LUẬN VĂN:
Nội dung cơ bản của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
A_Đặt vấn đề:
đi đúng đắn, góp phần nào có thể được vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ
đất nước.
Bởi vậy, nghiên cứu nội dung cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi sinh viên chúng ta, và có thể coi đó là hành
trang cùng với những kiến thức đã được giảng dạy để bước vào cuộc sống.
B_ Nội dung: 1. Công nghiệp hóa và những quan điểm mới về Công nghiệp hóa:
1.1Khái niệm Công nghiệp hóa:
Kết hợp quan niệm truyền thống với quan niệm hiện đại và vận dụng vào
điều kiện cụ thể của Việt Nam,Hội nghị lần thứ VII ban chấp hành TW Đảng khóa VII
đã đưa ra quan niệm mới về CNH,HĐH và đây cũng chính là quan niệm được sử dụng
một cách phổ biến ở nước ta hiện nay.Theo tư tưởng này,công nghiệp hóa,hiện đại
hóa(CNH,HĐH) là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất,kinh
doanh,dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao cùng với công nghệ,phương tiện và phương pháp tiên
tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học-công nghệ, tạo
ra năng suất xã hội cao.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được thực hiện trong điều kiện nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cho phép khai thác
và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất, các tiềm năng và nguồn lực của đất nước,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh,góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại
hóa. Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, mỗi thành phần kinh tế có lợi thế so sánh
riêng về kỹ thuật, vốn, lực lượng lao động,kinh nghiệm quản lý trong đó kinh tế Nhà
nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước “làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh
tế và tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới”. Kinh tế Nhà nước nắm giữ các ngành, các
lĩnh vực, các khâu quan trọng nhất của nền kinh tế được trang bị bằng kỹ thuật và công
nghệ hiện đại đủ sức chủ đạo và đinh hướng phát triển các thành phần kinh tế khác.
1.2.3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế lấy việc phát huy nguồn
lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững.
Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích
lũy cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân,
phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
Con người vừa là mục đích vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội
nhanh và bền vững.Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định để tạo ra công nghệ hiện đại
và sử dụng chúng để tạo ra của cải cho xã hội, là yếu tố quyết định để thực hiện
chuyển giao công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trước hết là đội ngũ cán bộ khoa học- kỹ thuật, chuyên gia kinh tế,những nhà quản lý
kinh tế- xã hội, đội ngũ công nhân lành nghề. Có thể coi nguồn lực con người trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nguồn lực của mọi nguồn lực khác. Lấy việc
phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Đòi hỏi phải có những chính sách kinh tế- xã hội phù hợp về văn hóa, giáo dục, y tế,
và nóng vội, phiêu lưu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.2.5 Lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định
phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ.
Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. Trong đó
phát triển mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu
hồi vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số công trình lớn thật cần thiết và có hiệu quả.
Tạo ra những mũi nhọn trong từng bước phát triển. Tập trung thích đáng nguồn lực cho
các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm. Đồng thời quan tâm đáp ứng nhu cầu thiết yếu
của mọi vùng trong nước, có chính sách hỗ trợ những vùng khó khăn, tạo điều kiện cho
các vùng đều phát triển.
Quan điểm mới về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi khi xác định các
phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ, xác định quy mô, bố trí và
phân phối các nguồn lực ở các địa bàn phải lấy hiệu quả kinh tế- xã hội làm tiêu
chuẩn cơ bản để xem xét.Tư tưởng chỉ đạo là phải đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa
năng lực sản xuất hiện có. Trong phát triển mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ
tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số công trình
thật cần thiết và có hiệu quả, tạo ra các mũi nhọn trong từng bước phát triển. Trong
việc bố trí nguồn lực cần tập trung thích đáng cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm,
đồng thời đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mọi vùng trong nước, hỗ trợ các vùng khó
khăn, tạo điều kiện cho các vùng đều phát triển .
