LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các đơn vị sản xuất kinh doanh khi sản xuất thì
phải có nhiệm vụ tổ chức tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá cung ứng dịch vụ đó. Quá trình
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá đó đã đem lại doanh thu cho doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, doanh thu có một ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Doanh thu có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Có được doanh
thu chứng tỏ doanh nghiệp đã sản xuất ra sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ phù hợp
với nhu cầu của xã hội được xã hội công nhận. Đồng thời có được doanh thu tức là
doanh nghiệp có được nguồn vốn để trang trải các khoản chi phí trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Thực hiện nghĩa vụ đóng góp của doanh nghiệp đối với ngân sách
nhà nước. Có được doanh thu cũng là kết thúc giai đoạn cuối cùng của quá trình luân
chuyển vốn lưu động tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các doanh
nghiệp phải đối mặt với rất nhiều thách thức cả ở trong nước cũng như nước ngoài.
Để đạt được mức doanh lợi mong muốn, doanh nghiệp cần phải có những
quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao đổi. Mọi quyết
định đều phải gắn kết với môi trường xung quanh. Bao quanh doanh nghiệp là một
môi trường kinh tế xã hội phức tạp và luôn biến động. Để có được doanh thu cao là
rất khó khăn, nhưng là yếu tố sống còn đối với các doanh nghiệp.
Nhận thấy tầm quan trọng của doanh thu trong kinh doanh nên trong quá trình tìm
hiểu với sự quan tâm giúp đỡ của một số cán bộ ở trong công ty và theo sự hướng dẫn
của thầy giáo Lưu Huỳnh em đã chọn đề tài là “Giải pháp tăng doanh thu tại Công
ty cổ phần giầy Thăng Long” làm chuyên đề của mình.
Chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về doanh thu.
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng doanh thu tại công ty cổ phần giầy da
Thăng Long
Chương 3: Một số biện pháp nhằm góp phần tăng doanh thu tại công ty cổ phần giầy
da Thăng Long
Nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường nhằm trả lời các câu hỏi: Sản xuất
cái gì? sản xuất như thế nào? Bao nhiêu và cho ai? Tức là thị trường đang cần những
loại sản phẩm gì? Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của nó ra sao ? dung lượng thị trường về
sản phẩm đó như thế nào? Ai là người tiêu thụ những sản phẩm đó?
Lựa chọn sản phẩm thích ứng theo đơn đặt hàng và tiến hành tổ chức sản xuất là nội
dung quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động tiêu thụ.
Sản phẩm thích ứng bao hàm về số lượng, chất lượng và giá cả. Về mặt lượng,
sản phẩm phải thích ứng với dung lượng thị trường. Về mặt chất sản phẩm phải phù
hợp với yêu cầu, tương xứng với trình độ tiêu dùng. Thích ứng về mặt giá cả hàng
hoá có nghĩa là được người mua chấp nhận và tối đa hoá được lợi nhuận.
Tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu tiêu thụ như: tiếp nhận, kiểm tra, phân loại,
bao gói, ghép đồng bộ hàng hoá.
Dự trữ thành phẩm ở các doanh nghiệp và định giá tiêu thụ.
Lựa chọn các kênh tiêu thụ và tổ chức chuyển giao hàng cho khách hàng…
Xúc tiến bán hàng ở doanh nghiệp. Và cuối cùng là các kỹ thuật nghiệp vụ bán
hàng và đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm.
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là
yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Khi hoàn thành việc tiêu
thụ sản phẩm cũng có nghĩa là doanh nghiệp có doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Doanh
thu của doanh nghiệp là số tiền mà khách hàng chấp nhận trả. Đây là nguồn thu chủ
yếu và thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp. Điều này
cho thấy việc lựa chọn sản phẩm kinh doanh, chọn thị trường tiêu thụ, việc chọn thời
điểm tiêu thụ cũng như các quyết định về giá cả liên quan chặt chẽ đến doanh thu tiêu
thụ sản phẩm và thu nhập của doanh nghiệp.
1.1.3 Các loại doanh thu.
Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: doanh thu từ hoạt động kinh doanh và
doanh thu từ hoạt động khác.
1.1.3.1 Doanh thu từ hoạt động kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp nhà nước doanh thu từ hoạt động kinh doanh là toàn bộ
Nói chung, doanh nghiệp sản xuất thì vấn đề tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ chiếm tỷ trọng cao nhất.
1.1.3.2 Doanh thu từ hoạt động khác.
Là các khoản thu từ các hoạt động không thường xuyên hoặc không tính trước.
Đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau, nội dung xác định thu nhập khác
nhau:
- Thu từ bán vật tư, hàng hoá, tài sản dôi thừa; bán công cụ, dụng cụ đã phân
bổ hết giá trị, bị hư hỏng hoặc không cần sử dụng; các khoản phải trả nhưng không
không trả được vì nguyên nhân từ phía chủ nợ.
