LUẬN VĂN:
Thành tựu của công cuộc đổi mới
tạo ra thế và lực mới
Lời mở đầu
Khi nói đến CNH, HĐH là nói đến quá trình dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế cải
tiến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sử dụng kĩ thuật và công nghệ tiên tiến để
đạt được năng suất cao nhất và là cái quyết định cho sự tồn tại của một chế độ xã hội,
nóng muốn đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng như ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng, muốn hiện đại hoá nhanh nhưng nền kinh tế của ta vốn nhỏ bé, phân
tán lạc hậu mà lại đầu tư nhiều vốn kỹ thuật, sức lực xây dựng lớn nhiều cơ sở công
nghiệp nặng nhiều công trình công cộng trong khi đất nước còn nhiều khó khăn to lớn
chưa đủ những tiền đề cần thiết. Chính những sai lầm trên đã dẫn tới hậu quả mất cân
đối lớn trong nền kinh tế, SX phát triển chậm, thu nhập quốc dân, năng suất lao động
thấp, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn nảy sinh nhiều tệ nạn XH.
Đảng ta đã sớm nhận thức ra những sai lầm của mình Đại hội toàn quốc lần thứ
VI của đảng (1986) là cái mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển sang thời kỳ đổi mới.
Đại hội đã nhận định đặc điểm thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là cả một thời
kỳ dài khó khăn traỉ qua nhiều chặng xác định, và chúng ta ở chặng đường đầu tiên.
Nhiệm vụ mục tiêu của chặng đường quá độ đầu tiên là Trong 5 năm trước mắt (1986-
1990) cần tập trung sức người, sức của thực hiện bằng được những mục tiêu của 3
chương trình kinh tế: Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Nội dung
của 3 chương trình kinh tế là sự cụ thể hoá nội dung chính của CNH XHCN trong chặng đường đầu tiên.
Đường lối đổi mới của Đảng đề ra từ đại hội VI đã thực sự đi vào cuộc sống, đã
đạt được những thành quả bước đầu rất quan trọng. Trước tiên là trong lĩnh vực KTXH.
Đời sống nhân dân đã dần dần ổn định, sản lượng lương thực đã đáp ứng được nhu cầu
của cả nước, hàng hoá thị trường đa dạng, lưu thông tương đối thuận lợi. Các cơ sở sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường, phần bao cấp của nhà nước về vốn, tiền lương
giảm đáng kể. Lạm phát được kiềm chế một bước, các cơ sở kinh tế có điều kiện thuận
lợi để hạch toán kinh doanh, đời sống nhân dân giảm bớt khó khăn.
Trên cơ sở phát huy những thành quả đã đạt dược, đại hội lần thứ VII (1991) của
Đảng đã đề ra chủ trương kế thừa, phát huy những ưu điểm đã đạt được, khắc phục những
khó khăn hạn chế mắc phải trong quá trình đổi mới đề ra từ đại hội VI, tiếp tục đưa sự nghiệp
đổi mới của đất nước tiến lên.
Phương hướng và mục tiêu chính mà đại hội VII đã vạch ra là: “ Đẩy lùi và
kiểm soát được lạm phát “ ổn định phát triển nâng cao hiệu quả SX, ổn định từng
những cơ sở SX áp dụng công nghệ truyền thống và công nghệ cơ khí thông thường
không nâng được năng suất và chất lượng sản phẩm không đảm bảo được khả năng
cạnh tranh ngay cả trong trường hợp có sự bảo hộ của nhà nước. Những cơ sở đó không
thể đứng vững, phải thu hẹp hoặc đóng cửa. Sự thật đã diễn ra tại một số nơi trong thời
gian qua.
Về mặt quản lý KT- XH nếu không áp dụng rộng rãi các thành tựu của tin học và
điện tử thì không thể nâng cao được trình độ quản lý lên ngang tầm thời đại, đòi hỏi
cấp bách hiện nay của giao lưu kinh tế. Hiện nay một chính sách rất được quan tâm là, “
Đòn đấm công nghệ cao”. Từ sau thế chiến thứ 2 dựa và chính sách này mà một số nước
như Nhật Bản, Triều Tiên và Đài Loan đã đuổi kịp các nước đi trước, vượt lên trong
nhiều nghành công nghệ cao và đã tạo ra những kỳ tích kinh tế đáng kinh ngạc.
Những biểu hiện của nền kinh tế đã hiện đại hoá được qui định bởi mức sống cao
do cách mạng công nghệ, trình độ chuyên môn cao trong SX và năng suất lao động cao.