1.2.6 Kết hợp kinh tế với quốc phòng- an ninh
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn luôn là hai nhiệm vụ chiến lược có sự
tác động lẫn nhau. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế là cơ sở tăng cường khả năng
Trên thế giới, cách mạng khoa học- công nghệ đang phát triển nhanh với trình
độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa
nền kinh tế, và đời sống xã hội. Đây là một thời cơ thuận lợi cho phép chúng ta có thể
khai thác được những yếu tố, nguồn lực bên ngoài (vốn, công nghệ, thị trường ) và
những nguồn lực bên trong của đất nước có hiệu quả, thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa rút ngắn, kết hợp các bước đi tuần tự với nhảy vọt, vừa tăng tốc, vừa chạy
trước, đón đầu.
Là nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi sau, chúng ta có lợi thế của
người đi sau. Không những có thể tiếp nhận được những công nghệ hiện đại mà còn rút
được nhiều bài học của các nước đi trước đăc biệt của các “con rồng”, “con hổ” trên
lĩnh vực (như kinh nghiệm chuyển giao công nghệ, thu hút vốn đầu tư, bảo vệ môi
trường, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống ). Cả kinh nghiệm thành công và không
thành công đều là bổ ích đối với chúng ta. Việt Nam lại nằm ở Đông Nam á- khu vực
đang phát triển năng động và tốc độ cao, lại chịu ảnh hưởng của quy luật “lây lan” đó
cũng là điều kiện thuận lợi.
Đất nước sau 10 năm đổi mới, đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội, nhiều
tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được tạo ra, chúng ta đã và đang
có những thế và lực mới, cả ở bên trong và bên ngoài để bước vào một thời kỳ phát
triển mới.
Tài nguyên thiên nhiên của đất nước ta đa dạng, phong phú, tuy không phải là
loại giàu nếu xét theo bình quân đầu người, song có thể phát triển một nền kinh tế đa
dạng, tạo thuận lợi cho giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Nếu xét về mặt này thì
phần nào nước ta có lợi thế hơn so với các NIEs ở giai đoạn bắt đầu công nghiệp hóa.
Tuy nhiên, không thể coi tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực chủ chốt cho quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nước ta có 3260 km bờ biển. Các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền tài
phán quốc gia rộng gấp ba lần diện tích đất liền, đây là một tiềm năng to lớn và đa
Bối cảnh quốc tế và khu vực vừa tạo ra thời cơ thuận lợi, vừa đặt ra những thử
thách, nguy cơ. Đặc biệt là “nguy cơ tụt hậu” xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong
khu vực vẫn là thử thách to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của ta quá thấp, lại phải đi
lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt. Nước ta lại nằm trong khu vực Châu á-
Thái Bình Dương và Biển Đông, nơi đang còn những diễn biến phức tạp, nơi đang
“tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định”
Dấu ấn của cơ chế quản lý cũ- cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu- bao cấp
chưa được xóa bỏ hết; cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước còn đang trong
quá trình hình thành. Quản lý kinh tế- xã hội còn nhiều yếu kém, thủ tục hành chính
rườm rà, bộ máy hành chính cồng kềnh kém hiệu quả có ảnh hưởng không nhỏ đến
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đến việc thu hút đầu tư, chuyển giao công
nghệ Đặc biệt tệ quan liêu, tham nhũng và suy thoái về phẩm chất, đạo đức của một
bộ phận cán bộ, Đảng viên làm cho các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà
nước bị thi hành sai lệch dẫn tới chệch hướng, đó cũng là mảnh đất thuận lợi cho diễn
biến hòa bình
Từ một điểm xuất phát quá thấp bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khả
năng huy động vốn cho quá trình này rất bị hạn chế, mà vốn là chìa khóa, là điều kiện
hàng đầu để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện nay, trong tổng số vốn dùng
để đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước thì vốn trong nước chỉ có 25% còn 75% là
vay nước ngoài. Quản lý và sử dụng kém hiệu quả cùng với tham nhũng sẽ là nguy cơ
gánh nặng nợ nần lớn lên và khả năng trả nợ khó khăn.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ một cơ cấu kinh tế
mất cân đối và kết cấu hạ tầng kém phát triển là những khó khăn, cản trở đáng kể, đòi
hỏi phải có sự chuyển biến nhanh chóng mới tạo điều kiện để tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước có hiệu quả. Vì vậy, trong kế hoạch 5 năm (1996-2000) Nhà
nước đặc biệt chú ý tới chương trình phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng. Kinh
nghiệm của các NIEs và các nước ASEAN đều cho thấy, ở đâu hệ thống năng lượng,
Vào giữa những năm 80, cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật(hay công nghệ) hiện đại
chuyển sang giai đoạn thứ ba- giai đoạn có nhiều quan điểm khác nhau đặt tên gọi cho
nó. Có người cho rằng đó là giai đoạn vi điện tử; có nhiều ý kiến cho là giai đoạn tin
học hóa; các nhà tương lai học gọi là giai đoạn văn minh trí tuệ- theo họ văn minh này
diễn ra sau văn minh nông nghiệp và văn minh công nghiệp. Tương ứng với giai đoạn
thứ ba cuộc cách mạng này còn có một nội dung mới: điện tử và tin học.