- Thu từ chuyển nhượng, thanh lý tài sản.
- Nợ khó đòi đã xoá sổ nay thu hồi được
- Hoàn nhập khoản dự phòng giảm giá hàng hoá tồn kho, khoản dự phòng nợ
phải thu khó đòi đã trích trước về bảo hành hàng hoá, sản phẩm công trình và hạng
mục công trình khi hết thời hạn bảo hành.
- Thu về cho sử dụng hoặc chuyển quyền sử dụng sở hữu trí tuệ.
- Thu về tiền phạt vi phạm hợp đồng kinh tế; các khoản thuế phải nộp được
nhà nước giảm.
1.1.4.Ý nghĩa của doanh thu.
Trước đây, trong thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp, các doanh nghiệp Nhà nước
tiến hành sản xuất kinh doanh theo chỉ tiêu, kế hoạch của nhà nước, Nhà nước định
giá bán nếu như lãi thì nhà nước thu, lỗ Nhà nước bù. Do vậy việc đẩy mạnh tiêu thụ
và tăng doanh thu không phải là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước không bao cấp về vốn như
trước nữa. Các doanh nghiệp được lựa chọn hình thức kinh doanh, lỗ thì tự gánh chịu,
lãi thì được hưởng. Do đó đã tạo động lực cho các doanh nghiệp phát triển.
Trong nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các thành phần
kinh tế, các đơn vị sản xuất không chỉ có nhiệm vụ sản xuất ra sản phẩm mà còn phải
tổ chức tiêu thụ sản phẩm đó, trong điều kiện có sự cạnh tranh gay gắt, nhu cầu thị
hiếu của người tiêu dùng ngày càng tăng, vấn đề tiêu thụ sản phẩm không phải là
công việc dễ dàng với bất cứ một doanh nghiệp nào. Vì vậy, việc đẩy mạnh tiêu thụ
động sản xuất kinh doanh.
Mặt khác công tác tiêu thụ diễn ra nhanh chóng, kịp thời và ngày càng tăng còn
góp phần thúc đẩy tăng tốc độ chu chuyển vốn lưu động, tiết kiệm chi phí sản xuất
kinh doanh.
1.2. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH DOANH THU VÀ LẬP KẾ HOẠCH
DOANH THU.
1.2.1 Phương pháp xác định doanh thu.
- Đối với các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của hoạt động kinh doanh, tài chính
và hoạt động khác thuộc đối tượng chịu thuế GTGT:
+ Nếu tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ thì doanh thu là số tiền
thu được từ các hoạt động không bao gồm thuế GTGT đầu vào.
+ Nếu tính thuế GTGT theo ph ương pháp trực tiếp thì doanh thu là tổng số tiền
phải thu từ các hoạt động (tổng giá thanh toán).
- Đối với các sản phẩm hàng hoá, cung ứng dịch vụ của các hoạt động kinh
doanh, tài chính bất thường không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì doanh thu
hoặc thu nhập là số tiền phải thu của các hoạt động trên.
- Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp thì tính vào doanh thu hoạt
động kinh doanh theo giá bán trả một lần, không bao gồm lãi trả chậm. Lãi trả chậm
tính vào thu nhập hoạt động tài chính hàng năm.
- Đối với sản phẩm, hàng hoá dịch vụ dùng để trao đổi hàng hoá dịch vụ khác
thì doanh thu tính theo giá bán của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương
đương tại thời điểm trao đổi.
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp sản xuất ra để biếu tặng
hoặc dùng cho sản xuất trong nội bộ doanh nghiệp thì doanh thu tính theo giá thành
sản xuất( hoặc giá vốn) sản phẩm hàng hoá đó.
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản có nhận trước tiền cho thuê của nhiều năm
thì doanh thu của từng năm là tổng số tiền cho thuê chia cho số năm cho thuê tài sản.
- Đối với hoạt động bán hàng đại lý thì doanh thu là khoản phải thu về hoa
hồng đại lý.
Trong đó: DT: là doanh thu về bán hàng kỳ kế hoạch.
H
i
: là số lượng sản phẩm tiêu thụ của từng loại hoặc dịch vụ cung ứng
của từng loại trong kỳ kế hoạch.
G
i
: là giá bán sản phẩm hoặc đơn giá tiền công phục vụ (chưa kể VAT)
i : là loại sản phẩm tiêu thụ hoặc loại dịch vụ cung ứng tiêu thụ.
Trong trường hợp bán hàng xuất khẩu, tuỳ theo hợp đòng mà giá bán có thể là
giá FOB, CIF, CIP, CFR, FAS…và việc thanh toán phải bằng ngoại tệ. Mỗi loại
ngoại tệ có một tỷ giá hối đoái khác nhau, do đó khi tính doanh thu phải nhân thêm
với tỷ giá hối đoái của từng loại ngoại tệ. Trong mua bán quốc tế có trường hợp ngoại
tệ tính giá và tiền tệ thanh toán là hai loại ngoại tệ khác nhau đòi hỏi phải thận trọng
trong việc tính doanh thu bán hàng.