Hiện đại hoá kinh tế còn biểu hiện ở sự ra tăng của vốn với những qui mô tích luỹ và
đầu tư hiện đại, sự tham gia rộng rãi vào thị trường trên cơ sở một kết cấu hạ tầng hiện
đại về giao thông vận tải và thông tin liên lạc. HĐH nền kinh tế càng không tách rời bộ
máy hành chính quản lý hữu hiệu, một học vấn càng nâng cao của người lao động, một
sự phổ cập rộng rãi các tri thức khoa học và đổi mới công nghệ.
Bên cạnh HĐH nền kinh tế còn là quá trình HĐH xã hội và chính trị, đây là quá
trình hoàn thiện cơ cấu XH, chuyên môn hoá các chức năng của cơ chế XH, thực hiện cuộc cách mạng tri thức thông qua việc phát triển thông tin, tăng chi phí cho giáo dục,
đảm bảo sự ổn định chính trị, tập trung quyền lực vào nhà nước để tiến hành cải cách và
đổi mới một cách triệt để.
3. Những quan điểm chỉ đạo của Đảng:
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nghị quyết đại hội lần thứ VII ban chấp hành trung ương đảng đã cụ thể hoá
thành phần quan điểm chỉ đạo quá trình CNH, HĐH đất nước như sau:
CNH, HĐH phải theo định hướng XHCN. Định hướng XHCN ở quá trình này
coi đó là sự nghiệp của chính mình thì CNH, HĐH không thể thành công được
Mặt khác, cần thấy rằng để CNH, HĐH thắng lợi, phải phát triển mạnh mẽ kinh
tế nhà nước, làm cho nó thực sự giữ vai trò chủ đạo cả về tiềm lực kinh tế, năng suất lao
động, hiệu quả kinh tế XH thực sự có vai trò hướng dẫn, chi phối nền kinh tế đất nước.
Không như vậy sự nghiệp CNH không tránh khỏi chệch hướng. Không có điều kiện vật
chất để nhà nước có thể quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Quan điểm thứ tư là: Công cuộc CNH, HĐH phải lồng việc phát huy nguồn
lực con người làm yếu tố căn bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, muốn vậy
trong mọi chủ trương, chính sách phải nhằm giải phóng mọi tiềm năng của con
người, phải thường xuyên quan tâm bồi dưỡng trí lực, thể lực, có chính sách sử dụng
nhân tài. Tăng trưởng kinh tế phải gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn
hoá giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng XH, bảo vệ môi trường.
Quan điểm thứ năm là: Coi khoa học công nghệ là nền tảng của CNH, HĐH
kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ tiên tiến tranh thủ đi nhanh vào hiện
đại ở nhiều khâu quyết định. Quan điểm này đặt ra yêu cầu trong điều kiện quốc tế và
sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay. Nếu không đánh giá đúng vai trò nền
tảng của khoa học công nghệ, nếu không có những giải pháp , thì không thể đuổi kịp
các nước, không thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu được. Do đó phải khai thác tối đa
năng lực SX và công nghệ hiện có, tập trung vào những khâu quyết định có khả năng
cạnh tranh sản phẩm, tranh thủ ở những khâu, những lĩnh vực công nghệ có điều kiện và ý nghĩa quyết định. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại,
ưu tiên cho loại công nghệ tốn ít vốn, tạo nhiều việc làm.
Quan điểm thứ sáu là: CNH, HĐH phải lấy hiệu quả KT- XH làm tiêu
chuẩn cơ bản. Để nâng cao hiệu quả kinh tế XH cần:
- Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực SX hiện có.
- Trong phát triển mới, cần ưu tiên qui mô vừa và nhỏ, công nghệ tiến tiến, thu
hồi vốn nhanh. Đồng thời chỉ xây dựng những công trình lớn thật cần thiết và có hiệu
quả.