-Về điện tử và tin học: một lĩnh vực vô cùng rộng lớn và hấp dẫn, nhất là lĩnh vực máy
tính, diễn ra theo 4 hướng nhanh(siêu máy tính);nhỏ(vi tính);máy tính có xử lý kiến
thức(trí tuệ nhân tạo); máy tính nói từ xa(viễn tin học).
Từ nội dung cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật, mặc dù có thể còn có ý kiến
nào đó khác nhau, song nhiều ý kiến nhất trí cho vằng cuộc cách mạng này có hai đặc
trưng chủ yếu:
Một là,khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,tức là nó bao gồm cả
khoa học tự nhiên- kỹ thuật lẫn khoa học- xã hội, nhất là khoa học kinh tế; nó do con
người tạo ra thông qua con người- nhân tố trung tâm- nhân tố chủ thể- đến lực lượng
sản xuất. Nó đòi hỏi phải có chính sách đầu tư đúng đắn cho khoa học- kỹ thuật. Ngày
nay, bất cứ một sự tiến bộ nào của kỹ thuật( công nghệ) sản xuất đều phải dựa trên
những thành tựu của khoa học làm cơ sở lý thuyết cho nó.
Hai là, thời gian cho một phát minh mới của khoa học ra đời thay thế cho phát
minh cũ có xu hướng rút ngắn lại và phạm vi ứng dụng của một thành tựu khoa học
vào sản xuất và đời sống ngày càng mở rộng. Đặc trưng này làm cho tài sản cố định
trong quá trình sử dụng, thậm chí vừa mới xây dựng xong không chỉ bị hao mòn hữu
hình mà còn bị hao mòn vô hình nhanh chóng hơn trước; không chỉ liên quan đến sự
tích lũy vốn mà còn liên quan đến sự biến động của giá thành sản phẩm và liên quan
đến tốc độ thay đổi nhanh chóng của các ngành có công nghệ mũi nhọn. Nó đòi hỏi cần
được kết hợp chặt chẽ giữa chiến lược khoa học- kỹ thuật(công nghệ) với chiến lược
kinh tế xã hội.
Nước ta, một nước bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa được tiến hành trong điều kiện thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng khoa
triển theo chiều sâu.
Trong hai địa bàn này, cần ưu tiên địa bàn tại chỗ; nếu cần chuyển sang địa bàn
khác (đi vùng kinh tế mới) phải có sự chuẩn bị chu đáo.
Như trên đã nói vấn đề phân công lao động xã hội có liên quan chặt chẽ với việc
xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý.
Cơ cấu kinh tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: cơ cấu ngành và lĩnh vực kinh tế,
cơ cấu thành phần kinh tế và hướng phát triển trên các vùng kinh tế.
Cơ cấu kinh tế hiểu theo nghĩa hẹp là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa các
ngành, các lĩnh vực kinh tế, giữa các vùng kinh tế .trong đó, quan hệ giữa công
nghiệp, nông nghiêp và dịch vụ là ba bộ phận có tầm quan trọng- “bộ xương” của cơ
cấu kinh tế. Các quan hệ này được xem xét dưới các khía cạnh: trình độ công nghệ, quy
mô, nhịp điệu phát triển giữa chúng.