Việc xác định số lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ có thể thực hiện bằng một
trong hai cách sau:
Thứ nhất: Căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Số lượng sản phẩm tiêu thụ hoặc dịch vụ cung ứng trong kỳ kế hoạch phụ
thuộc vào số lượng sản xuất hoặc cung ứng trong kỳ kế hoạch, số lượng kết dư dự
tính đầu kỳ và cuối kỳ kế hoạch.
Công thức tính: H
ti
= H
di
+ H
xi
- H
ci
1.3. Biện pháp nâng cao tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu.
Trong kinh doanh, việc tiêu thụ sản phẩm là yếu tố hàng đầu mà các doanh
nghiệp quan tâm, làm thế nào để thu hút được khách hàng đến với sản phẩm của
mình luôn là mọt bài toán nan giải, hóc búa cho bất cứ doanh nghiệp nào. Do đó các
doanh ngiệp càng đặc biệt quan tâm đến các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ. Đứng trên
lĩnh vực tài chính doanh nghiệp có thể đưa ra một số biện pháp như sau:
1.3.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm tiêu thụ.
Muốn đứng vững trên thị trường cạnh tranh, ổn định tăng cao khối lượng sản
phẩm tiêu thụ, việc đầu tiên doanh nghiệp phải chú trọng đến chất lượng sản phẩm.
Việc nâng cao chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với việc nâng cao những đặc tính sử
dụng của hàng hoá, nghiên cứu hoàn thiện công dụng, chức năng, những đặc tính vật
lý, hoá học của sản phẩm. Biện pháp mà các doanh nghiệp thường áp dụng để tăng
chất lượng sản phẩm là: Đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại, sử dụng nguyên liệu
đầu vào có chất lượng cao, nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động…Tiêu
chuẩn hoá và kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng là công việc mà doanh nghiệp phải
tiến hành thường xuyên và chặt chẽ nhằm duy trì và nâng cao được chất lượng của
sản phẩm, đảm bảo giữ vững uy tín của doanh nghiệp với người tiêu dùng. Tuy
nhiên, việc nâng cao chất lượng sản phẩm thường dẫn đến giá sản phẩm tăng do các
chi phí đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh lớn, lúc này doanh nghiệp dễ phải
đương đầu với khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm do khách hàng phản đối việc nâng
giá. Do vậy, để sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ được thuận lợi các doanh nghiệp phải tổ
chức hiệu quả quá trình sản xuất. Có như vậy mới tạo ra các sản phẩm không những
có chất lượng cao mà còn có giá thành hạ, được người tiêu dùng chấp nhận.
1.3.2 Xây dựng và lựa chọn kết cấu sản phẩm hợp lý.
Doanh nghiệp để tồn tại và phát triển được phải bíêt thích nghi và hoà nhập
vào môi trường hoạt động của mình. Sự thích ứng, linh hoạt trong kinh doanh của
doanh nghiệp biểu hiện cụ thể qua việc thay đổi kết cấu sản phẩm tiêu thụ. Không
ngừng cải tiến, đổi mới và đa dạng hoá sản phẩm. Một kết cấu mặt hàng hợp lý phải
được xây dựng trên cơ sở kết quả công tác nghiên cứu thị trường và gắn với năng lực
sản xuất của doanh nghiệp sao cho vừa đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng, vừa mang lại
lạc mối thì doanh nghiệp có thể giảm giá bán, bán hoà vốn chậm để nhanh chóng thu
hồi lại vốn, chuyển hướng sản xuất sản phẩm mới. Trong điều kiện cần phải xâm
nhập và mở rộng thị trường, mục tiêu khối lượng hàng hoá trở thành mục tiêu hàng
đầu, thông thường các doanh nghiệp thường áp dụng chiến lược định giá thấp hoặc
giảm giá nhằm lôi kéo khách hàng hay trong những dịp cụ thể…Đối với những sản
phẩm có chất lượng cao, có uy tín trên thị trường, doanh nghiệp có thể áp dụng chiến
lược định giá cao nhằm thu thêm lợi nhuận.
Trong điều kiện thu nhập đầu người còn thấp như ở nước ta, giá cả càng trở
nên là một công cụ cạnh tranh sắc bén. Để tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng quy
mô doanh thu thì việc xây dựng một chính sách linh hoạt, mềm dẻo phù hợp với từng
điều kiện cụ thể là một trong những biện pháp hữu hiệu cần được doanh nghiệp áp
dụng.
1.3.4 Hoàn thiện hệ thống phân phối sản phẩm.
Mục tiêu của việc phân phối sản phẩm là nhằm định hướng vào người tiêu
dùng, vừa thoả mãn nhu cầu khách hàng, vừa kích thích nhu cầu tiêu thụ. Hiện nay
các doanh nghiệp thường áp dụng hai hình thức phân phối là: phân phối trực tiếp cho
người tiêu dùng qua các cửa hàng và phân phối qua khâu trung gian như đại lý, người
môi giới.
Để phát huy vai trò của các kênh phân phối doanh nghiệp thường lựa chọn các
phần tử trung gian, nắm các thông tin về những người phân phối được sử dụng. Hệ
thống đại lý, người môi giới được hưởng những ưu đãi nhất định về tỷ lệ hoa hồng,
thời hạn thanh toán…tạo mối quan hệ gắn liền với doanh nghiệp. Nhờ đó, nhà sản
xuất có thể chuyên tâm vào công việc đồng thời phát huy hết lợi thế của các kênh
phân phối để mở rộng và chi phối thị trường.
1.3.5 Tăng cường chính sách xúc tiến bán hàng và hỗ trợ kinh doanh.
Cùng với sự phát triển của nhà sản xuất và tình hình cạnh tranh trên thị trường
diễn ra ngày càng quyết liệt thì các hoạt động xúc tiến yểm trợ càng được sử dụng
nhiều như một chất xúc tác làm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Các kỹ thuật chủ yếu được áp dụng bao gồm:
+Quảng cáo, giới thiệu sản phẩm: Do quảng cáo có hiệu quả, doanh nghiệp cần
1.3.7 Tăng cường công tác quản lý lao động, vật tư hàng hoá và tiền vốn.
Trên cơ sỏ nhu cầu cong tác ở doanh nghiệp cần tuyển dụng và bố trí cán bộ
công nhân viên hợp lý, phù hợp với trình độ và khả năng của từng người nghiên cứu
xác định mức lương thoả đáng, chế độ thưởng phạt rõ ràng, công bằng trên cơ sỏ đó
thực hiện nghiêm kỷ luật lao động.
Tổ chức quản lý chặt chẽ vật tư, thành phẩm, hàng hoá, thực hiện tốt việc phân
công, phân cấp quản lý trên cơ sở đó phát hiện kịp thời những vật tư kém, mất phẩm
chất, giảm hao hụt, đảm bảo an toàn vật tư thành phẩm, hàng hoá về cả số lượng lẫn
chất lượng…
Mặt khác, cần tổ chức quản lý chặt chẽ tiền mặt, vốn trong thanh toán, tích cực
đôn đốc đối chiếu và thu hồi công nợ dây dưa, nợ khó đòi, khoản lỗ ngoài doanh
nghiệp. Áp dụng những biện pháp có hiệu quả để không ngừng tăng nhanh vòng quay
của vốn.
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG TĂNG DOANH
THU CỦA DOANH NGHIỆP.
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển như hiện nay, để có thể tìm ra những
biện pháp hữu hiệu nhằm đạt được mức doanh thu mong muốn các doanh nghiệp cần
phải nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Trong các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu, có những nhân tố bên trong
doanh nghiệp và cũng có những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp. Tất cả những nhân
tố đó có thể tác động có lợi hay bất lợi đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.4.1 Nhân tố chủ quan.
Theo công thức xác định doanh thu hoạt động kinh doanh, ngoài nhân tố thuế
ta còn thấy có hai nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu là:
Thứ nhất: Khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ.
Giả sử trường hợp giá bán không đổi thì khối lượng sản phẩm tiêu thụ có ảnh
hưởng trực tiếp đối với doanh thu bán hàng trong kỳ. Sản lượng sản xuất nhiều phù
hợp với nhu cầu thị trường thì sẽ tiêu thụ hết. Ngược lại, khối lượng sản xuất ra nhiều
vượt quá nhu cầu thị trường cũng gây ra hiện tượng tồn đọng sản phẩm. Do vậy, đối
cao, doanh nghiệp có sản phẩm tốt, người tiêu dùng dễ chấp nhận mua.
Trên thị trường có rất nhiều sản phẩm cùng loại, người tiêu dùng không chỉ lựa
chọn hàng có giá rẻ mà còn lựa chọn những hàng có chất lượng tốt. Do đó, chất
lượng hàng hoá là nhân tố kích thích tiêu thụ và mở rộng thị phần trong cạnh tranh
với các đối thủ khác. Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
cho thấy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm luôn là cạnh tranh sắc bén có hiệu quả
và lâu bền nhất, chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng giá trị sản phẩm cũng như uy tín
cho doanh nghiệp.
Bên cạnh việc cần đảm bảo chất lượng tốt thì đổi mới sản phẩm cũng là một
vấn đề cần quan tâm. Nếu doanh nghiệp đổi mới sản phẩm thành công sẽ tạo ra nhu
cầu mới cho người tiêu dùng, sản phẩm đó sẽ thay thế rất nhanh chóng những sản
phẩm khác, khi đó doanh nghiệp sẽ tăng doanh thu.
Thứ tư: Kết cấu hàng hoá tiêu thụ.
Kết cấu sản phẩm tiêu thụ là tỷ trọng về từng loại sản phẩm chiếm trong tổng
số sản phẩm sản xuất, tiêu thụ. Kết cấu mặt hàng tiêu thụ thay đổi có thể làm thay đổi
doanh thu tiêu thụ. Mỗi loại sản phẩm đều có tác dụng nhất định trong việc làm thoả
mãn nhu cầu người tiêu dùng. Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu của người tiêu
dùng ngày càng cao, ngày càng phong phú, do đó để tòn tại và phát triển thì doanh
nghiệp phải đưa ra một kết cấu mặt hàng tiêu thụ phù hợp nhất để đáp ứng tối đa nhất
nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, từ đó sẽ làm tăng khối lượng tiêu thụ và
làm tăng doanh thu. Nếu doanh nghiệp tăng tỷ trọng bán ra những mặt hàng có giá
bán cao, giảm tỷ trọng những sản phẩm có giá bán thấp thì dù tổng khói lượng sản
phẩm tiêu thụ và đơn giá không đỏi nhưng tổng doanh thu tiêu thụ sẽ tăng lên và
ngược lại. Nhưng dù thay đổi kết cấu mặt hàng tiêu thụ thế nào đi chăng nữa thì cũng
phải đảm bảo kế hoạch sản xuất những mặt hàng mà doanh nghiệp đã ký hợp đồng.
Thứ năm: Sự phù hợp thị hiếu của người tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường nhu cầu của khách hàng rất đa dạng nhưng họ
luôn muốn chọn cho mình một hàng hoá phù hợp với thị hiếu như: mẫu mã, màu sắc,
mùi vị…do đó doanh nghiệp cạnh tranh nhau cả về hàng cung ứng phù hợp với thị
hiếu của hách hàng. Nếu doanh nghiệp nào làm tốt điều đó sẽ chiếm được thị phần
hoạch kinh doanh cũng như vấn đề tăng doanh thu của doanh nghiệp. Muốn bán được
hàng các doanh nghiệp phải đào tạo bồi dưỡng đội ngũ người bán hàng thực sự chứ
không phải những cái máy nói giá, những người đi lấy hàng, gói hàng, đơn thuần.
Một nhân viên bán hàng giỏi sẽ làm doanh thu của doanh nghiệp tăng cao và ngược
lại.
Thứ chín: Hoạt động quảng cáo giới thiệu sản phẩm.
Sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất xã hội đã tạo ra một khối lượng
sản phẩm lớn và đa dạng ở mức độ cao. Có rất nhiều sản phẩm mới ra đời, nhưng tốc
độ tiêu thụ rất chậm vì được ít người tiêu dùng biết đến. Vì vậy hoạt động quảng cáo
nhằm giới thiệu với khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp đóng vai trò rất quan
trọng. Thông qua quảng cáo, các thông tin về sản phẩm cũng như hình ảnh của doanh
nghiệp sẽ đến được với người tiêu dùng, từ đó sẽ kích thích họ tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp và nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
1.4.2. Nhân tố khách quan.
Bên cạnh những nhân tố chủ quan còn có những nhân tố khách quan ảnh
hưởng cũng không nhỏ tới doanh thu của doanh nghiệp. Những yếu tố đó bao gồm:
Thứ nhất: Thị trường và sự cạnh tranh.
Hai yếu tố cung và cầu trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới khối lượng hàng
bán ra của doanh nghiệp. Nếu cung lớn hơn cầu chứng tỏ nhu cầu về hàng hoá được
đáp ứng tương đối đầy đủ, sản phẩm đó đã bão hoà trên thị trường. Lúc này việc tăng
khối lượng bán ra là rất khó khăn và dẫn đến doanh thu của doanh nghiệp giảm.
Ngược lại, trong trường hợp cung nhỏ hơn cầu thì hàng hoá bán ra nhanh hơn, kết
quả kinh doanh tốt hơn vì vậy doanh nghiệp phải điều tra tình hình cung - cầu của thị
trường để sản xuất với khối lượng vừa đủ.
Mặt khác khi nói tới thị trường ta không thể bỏ qua yếu tố cạnh tranh.Cạnh
tranh xảy ra giữa các doanh nghiệp cùng bán một loại sản phẩm hoặc các sản phẩm
trên thị trường có thể thay thế lẫn nhau làm ảnh hưởng đến việc tiêu thụ.Về chất
lượng, mẫu mã, thị hiếu, giá cả, doanh nghiệp nào thoả mãn được yêu cầu của người
tiêu dùng sẽ dành được lợi thế. Do đó mỗi doanh nghiệp cần phải nắm vững được
thông tin của các nhà cung cấp loại hàng hoá mà mình đang hoặc sẽ kinh doanh để từ
hưởng không nhỏ đến doanh thu.
Thứ năm: Sự tiến bộ của công nghệ.
Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ. Sự phát triển của công nghệ là
một yếu tố góp phần thay đổi phương thức sản xuất, tạo ra nhiều kỹ thuật mới dẫn
đến những thay đổi mạnh mẽ. Sự nhậy bén trong thời điểm đổi mới sẽ giúp doanh
nghiệp tạo được cơ hội nắm giữ được thị trường không làm giảm lợi nhuận.
Ngoài ra, việc tổ chức mạng lưới tiêu thụ và kinh doanh tiêu thụ như:
-Tự tổ chức tiêu thụ.
-Mạng lưới độc lập
-Quảng cáo tiếp thị
-Hội nghị khách hàng, chính sách khuyến mại
Cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu.
Chương II :
Phân tích và đánh giá thực trạng doanh thu tại Công ty
Cổ phần Giầy Thăng Long
1. Khái quát về Công ty Cổ phần Giầy Thăng Long
1.1. Lịch sử hình thành và các giai đoạn phát triển của Công ty:
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Giầy Thăng Long.
- Địa chỉ: Số 411 – Tam Trinh – phường Hoàng Văn Thụ - Hoàng Mai – Hà Nội.
- Điện thoại: 04.38621618
- Fax: 04.38623768
- Tên giao dịch: ThangLongShoesCompany ( THASHOCO )
Công ty cổ phần Giầy Thăng Long với gần 20 năm xây dựng và phát triển, đã
trải qua không ít những khó khăn, song cũng đạt được nhiều thành tựu, khẳng định
thương hiệu của mình trong nước và các nước trên thế giới. Giai đoạn phát triển chia
làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 ( 1990 – 1992 ): Giai đoạn xây dựng và phát triển sản
xuất kinh doanh. Công ty đang hoạt động trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế bao
cấp sang cơ chế thị trường, thêm vào đó năm 1990 các nước Đông Âu và Liên Xô cũ
có nguy cơ tan giã, vì vậy, Công ty gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất và
nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy việc đầu tư mở rộng, đổi mới trang thiết
bị, tự bù đắp thu chi, tự cân đối giữa xuất nhập khẩu.
- Tăng cường nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ đồng
thời tăng cường công tác quản lý và đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ
công nhân viên để theo kịp sự đổi mới của đất nước.
Lĩnh vực họat động kinh doanh của Công ty:
- Sản xuất các sản phẩm từ da, giả da, vải, nhựa, cao su: Sản phẩm chính là giày
vải xuất khẩu ( giày basket, giày cao cổ…), giày thể thao, giày vải phục vụ lao động,
giày dép giả da, giày dép nam thời trang, sandal và dép đi trong nhà…theo đơn đặt
hàng với công ty nước ngoài FOOTTECH, NOVI, YENBONG… Ngoài ra, công ty
còn sản xuất các kiểu giày thể thao với mẫu mã đẹp để tiêu thụ trong nước.
- Kinh doanh dịch vụ thương mại.
- Kinh doanh xuất - nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh.
1.3. Đặc điểm về cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty
1.3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Công ty Giầy Thăng Long được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến - chức năng
nhằm tránh tình trạng tập trung quá mức dẫn đến chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ sót.
Vì vậy, các chức năng quản lý được phân cấp phù hợp cho các Xí nghiệp thành viên.
- Hệ thống trực tuyến bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm
soát cùng với các quản đốc phân xưởng và các tổ trưởng khác.
- Hệ thống chức năng bao gồm: Các phòng ban chức năng của Công ty, các
phòng ban ( bộ phận ) quản lý xí nghiệp, phân xưởng, tổ, đội.
Sơ đồ 1. Tổ chức bộ máy quản trị của Công ty Cổ phần Giầy Thăng Long
1.3.2 Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận trong Công ty.
Hội đồng quản trị
Phó giám đốc
Kinh doanh
Giám đốc
Trung tâm Sản
xuất - Mẫu
Với các chức năng và nhiệm vụ của Công ty, Công ty đã tiến hành công tác
phân quyền, xác định rõ chức năng nhiệm vụ và quyền hạn cho từng cá nhân, các nhà
quản trị, các bộ phận phòng ban chức năng, các phân xưởng sản xuất như sau:
- Hội đồng quản trị: do Đại hội cổ đông bầu ra, toàn quyền nhân danh Công
ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích và quyền lợi của Công ty.
- Giám đốc: là người đại diện pháp nhân cao nhất Công ty, chỉ đạo mọi hoạt
động sản xuất – kinh doanh và chịu trách nhiệm về mọi họat động của Công ty.
- Phó Giám đốc: bao gồm Phó Giám đốc kinh doanh và Phó Giám đốc sản
xuất, là người giúp Giám đốc trong việc quản lý và ra quyết định cho cấp dưới theo
phạm vi quyền hạn của mình, chịu trách nhiệm trước Giám đốc về lĩnh vực sản xuất
kinh doanh và điều hành Công ty khi Giám đốc đi vắng, uỷ quyền.
- Phòng Tài chính - Kế toán: đây là bộ phận tham mưu quan trọng nhất giúp
Giám đốc nắm rõ thực lực tình hình tài chính của Công ty nhằm sử dụng đồng tiền
và vốn đúng mục đích, sử dụng các chính sách sao cho hợp lý và hiệu quả nhất.
- Phòng Kế hoạch - Vật tư: có nhiệm vụ khai thác thị trường, xây dựng kế
hoạch sản xuất ngắn và dài hạn, xây dựng các định mức tiêu hao nguyên vật liệu…
- Phòng Tổ chức hành chính - Bảo vệ: có chức năng tham mưu cho Giám
đốc về công tác quản lý đội ngũ cán bộ, lao động, tiền lương, hành chính quản trị
- Phòng Xuất nhập khẩu: có nhiệm vụ giao dịch với các cơ quan, Công ty
trong và ngoài nước để thực hiện các hợp đồng mua – bán sản phẩm hàng hoá.
- Phòng thị trường giao dịch: đảm nhiệm giao dịch với khách hàng về đơn
đặt hàng, thủ tục liên quan đến nhập khẩu nguyên vật liệu và xuất khẩu giầy.
- Phòng Kỹ thuật: đảm nhận việc xác nhận nguyên vật liệu đủ tiêu chuẩn để
nhập kho và đi vào sản xuất theo đúng từng đơn đặt hàng, định mức kinh tế - kỹ
thuật, hướng dẫn kiểm tra, theo dõi quy trình công nghệ và đối ngoại về công tác kỹ
thuật.
- Trung tâm sản xuất - Mẫu: đây là nơi chuyên sản xuất thử các mẫu giầy
mới cho Công ty và sản xuất thử các mẫu giầy theo đơn đặt hàng mới.
- Nhà máy Giầy Chí Linh: có đầy đủ phòng ban như Công ty nhưng quy mô
nhỏ hơn và không có phòng giao dịch với nước ngoài. Các phòng ban có quan hệ
nhiều thao tác kỹ thuật khó: can, đấu góc, kẻ chỉ, may nẹp và mũi…Phân xưởng còn
làm các khâu: đấu hậu, rập ô đê, đường viền… Mũi giầy được kiểm hoá từng đôi, đạt
yêu cầu thì mới chuyển sang phân xưởng giầy để gò thành giầy hoàn chỉnh.
- Phân xưởng cán – ép cao su: có nhiệm vụ chế biến hoá chất, sản xuất đế
giầy bằng cao su. Phân xưởng sử dụng nguyên liệu là cao su và các hoá chất. Sản
phẩm của phân xưởng là cao su tinh và thô được chế biến theo tiêu chuẩn lý hoá và
mẫu mã nhất định, sau đó đưa qua máy cán và đưa vào chặt thành xoài liền và xoài
rời…sau đó ép đế giầy, ép xoải các loại vải, cuối cùng chuyển cho phân xưởng giầy.
- Phân xưởng gò và hoàn thiện giầy: là khâu cuối cùng của quy trình công
nghệ, sản phẩm của khâu này là hoàn chỉnh giầy thành phẩm. Sau khi nhận được các
sản phẩm từ phân xưởng may và cán ép cao su chuyển sang, cùng với các nguyên liệu
phụ khác như: dây giầy, xăng, dây gai, giấy lót giầy…đi qua dây chuyền sản xuất liên
tục bao gồm: chuẩn bị keo, gò mũi, gò mang, ép đế, dám bím, kiểm tra, kiểm hoá,
đóng gói… thì sẽ hoàn thành quy trình sản xuất và tạo ra giầy thành phẩm.
1.5. Đặc điểm về nhân lực của Công ty
Lao động là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất. Muốn cho
mọi hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao, cần phải hình thành một cơ cấu lao động tối ưu
trong doanh nghiệp. Cơ cấu lao động tối ưu khi lực lượng lao động đảm bảo đủ số lượng,
chất lượng, giới tính và lứa tuổi, đồng thời được phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn, mối quan hệ công tác giữa các bộ phận và các cá nhân với nhau, đảm bảo mọi người
đều có việc làm, mọi khâu, mọi bộ phận đều có người phụ trách và sự ăn khớp, đồng bộ trng
từng đơn vị và trên phạm vi toàn doanh nghiệp. Cơ cấu lao động tối ưu là cơ sở để đảm bảo
cho quá trình sản xuất được tiến hành cân đối, nhịp nhàng liên tục, là cơ sở để đảm bảo
nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Bảng 1: Tình hình lao động của Công ty giai đoạn 2008 – 2010
Năm 2008 2009 2010 So sánh So sánh
Chỉ Tiêu
2009/2008 2010/2009
SL TL % SL TL % SL TL %
Số
do bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tác động và phải cắt giảm số người lao động.
Tuy nhiên, từ năm 2009 đến 2010 lại tăng thêm 42 người.