Từ những quan điểm và chủ trương đổi mới trên, Đảng và Nhà nước đã cụ thể hóa
bằng cơ chế và thành các chính sách, biện pháp thực hiện, đáng kể nhất đó là: Chính
sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, chính sách kinh tế đối ngoại và thu hút vốn đầu
tư nước ngoài, chính sách tài chính - tiền tệ kiềm chế lạm phát, chuyển cơ chế kế hoạch
hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Nhờ vậy mặc dù có "cú sốc" lớn là Liên Xô và các nước Đông Âu tan rã làm mất
đi khoản viện trợ khoảng 1 tỷ đô la năm, bằng gần 7% GNP và mất đi thị trường không
chuyển đổi, mặc dù Mỹ còn gây khó khăn do tiếp tục chính sách cấm vận, nhưng nền
kinh tế đã vượt qua trạng thái suy giảm, giảm lạm phát đáng kể, điều chỉnh cơ cấu kinh
tế hợp lý hơn, tiếp tục công nghệp hóa. Lạm phát từ mức 3 con số: 1986: 587,2%; 1987:
416,77%; 1988: 410,9% giảm xuống còn 2 con số: 1989: 30%; 1990: 52,8%. Trong thời
kỳ 1986-1990 tốc độ tăng bình quân hàng năm của tổng sản phẩm xã hội: 4,8%: thu
nhập quốc dân: 3,9%, giá trị tổng sản lượng công nghiệp: 5,2%, giá trị tổng sản lượng
nông nghiệp: 3,5%; giá trị xuất khẩu: 28%; cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp trong thu
nhập quốc dân sản xuất đã có sự điều chỉnh: Công nghiệp: 30% (1985); 23% (1990);
còn nông nghiệp 47,3% (1985); 46,6% (1990).
Cơ cấu công nghiệp bước đầu có sự chuyển dịch theo hướng thích hợp và có hiệu
quả hơn. Năm 1976 trong cơ cấu giá trị tổng sản lượng công nghiệp ngành điện lực chỉ
chiếm 3,665; cơ khí (bao gồm cả điện tử) 9,65%; hóa chất phân bón, cao su: 8,26% thì
năm 1990 tỷ trọng tương ứng của các ngành đó là 5,1%:15,9%:9,4%. Nếu so sánh giá
trị tổng sản lượng công nghiệp của năm 1990 với năm 1976 thì chỉ số phát triển công
nghiệp của cả nước là 2,13 lần, trong đó: Điện lực 2,96 lần; cơ khí 3,52 lần; hóa chất,
phân bón, cao su: 2,13 lần.
Giữa các ngành công nghiệp nhóm A và công nghiệp nhóm B đã bước đầu có sự
điều chỉnh trong sự phát triển theo hướng chú trọng thích đáng hơn đến phát triển các
ngành công nghiệp nhóm B để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước và để
sử dụng tốt hơn các nguồn lực: vốn, kỹ thuật truyền thống, lao động, công nghiệp nhóm A chiếm 33,8% (thời kỳ 1976 - 1980): 33,5% (thời kỳ 1981-1985) và 32,9% (1990).
(1)
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
(2)
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000
(3)
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Quá trình đổi mới đã tạo nên những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, thành tựu
CNH trong các năm 1991,1992,1993 cao hơn, có chất lượng hơn, đi vào thực chất so
với nhiều năm trước đây. Lạm phát tiếp tục được kiềm chế: chỉ số giá bán lẻ tăng bình
quân tháng của năm 19911 4,4%; 1992:1,3%; 9 tháng đầu năm 1993: 0,5%. Chênh lệch
giá trị nhập và xuất giảm đáng kể.
Sự phát triển của công nghiệp trong những năm đổi mới, không chỉ thể hiện ở tốc
độ tăng trưởng mà quan trọng hơn là ở việc chú trọng hơn tới đổi mới công nghệ, tăng
khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp ở sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản
xuất gắn với thị trường trong và ngoài nước, phát triển nhanh các ngành có lợi thế so
sánh, các ngành tác động tích cực đối với sự phát triển chung của nền kinh tế quốc tế,
khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và đa dạng hóa các loại hình tổ chức
kinh doanh. Ngành dầu khí có sự phát triển vượt bậc. Ngành than bước vào thị trường
thế giới với khối lượng xuất khẩu vượt 1,6 triệu tấn. Ngành sản xuất điện phát triển
mạnh.
Thúc đẩy quá trình thay đổi và phát triển cơ cấu kinh tế từ giản đơn, lạc hậu trì trệ
kém hiệu quả dần dần tiến tới một cơ cấu có nhiều ngành, nhiều thành phần:
Trong những năm đầu của quá trình đổi mới của CNH đã mang sắc thái mới, đã
có sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung và bước đầu đồng bộ hóa, cụ thể hóa bằng cơ chế
và chính sách. Do vậy CNH đã được tiến hành phù hợp hơn với hoàn cảnh quốc tế và
điều kiện, khả năng trong nước, các tiềm tàng, nguồn lực của đất nước bước đầu được
nghiệp có triển vọng dựa trên công nghệ cao tạo tiền đề cho việc đâỷ nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn tiếp theo. Nâng cao năng lực nghiên cứu triển khai
công nghệ hiện đại trong nước, tạo được một đội ngũ cán bộ KHKT giỏi, có khả năng
tiếp cận công nghẹ thế giới, phổ cập các loại hình công nghệ thích hợp trên địa bàn
nông thôn, miền núi. Để thực hiện được những bước nhảy vọt về công nghiệp cần mạnh
dạn tiếp cận, sử dụng công nghệ cao như: Vi điện tử, tin học, tự động hoá, sinh học, vật
liệu mới xóa bỏ quan niệm coi khoa học công nghệ chỉ là công việc của các nhà khoa
học mà phải coi đây là công việc của mọi hoạt động kinh tế xã hội và tập trung cao ở
các dự án quốc gia. Phấn đấu để lực lượng khoa học và công nghệ trở thành một phần
quan trọng ở các khu tập trung công nghệ cao như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Về chính sách giải pháp.