Xây dựng cơ cấu kinh tế là yêu cầu cần thiết khách quan của mỗi nước trong
thời kỳ công nghiệp hóa. Vấn đề quan trọng là tạo ra một cơ cấu kinh tế tối ưu (hợp lý).
Xây dựng một cơ cấu kinh tế được gọi là tối ưu khi nó đáp ứng được các yêu cầu:
-Phản ánh được và đúng các quy luật khách quan, nhất định là các quy luật kinh tế
-Phù hợp với xu hướng của sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra
như vũ bão trên thế giới.
-Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, ngành, xí nghiệp, cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu.
-Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu hướng sản xuất và đời sống ngày
càng được quốc tế hóa, do vậy , cơ cấu kinh tế được tạo dựng phải là “cơ cấu mở”.
-Xây dựng cơ cấu kinh tế là một quá trình, trải qua những chặng đường nhất định, do
vậy xây dựng cơ cấu kinh tế của chặng đường trước phải sao cho tạo được đà cho
chặng đường sau.
Nước ta qua hàng chục năm xây dựng cơ cấu kinh tế đã đem lại những thành
công nhất định, tạo dựng được một bộ phận cơ sở vật chất, công nghệ nhất định. Song
phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao, bảo đảm vệ sinh, đa dạng hóa mặt hàng, kiểu cách
và nhãn hiệu để phục vụ nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu,tăng nhanh năng
lực và nâng cao trình độ công nghệ chế biến các loại cây công nghiệp dài ngày, lâm sản
và thủy sản.
Thứ ba, phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng tiêu dùng thông thường để thỏa mãn
những nhu cầu tiêu dùng cơ bản, thiết yếu và phổ thông của dân cư, hạn chế tối đa việc
nhập khẩu hàng hóa,nhằm tiết kiệm ngoại tệ, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
trong nước.Mở rộng sản xuất hàng lâu bền, cao cấp để thỏa mãn nhu cầu ngày càng
tăng của dân cư, giảm dần tiến tới thay thế nhập khẩu loại hàng hóa này bằng hàng hóa
sản xuất trong nước.Cần chú ý tới đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, đa dạng
hóa mặt hàng, cải tiến bao bì, giảm giá thành . để nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng hóa sản xuất trong nước. Phát huy lợi thế nhân công và truyền thống sản xuất đẩy
mạnh sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ xuất khẩu, tập trung chủ yếu vào các sản phẩm
may mặc, dệt, da,hàng điện tử, đồ điện gia dụng
Thứ tư, xây dựng, cải tạo và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát
triển các ngành kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài, trước hết ưu tiên cho những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự
phát triển.
Thứ năm, xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu và hết
sức cấp thiết, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, để phát huy nhanh và có hiệu
quả cao.Cụ thể: ngành cơ khí hướng mạnh vào sản xuất công cụ, thiết bị phục vụ công
nghiệp chế biến nông lâm thủy sản và sản xuất hàng tiêu dùng; sản xuất phụ tùng, lắp
ráp một số loại sản phẩm phức tạp, có trình độ kỹ thuật cao; phát triển công nghiệp
điện lực phục vụ quá trình điện khí hóa nước; phát triển một số ngành sản xuất nguyên
liệu vật liệu: dầu khí và lọc dầu, xi măng, luyện cán thép, khai thác khoáng sản .
Thứ sáu, phát triển dịch vụ du lịch, khai thác có hiệu quả lợi thế về tự nhiên,
truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc, phục vụ phát triển kinh tế và cải thiện đời sống
ngoài.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ thế giới đã và đang đóng vai trò rất to
lớn đối với sự nghiệp CNH,HĐH trong tất cả các nước, nhất là những nước có nền
kinh tế kém phát triển. Tuy nhiên, cách thức tiến hành ở các nước lại không giống
nhau, có nước tiến hành bằng cách tự nghiên cứu, tự trang bị công nghệ mới cho các
ngành kinh tế trong nước, có nước tiến hành thông qua chuyển giao công nghệ,cũng có
nước tiến hành bằng cách kết hợp giữa tự nghiên cứu với chuyển giao. Theo kinh
nghiệm của Nhật Bản và các nước NIEs ở thời kỳ công nghiệp hóa, xây dựng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã chứng minh rằng chuyển giao công nghệ là cách làm rẻ
nhất, có hiệu quả nhất để có được công nghệ hiện đại.
