đề tài 2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài: 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học 3
2.1.1 Hệ thống phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3 Hình thái cấu tạo 4
2.2 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng 5
2.2.1 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng 5
3.3 Vật liệu nghiên cứu 13
3.4 Bố trí thí nghiệm 13
3.4.1 Xác định tuổi thành thục của lươn (thí nghiệm 1) 13
3.4.2 Thử nghiệm sinh sản lươn đồng với nguồn bố mẹ được nuôi vỗ thành
thục (thí nghiệm 2) 155
3.4.3 Thử nghiệm sinh sản lươn đồng với nguồn bố mẹ không qua nuôi vỗ
thành thục (thí nghiệm 3) 177
3.5. Phương pháp phân tích Vitellines 188
3.6. Phương pháp mô học 211
3.7. Xử lý số liệu 222
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 233
4.1. Xác định tuổi thành thục của lươn 233
4.1.1. Các yếu tố môi trường 233
4.1.2. Tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của lươn đồng 24
4.1.3. Giai đoạn thành thục của lươn đồng 255
4.1.4. Hàm lượng vitellines trong huyết tương 288
vii
DANH SÁCH BẢNG Bảng 3.1. Các bước phân tích protein 19
Bảng 3.2. Các bước phân tích phosphor 21
Bảng 4.1. Các yếu tố môi trường 23
Bảng 4.2. Tăng trưởng về khối lượng của lươn đồng 24
Bảng 4.3. Tăng trưởng về chiều dài của lươn đồng 25
Bảng 4.4. Hệ số thành thục của lươn đồng 26
Bảng 4.5. Các yếu tố môi trường 31
Bảng 4.6. Tỷ lệ thụ tinh của lươn đồng ở các thí nghiệm 34
Bảng 4.7. Tỷ lệ nở của lươn đồng ở các thí nghiệm 35
khác nhau ở thí nghiệm 2 và thí nghiệm 3 32
Hình 4.9: Tổ bọt của lươn 33
Hình 4.10: Trứng lươn 33
Hình 4.11: Trứng lươn sắp nở 343
Hình 4.12: Lươn con mới nở 343
Hình 4.13: Lươn giống 1 tuần tuổi 35
Hình 4.14: Lươn giống 1 tháng tuổi 35
Hình 4.15: Tỷ lệ sống của lươn bột của các nghiệm thức khác nhau
ở thí nghiệm 2 và thí nghiệm 3 365
Hình 4.16: Tỷ suất lợi nhuận của các nghiệm thức ở thí nghiệm 3 39
Á là một trong những vùng nuôi lươn quan trọng (Lee và Degani, 2000). Lươn
đồng (Monopterus albus) là loài có giá trị dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon, rất
được ưa chuộng trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra thịt lươn
còn chứa nhiều DHA, EPA, vitamin B1, B2 có tác dụng bồi bổ sức khỏe, tăng
trí thông minh, hạn chế các khối u, chống viêm (Nguyễn Chung, 2008). Theo
Razak và ctv (2001), hàm lượng arachidonic acid là 10,17% và DHA chiếm
7,16% lipid cơ thể.
Trung Quốc, Singapore, Hồng Công, Nhật Bản, có nhu cầu tiêu thụ
lươn rất lớn. Mặt dù họ đã chú trọng phát triển đối tượng này nhưng vẫn
không đáp ứng được nhu cầu của thị trường nên phải nhập khẩu từ nhiều nước
khác, chủ yếu là các nước Đông Nam Á. Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu
lươn sống sang Trung Quốc, lươn đông lạnh và tẩm dầu hun khói sang các
nước Singapore, Hồng Công, Nhật Bản, Úc, Mỹ, EU…, tuy nhiên số lượng rất
hạn chế và giảm dần do nguồn hoan dã bị cạn kiệt (Nguyễn Chung, 2008).