Từ nay đến năm 2000 chúng ta coi việc nhập công nghệ là một mục tiêưu tiên. Nhà
nước vừa đưa ra các định hướng ưu tiên áp dụng các cơ chế chính sách nhằm khuyến
khích việc chuyển giao công nghệ tiên tiến có hiệu quả cao, ngăn chặn việc nhập các
công nghệ lạc hậu , gây ô nhiễm môi trường và các hậu quả xã hội tiêu cực khác, hoặc
cản trở những bứơc phát triển tiếp thu. Đầu tư công nghệ hợp lý để vừa nâng cao năng
suất lao động, chất lượng sản phẩm nghị quyết đại nhiều việc làm. Phát triển các ngành
sản xuất cần nhiều công nhân mà không sử dụng các công nghệ lạc hậu. Với quan điểm
nàychính sách công nghệ của ta là mạnh dạn đi thẳng vào công nghệ hiện đại và chọn
lọc ở những khu vực cần thiết. Đồng thời vẫn sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có
với điều kiện được đồng bộ hoá, cải tiến và nâng cao hiệu quả sử dụng, chú trọng hiện
đại hoá công nghệ truyền thống. Trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân phải ưu tiên hiện
đại hoá công nghệ cho các k hu vực sản xuất nông nghiệp và dịch vụ xuất khẩu, các
ngành nghề có sự tác động đến sự phát triển của các ngành nghề khác như: thông tin
liên lạc, điện, hoá chất, chế tạo máy xây dựng cơ sở hạ tầng.
Các quan điểm mục tiêu chính sách công nghệ nêu trên cần được hệ thống thành các
chương trình, kế hoạch hoá và biện pháp cụ thể mang tính khả thi, phục vụ có hiệu quả
sự nghiệp CNH, HĐH đồng thời phát triển bản thân khoa học . Nhà nước áp dụng các
10% công nghiệp và dịch vụ đạt tới khoảng 90%. Trong công nghiệp thì công nghiệp
chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất (70 - 80%) phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế
biến nhất là chế biến thực phẩm, dệt, da, máy mặc, cơ khí, lắp ráp ô tô, xe máy hàng
điện tử. Đẩy mạnh thăm dò và khai thác dầu khí, sử dụng có hiệu quả nguồn khí đốt.
Xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng về điện, xi măng, luyện cán thép,
phân bón. Hình thành một số ngành mũi nhọn trọng điểm trong vài thập kỷ tới như:
khai thác chế biến dầu khí, công nghệ điện tử, thông tin, du lịch
+ Cơ cấu công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, nông nghiệp.
Trong 5 năm trước mắt chúng ta vẫn phải coi trọng nông nghiệp phát triển kinh tế
nông thôn. Công nghiệp nông thôn cần được phát triển mạnh, xây dựng các nhà máy
chế biến liên kết trực tiếp với việc trồng trọt và khai thác nguyên liệu tại chỗ. Chúng ta
vẫn phải đặc biệt coi trọng phát triển sản xuất lương thực thực phẩm, phấn đấu đạt sản
lượng 30 triệu tấn vào năm 2000. Về cơ cấu công nghiệp trong kế hoạch 5 năm có tính đến việc hình thành các khu
công nghiệp tập trung (khoảng 20 khu) và điểm công nghiệp rải ra xung quanh các thị
trấn và dọc theo một số trục lộ chính. Trừ một số ít khu công nghiệp nặng còn chủ yếu
dành cho các cơ sở công nghiệp nhẹ hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Về phát triển
công nghiệp nặng chúng ta cần tranh thủ thời cơ huy động vốn trong nước và nước
ngoài để xây dựng một số công trình then chốt có tính cấp bách và hiệu quả. Vốn đầu tư
cho các ngành công nghiệp nặng trong 5 năm tới chiếm khoảng 70% tổng vốn đầu tư
cho các ngành công nghiệp, đây là lĩnh vực dùng vốn lớn song rất quan trọng trong sự
phát triển toàn diện.
+ Phân công lao động:
Với đặc điểm nước ta có được lượng lao động nông nghiệp chiếm khoàng 73%
tổng số lao động cả nước. Vì vậy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn liền với việc
điều tiết quá trình phát triển và phân bố lại dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp ở nông
thôn gắn liền với việc đô thị hóa tại chỗ là một nội dung quan trọng của quá trình
chuyển dịch kinh tế và phương hướng đi lên chủ yếu của kinh tế nông thôn trong quá
3. Cần phải có sự lựa chọn các ngành ưu tiên, mũi nhọn dựa trên các tiêu chuẩn
nhất định để có chính sách ưu tiên, ưu đãi phát triển, nhất là chọn một số sản phẩm xuất
khẩu chứ không chỉ dựa vào 1, 2 sản phẩm duy nhất trong các ngành công nghiệp,
ngành nào cần ưu tiên, xếp thứ tự ưu tiên như thế nào?
4. Vấn đề cơ cấu sở hữu trong công nghiệp, giải quyết đúng đắn mỗi quan hệ
giữa quốc doanh và dân doanh, giữa quốc hữu và tư hữu, cần làm rõ ngành nào, lĩnh vực
nào, ở đâu cần phát triển quốc doanh; ngành nào, lĩnh vực nào, ở đâu phải để cho các
thành phần kinh tế khác phát triển. Trong công nghiệp ta dự kiến loại doanh nghiệp thì
để lại sở hữu Nhà nước, loại nào thì cổ phần hóa
5. Vấn đề tổ chức và cán bộ:
a, Vấn đề tổ chức:
Về tổ chức quản lý phải đồng thời giải đáp được các vấn đề sau đây: - Tổ chức quản lý tài sản và vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp Nhà nước
như thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng của nó, trong tình hình số lượng doanh
nghiệp Nhà nước còn rất nhiều (trên 6000).
Các mô hình tổ chức tổng công ty, tập đoàn, tổng cục quản lý tài sản và vốn của
quốc doanh có làm được chức năng chủ sở hữu không? hay vẫn "cha chung không ai
khóc", "nhiều sãi nhưng không ai đóng cửa chùa"?
- Để cho các doanh nghiệp được tự do kinh doanh theo pháp luật của Nhà nước
cần phải xóa bỏ chế độ chủ quản, cấp chủ quản. Nhưng vấn đề tồn tại lớn là giải quyết
mối quan hệ giữa tự do kinh doanh với sự can thiệp của Nhà nước, sự kiểm tra, kiểm
soát của Nhà nước đến đâu thì có tác dụng ngăn ngừa, vừa có tác dụng thúc đẩy phát
triển.
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước còn có vấn đề quan hệ giữa người chủ sở hữu
với người sử dụng.
b, Vấn đề cán bộ:
Cán bộ quyết định tất cả là một nguyên lý luôn luôn đúng và đúng với mọi trường
hợp. Không có đội ngũ viên chức Nhà nước giỏi có phẩm chất thì không có nền hành
cả dân tộc ta đang bắt tay vào sự nghiệp trồng người với quy mô lớn, chất lượng cao.
Con người được đào tạo có tri thức và được nhân lên bởi lòng yêu nước, đoàn kết trong
từng cộng đồng và cả dân tộc là sức mạnh như sóng thần của Việt Nam. Chỉ có đào tạo
và huy động mọi nguồn lực trí tuệ của nhân dân, đoàn kết dân tộc mới giữ vững và xây
dựng Việt Nam hưng thịnh, bền vững.
Ngoài ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp thu đổi mới và mở cửa, thực hiện chính
sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa cũng như thúc đẩy quá trình
hội nhập thế giới là điều kiện không thể thiếu được nhằm tạo ra môi trường quốc tế
thuận lợi đảm bảo cho sự triển khai sự nghiệp CNH-HĐH đất nước được thực hiện
thắng lợi.
Tài liệu tham khảo
1. Tư bản quyển 1, tập 2
2. Văn kiện Đại hội 6-7 và giữa các nhiệm kỳ
3. Giáo trình Kinh tế chính trị tập 2, chương 11, chương 8 Viện ĐH Mở.
4. Khoa học công nghệ và Kinh tế thị trường ở Việt Nam
NXB Thống kê năm 1994.