Việt Nam, sau một thời gian dài áp dụng không thành công mô hình CNH theo
kiểu Liên Xô(cũ), mà thực chất là mô hình CNH hướng nội, nhờ đường lối đổi mới
kinh tế, Đảng ta đã nhanh chóng vận dụng những bài học thành công về CNH của các
nước khu vực để chuyển sang mô hình CNH hướng ngoại. Điều này đã tạo thuận lợi
cho Việt Nam tham gia vào quá trình chuyển giao công nghệ với các nước trên thế giới
và trong khu vực. Hiện nay trình độ công nghệ của Việt Nam còn rất thấp kém so với
các nước láng giềng, chậm so với Trung Quốc khoảng 10 năm, và so với Đài Loan
khoảng 20-30 năm ở vào thời điểm bắt đầu CNH. Vì vậy, tiếp nhận chuyển giao công
nghệ từ nước ngoài là cần thiết.Tuy nhiên trong quá trình tiếp nhân chuyển giao công
nghệ phải tỉnh táo để tránh nhập công nghệ lỗi thời do các nước thải ra,tránh không để
cho Việt Nam trở thành “bãi thải công nghệ” của các nước phát triển.
Song song với quá trình tiếp nhận chuyển giao công nghệ, Việt Nam còn phải xây
dựng cho mình chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia mang tính tổng
thể lâu dài, bao gồm cả nghiên cứu, chuyển giao, thử nghiệm và ứng dụng. Đại hội
Đảng lần thứ VIII đã khẳng định vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ: “Phát
triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh, coi đó là nhân tố quan trọng
Cuối cùng là, tăng đầu tư bằng nhiều nguồn vốn cho việc nghiên cứu khoa học, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học, phát triển giáo dục và đào tạo, có cơ chế bồi dưỡng và
bảo vệ nhân tài, được coi như “một kế sách bền sâu” để tiến hành CNH,HĐH trên cơ
sở tận dụng thế mạnh của dân tộc và con người của cộng đồng Việt Nam.
3. Phân tích các điều kiện để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta hiện nay:
3.1 Tạo nguồn vốn và sử dụng vốn có hiệu quả
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy nhân tố hàng đầu của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa cũng như của sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế lớn là phải có vốn
lớn.Vốn nhiều hay ít tùy thuộc vào năng lực của cơ chế huy động, quản lý và sử dụng
vốn có hiệu quả hay không.Muốn cho sự nghiệp CNH-HĐH được tiến hành với tốc độ
nhanh cần phải có cơ chế, chính sách và biện pháp huy động được nguồn vốn nhiều
nhất, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả nhất.
Vấn đề huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nước ta. Trước hết, là
huy động nguồn vốn từ nội bộ nền kinh tế trong nước. Đây là nguồn vốn có tính quyết
định, là nhân tố nội lực. Nhờ tăng năng suất lao động xã hội một cách mạnh mẽ và liên
tục mà tạo ra nguồn vốn tự có. Nguồn vốn nội bộ còn được tạo ra từ sự liên doanh liên
kết giữa các ngành, các lĩnh vực, các miền, các vùng của nền kinh tế trong nước.
Nguồn vốn còn được tạo ra thông qua sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty cổ phần;
thông qua việc huy động các khoản tiền nhàn rỗi của dân cư, của các cơ sở kinh tế, các
tổ chức đoàn thể; thông qua các khoản thuế nộp ngân sách Nhà nước
Nguồn vốn nội bộ của nền kinh tế có tính quyết định cho quá trình CNH- HĐH
nhưng vẫn còn hạn hẹp. Các quốc gia trên thế giới cũng như nước ta đều phải dùng
mọi biện pháp để thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua các hình thức: liên doanh,
Khoa học được coi là một hệ thống trí thức của loài người đã hình thành trong
lịch sử và không ngừng phát triển cả về tự nhiên, xã hội và tư duy, cả về các quy luật
vận động phát triển khách quan của chúng,trên cơ sở thực tiễn. Do đó, có thể nói khoa
học là sự phản ánh lý thuyết của thực tiễn.