Ở Việt Nam lươn đồng (Monopterus albus) phân bố rất rộng trong tự
nhiên do có đặc tính sinh lý, sinh thái phù hợp với điều kiện khí hậu của vùng.
Từ lâu, đối tượng này được người dân nuôi phổ biến với nhiều mô hình khác
nhau. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, lươn đồng (Monopterus albus) đang được
nuôi bước đầu đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao (Đỗ Thị Thanh Hương và
ctv, 2008). Lươn là đối tượng rất kinh tế có tiềm năng phát triển nghề nuôi
theo quy mô công nghiệp để cải thiện đời giống người dân cũng như quy
hoạch phát triển đại trà. Tuy nhiên, khả năng cung cấp giống đang là rào cản
2
chính làm trì hoãn sự phát triển của nghề nuôi, do đó nghiên cứu sản xuất
giống nhân tạo là một nhu cầu lớn, cấp thiết. Hiện nay, trên thế giới và Việt
Nam những nghiên cứu về lươn đồng còn rất ít. Nghiên cứu về sản xuất giống
nhân tạo cũng được thực hiện và cho kết quả khả quan như: nghiên cứu đặc
điểm sinh lý sinh sản và thử nghiệm sản xuất giống lươn đồng (Nguyễn Thị
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học
2.1.1 Hệ thống phân loại
Theo Fishbase.org (2005) lươn đồng được phân loại như sau:
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Synbranchiformes
Họ: Synbranchidae
Họ phụ: Neoterygii
Loài: Monopterus albus (Zwiew, 1973)
Hình 2.1: Hình thái bên ngoài lươn đồng (Monopterus albus, Zuiew, 1793)
2.1.2 Phân bố
Lươn đồng có tên tiếng Anh là Rice Eel hay Asian Swanp Eel, phân bố
rất rộng từ Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên đến Châu Phi, Châu Úc, Trung
và Bắc Mỹ, xuất hiện nhiều ở Hawaii, Florida và Georgi. Ở các nước Đông
Nam Á, lươn có rất nhiều ở Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Campuchia
(Nguyễn Chung, 2008). Chúng không phân bố ở Philippines và New Guinea
nhưng được tìm thấy ở Sulewesi (Celebes) (Rosen và Greenwood, 1976).
Lươn đồng đã tìm thấy ở những con sông từ lớn đến trung bình, ruộng ngập lũ,
nơi nước tù động và cả những kênh nước chảy chậm (Taki, 1978). Lươn phân
bố rộng trong nhiều loại hình thủy vực như ao đầm, kênh gạch, ruộng lúa
(Shil, 1940; Davidson, 1975), có khả năng chịu đựng được môi trường khô
hạn bằng cách chui rút vào đất ẩm và sống ở đây cho đến hết mùa khô (Liem,
1987). Lươn sống dưới đáy, chui rút dưới bùn và đào hang trong đất nhưng độ
4
Khoa và Trần thị Thu Hương (1993) lươn có thân dài, phần trước tiết diện
tròn, phần sau dẹp bên và mỏng. Đường bên phát triển và rất rỏ (Jayaram,
1981).
Đầu hơi dẹp bên, mõm nhỏ, ngắn, không có râu. Mắt nhỏ, hình bầu
dục, được da che phủ, nằm gần chót mõm. Phần trán giữa hai mắt hẹp và cong
lồi. Khe mang lệch xuống mặt bụng, hai khe mang hai bên dính nhau thành
một, có dạng hình chữ V, nhưng ở phía trong dính với eo mang.
Lươn đồng ít khi dài hơn 70 cm, chủ yếu trong khoảng 25-40 cm
(Smith, 1945), một số trường hợp có thể dài hơn 1 m (Rainboth, 1996). Theo
Kottelet (1999), lươn đồng không có vi ngực và vi bụng, vi hậu môn vi đuôi
và vi lưng dính liền nhau, lỗ mang kết hợp thành khe bên dưới đầu, cơ thể có
màu đỏ nâu với một ít vết ngang lưng, miệng rộng mắt nhỏ. Xoang hầu có cấu
tạo đặc biệt gọi là bọng hầu cho phép lươn lấy oxy qua cơ quan này bên cạnh
mang và da (Nguyễn Chung, 2008).
5
2.2 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
2.2.1 Đặc điểm dinh dưỡng
Lươn là loài ăn thịt (Bricking, 2002), chủ yếu vào ban đêm (Yamamoto,
2000). Khảo sát hệ tiêu hóa của lươn cho thấy thức ăn phần lớn là tép, cá và
cua, chỉ số LRG là 0,65 (Lý Văn Khánh 2008). Lượng thức ăn trong ngày
không quá 8% trọng lượng cơ thể. Khi còn nhỏ ăn sinh vật phù du, côn trùng
bọ gậy, ấu trùng chuồn chuồn, đôi khi ăn thực vật như rể lúa, tảo sợi. Lươn
đồng có tính lựa chọn thức ăn rất cao (Minh Dũng, 2005), khi lớn trên 15 cm,
lươn ăn chủ yếu là thức ăn động vật như cá, tôm con, côn trùng, ốc, hến, nòng
nọc, ếch nhái, giun ốc và những động vật trên cạn gần mép nước, giun,
dế…khi thiếu thức ăn có thể ăn rau bèo, mảnh vụn thực vật ngay cả ăn nhau.
Lươn tìm thức ăn chủ yếu dựa vào khứu giác, vào mùa sinh sản lươn hầu như
Khánh và ctv (2008), mùa vụ sinh sản của lươn đồng tập trung vào tháng 3-9
hàng năm, hệ số thành thục cao nhất vào tháng 3 là 6,74%.
Lươn làm tổ đẻ nơi đất sét pha thịt thường ven bờ ruộng, kênh mương,
bờ ao, bưng trũng. Sau khi bắt cặp, lươn đực sẽ đào hang thường có hình chữ
“U”, cao hơn mặt nước 5-10 cm và một hang thường có 3 ngách: ngách chính
nằm sâu dưới bùn, lươn sống và sinh sản tại đây; ngách phụ thứ nhất từ trên
bờ xuống tạo thành chữ “U”; ngách phụ còn lại để thông không khí cho lươn
thở. Lươn đực phun đầy bọt tạo ra những tổ dạng bong bóng trong vùng nước
cạn gần khu vực hang. Tổ không dính vào thực vật thủy sinh mà trôi thoải mái
ở bề mặt (Nguyễn Chung, 2008). Lươn cái đến đẻ lên đám bọt đó, lươn đực và
lươn cái cùng chăm sóc, bảo vệ trứng (Sadovy và Shapiro, 1987).
2.3.2 Tỷ lệ giới tính và sức sinh sản
Lươn đồng là loài lưỡng tính, tính cái xuất hiện trước, đời sống sinh sản
của nó thường trải qua 3 phase: cái, lưỡng tính, đực (Nguyễn Tường Anh,
1999). Lươn có sự chuyển đổi tự nhiên từ cái sang đực (Chan và Phillips,
1967). Tuyến sinh dục của lươn không đối xứng, bên trái phát triển còn bên
phải thoái hóa (Ngô Trọng Lư, 2002). Lươn có chiều dài nhỏ hơn 30 cm đa số
là lươn cái, tỉ lệ giới tính đực chiếm đa số với chiều dài lớn hơn 50 cm, trong
khoảng 30-50 cm có cả 3 pha đực, cái và lưỡng tính (Phan Thị Thanh Vân,
2006). Theo Đức Hiệp (1999), lươn có chiều dài từ 35-50 cm tính cái chiếm
60%, 40% là tính đực, với chiều dài 47-59 cm tính cái chiếm 30%, với chiều
dài 66-75 cm hoàn toàn là lươn đực. Tuyến sinh dục của lươn ở pha lưỡng tính
có cả tinh và trứng ở các giai đoạn I, II, III, rất ít trường hợp có trứng ở giai
đoạn IV và V (Phan Thị Thanh Vân, 2006). Ở nhóm chiều dài từ 30-40 cm có
hệ số thành thục cao nhất đạt 9,12% (Lý Văn Khánh và ctv, 2008).
Ở cá chình Nhật Bản (Anguilla japonica) tỷ lệ đực cái là 4:6 trong điều
kiện tự nhiên, trong ao nuôi tỷ lệ này 8 hay 9:1. Sự biến động về tỷ lệ giới tính
cũng diễn ra trên một số loài cá khác như: cá chẻm (Lates calcarifer Bloch),
giai đoạn nhỏ đực chiếm đa số, giai đoạn lớn cái chiếm đa số (Kungvankij và
ctv, 1986); cá chạch sông (Macrognathus siamensis) giai đoạn nhỏ cái chiếm
hàm lượng 17β-estradiol cao nhất là 0,95 ng/ml, hàm lượng 17β-estradiol có
xu hướng giảm ở lươn lưỡng tính (Phan Thị Thanh Vân, 2006). Điều này cho
thấy androgen và một số hormon steroid có vai trò quan trọng trong sự chuyển
giới tính của lươn. Bên cạnh đó, melatonin cũng có vai trò quan trọng trong sự
chuyển giới tính của lươn đồng, vào mùa sinh sản lượng melatonin tăng sau
khi đẻ nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giới tính (Sadovy và Shapiro, 1987).
3.3.4 Sự phát triển của noãn sào
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2008), sự phát triển của noãn bào thường chia
thành 6 giai đoạn trong đó giai đoạn I chỉ gặp ở những cá thể mới thành thục
lần đầu.
Giai đoạn I: Buồng trứng rất nhỏ, tế bào sinh dục là những noãn nguyên
bào.
8
Giai đoạn II: Buồng trứng lớn hơn rất nhiều so với giai đoạn I do mô
liên kết đang phát triển. Đa số tế bào ở thời kỳ sinh trưởng sinh chất.
Giai đoạn III: Thể tích buồng trứng tăng lên rất nhanh, có thể phân biệt
tế bào trứng bằng mắt thường nhưng khó tách tế bào trứng ra khỏi tấm trứng.
Ở giai đoạn này, quá trình tích lũy noãn hoàng diễn ra mạnh mẻ, trong noãn
bào xuất hiện không bào, bên ngoài xuất hiện vỏ tế bào và lớp vân phóng xạ.
Nếu cá đẻ trứng dính thì màng dính cũng được hình thành.
Giai đoạn IV: thể tích buồng trứng có thể chiếm 2/3 thể tích xoang
bụng. Hạt trứng tròn căng dễ tách khỏi tấm trứng. Đây là giai đoạn hoàn thành
tích lũy noãn hoàng, nhân di chuyển về lỗ thụ tinh (noãn khổng).
Giai đoạn V: Buồng trứng đang trong tình trạng sinh sản, đại đa số tế
bào trứng đã chín và rụng.
Giai đoạn VI: Buồng trứng đã đẻ xong trở nên mềm nhão và teo nhỏ lại,
quá trình thoái hóa xảy ra. Kết thúc quá trình thoái hóa, buồng trứng sẽ trở về
giai đoạn II hoặc III.
thủy sản (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009), thức ăn không
những là nguồn cung cấp vật chất dinh dưỡng cho sự sinh trưởng mà còn là
nguyên liệu cho sự tạo thành sản phẩm sinh dục (Nguyễn Văn Kiểm, 2008).
Nếu để cá bị đói trong giai đoạn thành thục thì hệ số thành thục thấp hoặc
không thành thục, hoặc buồng trứng có thể thoái hóa hoặc tiêu biến dù cho các
yếu tố khác thuận lợi (Nguyễn Tường Anh, 1999).
Thức ăn cung cấp phải phù hợp với đặc tính dinh dưỡng của loài,
những loài sử dụng động vật làm thức ăn thì hàm lượng protein phải cao. Mặt
khác thức ăn của loài cũng có vai trò quan trọng đối với sự thành thục sinh
dục. Khi nuôi cá sinh sản trong ao thì vấn đền dinh dưỡng cần đặt lên hàng
đầu đặc biệt là thức ăn của loài cần phải đầy đủ (Nguyễn Văn Kiểm, 2008).
Khi cá được cung cấp đầy đủ thức ăn ngoài việc nâng cao được sức
sinh sản còn có tác dụng quan trọng là rút ngắn chu kỳ sinh sản (Nguyễn Văn
Kiểm, 2008).
2.4.3 Kích thích tố HCG và LHRH-a
HCG có tên tiếng Việt là kích dục tố màng đệm hoặc kích dục tố nhau
thai, được Zondec và Aschheim phát hiện năm 1927 trong nước tiểu phụ nữ có
thai. HCG là loại kích dục tố dị chủng được dùng có hiệu quả cho nhiều loài
cá nhất gây rụng trứng (Nguyễn Tường Anh, 1999).
Các loài cá được sử dụng HCG trong sinh sản một cách hiệu quả ở
nước ta như: cá chày, cá vền, cá trôi, cá bóng, cá vàng, cá trê, các loài cá
mè…, ngoài ra còn được dùng tốt cho việc kích thích rụng trứng các loài cá
trình, cá nheo mang túi Ấn Độ, cá chạch… (Nguyễn Tường Anh, 1999).
Ngày nay, hormone gây tiết kích dục tố GnRH được sử dụng khá phổ
biến trong việc kích thích sự sinh sản của cá. Tùy vào nguồn gốc mà có tên gọi
khác nhau, GnRH của động vật có vú còn gọi là LHRH (Leutinising Hormone
10
Releasing Hormone) (Nguyễn Văn Kiểm, 2008). Trong vài năm gần đây,
sản sau 15-20 ngày, lươn bố phun bọt trắng làm tổ, lươn mẹ đẻ vào tổ bọt. Khi
thấy tổ bọt ngã sang màu trắng ngà ta bắt đầu vớt trứng ấp riêng, lúc này trứng
đã được sinh sản khoảng 3 ngày (Nguyễn Chung, 2007).
2.5.2 Sản xuất giống nhân tạo
Lươn được nuôi vỗ từ đầu mùa xuân, khi thời tiết ấm áp vào giữa xuân
hoặc đầu hè thì có thể cho sinh sản. Sử dụng bể composite hay xi măng diện
tích 15-30 m
2
cao 80-100cm có bố trí vỉ tre hoặc bó dây nylon làm chổ ẩn nấp
để nuôi vỗ, mật độ là 2-5 con/m
2
. Không nên đổi loại thức ăn mới, nên sử
11
dụng thịt ốc, thịt cá cắt miếng, ếch nhái con, trùng quế, côn trùng tươi sống
trộn thêm một số vitamin A, D, E và men tiêu hóa làm thức ăn cho lươn. Khi
nuôi vỗ, sau 2-3 ngày nên phun mưa vào buổi chiều một lần để kích thích lươn
thành thục (Nguyễn Chung, 2007).
Mùa vụ thích hợp cho lươn sinh sản vào tháng 4-5 khi nhiệt độ nước ở
mức 25-27
0
C, có thể dùng các loại thuốc kích thích sinh dục như LHRH-a,
HCG hay nảo thùy thể cá chép bằng cách tiêm trực tiếp vào xoang bụng (Ngô
Trọng Lư, 1999). Theo Nguyễn Thị Hồng Thắm (2007) có thể dùng HCG
hoặc LHRH-a kích thích cho lươn sinh sản với liều lượng lần lượt: 1000
UI/kg, 1500 UI/kg, 2000 UI/kg đối với HCG hoặc 50, 100, 150 µg/kg đối với
LHRH-a. Tuy nhiên, sau khi bố trí vào bể có ụ đất cho sinh sản bán tự nhiên,
nghiệm thức 150 µg/kg LHRH-a cho tỷ lệ sinh sản cao nhất đạt 75%. Tỷ lệ thụ
tinh dao động từ 52% đến 97 % tùy vào loại kích thích tố.
2.5.3 Những nghiên cứu về Vitellogenin (protein tạo noãn hoàng)
Vitellogenin (Vg) là tiền protein noãn hoàng có thành phần là
lipoprotein được tổng hợp từ gan sau đó được đưa vào hệ thống tuần hoàn đi
vào buồng trứng tạo noãn hoàng (Nguyễn Tường Anh, 1999). Thành phần cấu
tạo đầu tiên của vitellogenin trong tế bào chất của trứng ở lươn đồng là lipid
(Mario và Maria, 2002).
Ở cá xương, trong quá trình tạo Vitellogenin ở gan và phóng thích vào
máu được xác định như sau: kích dục tố GTH I kích thích các tế bào nang
trứng tiết 17β Estradiol (E2), sau đó E2 sẽ kích thích tổng hợp và tiết ra
Vitellogenin ở gan (Nguyễn Tường Anh, 1999).
Có thể phát hiện Vitellogenin trong máu 2 giờ sau khi nó được tổng
hợp. Lượng Vitellogenin được tổng hợp tỷ lệ thuận với liều E2 được đưa vào
môi trường (Goncharov, tổng quan, 1977, trích bởi Nguyễn Tường Anh,
1999).
Theo Nguyễn Thị Lệ Hoa (2009), ở lươn đồng có sự tương quan giữa
hàm lượng Vitellines với các giai đoạn phát triển của buồng trứng, trung bình
hàm lượng Vitellines thấp nhất khi buồng trứng ở giai đoạn I (0,13 µgALP/mg
protein) và tăng dần rồi đạt cao nhất ở giai đoạn V (3,79 µgALP/mg protein).
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Thắm (2007) về Vitellines cũng cho kết
quả tương tự.
lớn được bố trí trong 1 bể (bể 1). Thí nghiệm được bố trí vào ngày 9/10/2009.
14Hình 3.1: Hệ thống bể thí nghiệm 1
- Quản lý cho ăn
Cho ăn 1 lần/ngày vào 16 giờ, cho ăn theo nhu cầu.
- Thu mẫu môi trường
Nhiệt độ và pH được theo dõi mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng và chiều.
-
Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản
Phương pháp thu mẫu:
Thu mẫu định kỳ: mỗi lần thu 5 con/bể, mỗi tháng thu 1 lần, thu trong 4
tháng để xác định: hệ số thành thục, tỷ lệ thành thục, sức sinh sản tuyệt đối,
giai đoạn phát triển của noãn sào và tinh sào. Các bước tiến hành gồm:
+ Cân khối lượng và đo chiều dài thân.
+ Thu mẫu máu, ly tâm lấy huyết tương để phân tích hàm lượng
Vitellines. Máu được thu từ động mạch lưng bằng kim tiêm và sau đó ly tâm
lạnh ở âm 40
0
C trong vòng 6 phút (6000 vòng/phút). Hàm lượng Vitellines
được xác định bằng phương pháp so màu quang phổ (theo phương pháp
ALKALI LABILE PHOSPHATE dựa trên đường chuẩn Phosphorus Standar
và so màu ở bước sóng 660 nm).
+ Cân khối lượng và thu mẫu tuyến sinh dục: tuyến sinh dục được cố
định bằng dung dịch Boin trong 24 giờ, sau đó rửa và bảo quản bằng cồn 70
0
.
Giai đoạn tuyến sinh dục được xác định bằng mắt thường và phương pháp mô