- Phân theo chức năng: lao động trực tiếp (85%) và lao động gián tiếp (15%)
- Phân theo giới tính: lao động nam và nữ. Dựa vào bảng trên ta thấy được sự
chênh lệch về giới tính rõ ràng.Tỷ lệ lao động nữ luôn chiếm 70 – 80 % so với lao động nam
do kỹ năng công việc đòi hỏi sự tỷ mỉ và khéo léo.
- Phân theo trình độ: trên Đại học, Đại học – Cao đẳng, Trung cấp, Phổ thông ( lao
động Phổ thông chiếm tỷ trọng lớn 85% – đây là đội ngũ công nhân làm việc trong các phân
xưởng sản xuất ).
- Lực lượng lao động của Công ty hiện nay tuổi đời còn khá trẻ, bình quân từ 22 –
28 tuổi, được đào tạo tại chỗ dựa trên những kinh nghiệm đã được đúc kết trong quá trình
sản xuất. Lực lượng lao động của Công ty đến từ nhiều nơi khác nhau và đòi hỏi là những
người có hiểu biết, am hiểu về lĩnh vực Da Giày.
2. Thực trạng kinh doanh và kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Giầy
Thăng Long
2.1. Tình trạng vốn và nguồn vốn kinh doanh của Công ty:
Hiện nay, Công ty phát triển nguồn vốn của mình bằng hai nguồn chủ yếu là:
- Nguồn vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh: đây là nguồn vốn tự cấp
được lấy ra từ lợi nhuận, quỹ khuyến khích phát triển sản xuất và khoản tiền khấu hao
để lại Công ty phục vụ cho sự tăng trưởng và tái đầu tư vào tài sản cố định.
- Nguồn vốn bên ngoài: nguồn này được thực hiện qua vay vốn từ Ngân
hàng, từ các hãng và các tổ chức tín dụng khác…thông qua việc liên doanh, liên kết,
hợp tác kinh tế cũng như nguồn vốn tự huy động từ đội ngũ CBCNV trong Công ty.
Bảng 2. Cơ cấu vốn của Công ty từ năm 2008 – 2010
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 So sánh tăng,
giảm 2009/2008
So sánh tăng,
giảm
2010/2009
Số
động
21.321 41,33 29.936 50,97 32.773 50,88 8.615 40,41 2.837 9,48
Nguồn: Phòng Tài chính Kế toán của Công ty Cổ phần Giầy Thăng Long
Nhận xét:
Theo nguồn hình thành:
Phần nguồn vốn của Công ty được kết cấu bởi 2 khoản mục lớn là: vốn chủ sở
hữu và vốn vay.
- Vốn chủ sở hữu: Phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, bao
gồm số vốn chủ doanh nghiệp bỏ vào đầu tư kinh doanh và phần hình
thành từ kết quả hoạt động kinh doanh. Đây là nguồn vốn quan trọng thể
hiện tính tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp.Nhìn vào bảng số
liệu ta thấy, tổng số vốn kinh doanh của Công ty tăng tương đối nhanh
qua các năm. Năm 2010 là năm Công ty có tổng số vốn lớn nhất, tăng
5.673 triệu đồng so với năm 2009. So sánh thời kỳ năm 2009/2008 , vốn
chủ sở hữu của Công ty tăng 4.505 triệu đồng ( khoảng 16,03 % ),tuy
nhiên thời kỳ 2010/2009 giảm chỉ còn 3.485 triệu đồng ( khoảng 10,69
% ) do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế.
- Vốn vay: Vốn vay của Công ty qua 3 năm có tỷ trọng ngày càng giảm,
tuy nhiên không đáng kể, xấp xỉ 1% mỗi năm. Dù sao, đây cũng là một
xu hướng tích cực cho Công ty trong các năm tới.
=> Qua đây, ta thấy được Công ty ngày càng chủ động được nguồn vốn
của mình, ít phải dựa vào các nguồn lực ở bên ngoài.
Theo tính chất:
Do Công ty Cổ phần Giầy Thăng Long là công ty hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất nên tỷ lệ vốn cố định và vốn lưu động trong tổng vốn qua các năm luôn có sự
thay đổi. So sánh qua các thời kỳ, ta nhận thấy:
- Vốn cố định năm 2009 giảm 1.460 triệu đồng so với năm 2008, do Công
ty không có kế họach đầu tư vào máy móc thiết bị và cơ sở vật chất. Tuy
nhiên, năm 2010 đã tăng 2.836 triệu đồng do đầu tư vào dây chuyền sản
xuất mới ( khoảng 9,85 % ) so với năm 2009.
So sánh tăng,
giảm 2010/
2009
Số tuyệt
đối
% Số
tuyệt
đối
%
1
Giá trị tổng sản lượng
theo giá cố định
Triệu
đồng
71.647 70.541 72.320 -1106 -1,54 1.779 2,51
2
Doanh thu tiêu thụ theo
giá hiện hành
Triệu
đồng
75.512,7 74.211,4 76.466,5 -1.301,2 98,28 2.255,
11
3,04