Sự nghiệp CNH- HĐH nói riêng và phát triển kinh tế- xã hội nói chung ở nước ta
hiện nay “phải thật sự dựa vào khoa học và công nghệ”. Khoa học ở đây bao gồm cả
khoa học xã hội, khoa học tự nhiên,khoa học kỹ thuật và công nghệ; và cùng với chức
năng văn hóa, nó phải đảm bảo cơ sở khoa học cho các quyết định quan trọng của các
cấp quản lý, thực sự là công cụ chủ yếu để nâng cao năng suất lao động; chất lượng và
hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế- xã hội. Chính vì vậy, phải đẩy mạnh việc nghiên
cứu,ứng dụng khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật theo hướng trọng tâm là cải tạo,
đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất hiện có, tận dụng có
hiệu quả công suất thiết bị, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
Cải tiến, hiện đại hóa công nghệ truyền thống, đồng thời hình thành có trọng điểm
một số hướng công nghệ hiện đại như: điện tử và tin học; công nghệ vật liệu mới; công
nghệ sinh học, cũng như một số ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công
nghệ cao tạo cơ sở cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bước phát triển tiếp sau.
Tuy nhiên, do nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, nên ngân sách Nhà
nước chủ yếu chỉ có thể đảm bảo cho việc xây dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học và
triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng có ý nghĩa quốc gia, hoạt động chủ yếu
theo phương thức ký kết hợp đồng nghiên cứu trực tiếp với các cơ sở sản xuất kinh
doanh thuộc các thành phần kinh tế. Đồng thời mở rộng, đa dạng hóa và nâng cao hiệu
quả hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ, tranh thủ sự hợp tác và tài trợ của nước
ngoài, của các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học cũng như trí thức Việt kiều.
Mặt khác, thực tiễn thế giới hiện đại đã cho thấy trong điều kiện hiện nay, nước ta
có nhịp độ phát triển nhanh không nhất thiết phải là nước có tiềm năng nghiên cứu để
cao sẽ bị mất giá khi kỹ thuật tổng hợp silic tinh chất được hoàn thiện;than dầu sẽ bị
mất giá khi kỹ thuật năng lượng mặt trời, gió năng lượng nguyên tử được sử dụng .
3.4 Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật
Công nghiệp hóa đất nước là sự nghiệp của toàn xã hội, trong đó đội ngũ cán bộ
khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý và công nhân lành nghề có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng. Để có được đội ngũ đó phải đẩy mạnh việc đào tạo, Đảng ta đã xác định” Đẩy
mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục,đào tạo khoa học và công nghệ coi đó là quốc sách
hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển.Trước
mắt, phải phổ cập cấp I, nâng cao dân trí, đào tạo nghề cho phần lớn thanh niên, tăng
nhanh số công nhân lành nghề, đào tạo cán bộ nhiều trình độ, đặc biệt là cán bộ quản
lý,nhà kinh doanh, chuyên gia khoa học và công nghệ”
Sự nghiệp đào tạo hiện nay ở nước ta đòi hỏi phải nhanh chóng đổi mới cơ chế
quản lý giáo dục đào tạo,khoa học công nghệ,cho phù hợp với nền kinh tế thị trường
nhiều thành phần theo định hướng XHCN.Phải gắn chặt lĩnh vực này với sản xuất và
các mục tiêu kinh tế xã hội. Muốn vậy,một mặt nhà nước phải tăng đầu tư,mặt khác
phải có chính sách,các hình thức,biện pháp để động viên thúc đẩy toàn dân,các thành
phần kinh tế cùng tham gia đóng góp để đẩy mạnh sự nghiệp quan trọng này,chỉ có vậy
mới nhanh chóng xây dựng được một đội ngũ lao động có trí tuệ thích ứng với sự phát
triển khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới.