Luận văn: Nghiên cứu khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam nhằm đẩy mạnh xuất khẩu - Pdf 11


Luận văn
Nghiên cứu khả
năng cạnh tranh của gốm mỹ
nghệ Việt Nam nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu 1
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………………………….…………….…….
CHƯƠNG 1
: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH VÀ KHẲNG ĐỊNH SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO KHẢ
NĂNG CẠNH TRANH CỦA GỐM MỸ NGHỆ VIỆT NAM………………………
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh.………
1.1.1. Đònh nghóa về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, khả năng cạnh tranh…
1.1.2. Các lý thuyết cạnh tranh…….….…………………………….……………………………………………
1.1.3. Các chỉ số đánh giá khả năng cạnh tranh – Phương pháp đánh giá
khả năng cạnh tranh…………………………………………………………………………………………………………
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh………………………….………
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm mỹ
nghệ Việt Nam ……………………………………………………………………………………………………………….……….……
1.2.1. Gốm mỹ nghệ …….…………………….……………………………………………………………………… …
1.2.2. Vai trò của gốm mỹ nghệ và xuất khẩu gốm mỹ nghệ………………………….
1.2.3. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ
Việt Nam………………………………………………………………………………………………………………………………


26
30

37
37
39

40

49
50
51
54
54
56

56
56
62

2
2.2.1. Đánh giá khả năng cạnh tranh qua so sánh đơn giá bán sản phẩm….
2.2.2. Đònh vò khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam qua
phân tích đánh giá của thò trường nhập khẩu …………….…………………………………………
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ
Việt Nam………………………………………………………………………………………………………………………………….….…


67
75
75

79

95
95
95
123
132 134 134
134
134
135

136
136

140
142
151

155

Bảng 2.12: So sánh và kiểm đònh mức độ hài lòng của nhà nhập khẩu gốm mỹ
nghệ về chất lượng sản phẩm đối với Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh …………
Bảng 2.13: So sánh và kiểm đònh mức độ hài lòng của nhà nhập khẩu gốm mỹ
nghệ về giá đối với Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh ………………………………………………
Bảng 2.14: So sánh và kiểm đònh mức độ hài lòng của nhà nhập khẩu gốm mỹ
38

42
45
68
69

73

76
78

78
80
80
81

82
83

85

86
88

89

90 91 92
99
99
101
102

107
108
109
110
111
111
112

113

5
Bảng 2.32: Bảng so sánh giá bán FOB giữa sản phẩm Bát Tràng và Thái Lan…
Bảng 2.33: Bảng so sánh một số yếu tố sản xuất chính giữa Việt Nam – Trung
Quốc – Tháilan – Malaysia ………………………………………………………………………………………………………

155 6
LỜI MỞ ĐẦU
1 – Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Gốm mỹ nghệ Việt Nam là một mặt hàng đặc biệt phản ánh văn hóa truyền
thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Gốm mỹ nghệ Việt Nam đã được thò trường
nước ngoài ưa chuộng, điều đó phản ánh qua kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng
cao từ 22,4 triệu USD kim ngạch xuất khẩu năm 1995 đã tăng liên tục và đạt mức
147,5 triệu USD vào năm 2004. Thò trường xuất khẩu của ngành gốm mỹ nghệ cũng
không ngừng được mở rộng từ chỗ chỉ xuất khẩu theo Nghò đònh thư vào các thò
trường Xã hội Chủ nghóa trong thời kỳ bao cấp, ngày nay gốm mỹ nghệ Việt Nam
đã xuất hiện tại hầu hết các thò trường lớn có yêu cầu cao, như: Hoa Kỳ, Châu Âu,
Nhật Bản, các nước Trung Đông và Bắc Mỹ vv. Nhờ sự phát triển tích cực này đã
thu hút đầu tư mở rộng sản xuất một cách mạnh mẽ tại các vùng sản xuất lớn như tại
Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai, Vónh Long vv, và đã tạo ra nhiều công ăn việc
làm cho người lao động. Đẩy mạnh xuất khẩu gốm mỹ nghệ còn có ý nghóa quan
trọng là quảng bá văn hoá truyền thống của Việt Nam trên trường quốc tế và là cầu
nối giao lưu văn hoá với các dân tộc khác trên thế giới, giúp Việt Nam nhanh chóng
hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực và thế giới.

cấp độ khả năng cạnh tranh của sản phẩm gốm mỹ nghệViệt Nam.
Phạm vi nghiên cứu :
- Về không gian: Luận án không nghiên cứu tản mạn tại những đòa phương,
những làng nghề sản xuất gốm nhỏ lẻ rải rác nhiều nơi, mà chỉ tập trung nghiên cứu
thực đòa tại những vùng sản xuất chủ lực của Việt Nam, như: Bát Tràng, Bình
Dương, Đồng Nai, Vónh Long, vì ngành sản xuất gốm mỹ nghệ tại những đòa phương
này đã đóng góp tới hơn 95% kim ngạch xuất khẩu gốm của cả nước.
Song song với việc nghiên cứu sản xuất kinh doanh gốm mỹ nghệ trong nước,
để có thể đònh vò được khả năng cạnh tranh của ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam, luận
án còn nghiên cứu và so sánh với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu tại nước ngoài,

8
như: Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, chứ không so sánh với tất cả các quốc gia
khác trên thế giới cũng có ngành sản xuất gốm mỹ nghệ phát triển.
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động sản xuất – kinh doanh
xuất khẩu gốm mỹ nghệ Việt Nam trong vòng 5 năm gần đây, kể từ năm 1999 đến
hết năm 2004.
3 – Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng và phạm vi đề tài, mục đích nghiên cứu của luận án bao
gồm :
* Hệ thống lại những học thuyết về cạnh tranh nhằm xác đònh sự cần thiết phải
nâng cao khả năng cạnh tranh cho gốm mỹ nghệ Việt Nam.
* Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm mỹ
nghệ của một số quốc gia, như : Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia nhằm rút ra những
bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam.
* Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh gốm mỹ nghệ Việt Nam để khẳng
đònh sự cấp thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ.
* Phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh và tác động của các nhân tố ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ.

3- Khảo sát tại các thò trường xuất khẩu: Để đònh vò khả năng cạnh tranh của
gốm mỹ nghệ Việt Nam so với các đối thủ ngay tại thò trường xuất khẩu, tác giả đã
tiến hành trực tiếp thu thập đánh giá của hơn 112 nhà nhập khẩu trong các đợt tham
gia Hội chợ Thương mại tại Chicago, Frankfurt, Cologn, HongKong, Melbourn,
Birmingham, Tokyo, Osaka… và trong các cuộc đàm đàm phán trực tiếp với khách
hàng tại trong và ngoài nước. (phụ lục số 5 và 6)
5 – Những đóng góp khoa học mới của luận án

Cho đến nay, tại Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề phát triển xuất khẩu gốm mỹ nghệ như sau :
1 - Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ : “Những giải pháp đẩy mạnh
xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam” do PGS. TS. Đòan Thò Hồng Vân làm chủ

10
nhiệm. Trong đó, trọng tâm nghiên cứu phân tích thực trạng sản xuất - xuất khẩu
gốm mỹ nghệ Việt Nam và xác đònh những nguyên nhân cơ bản kìm hãm tiềm năng
xuất khẩu của ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam từ đó đề ra những giải pháp nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu trong thời gian sắp tới.
2 – Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh : “Nghiên cứu xây dựng chiến lược,
đề xuất giải pháp thực hiện chương trình hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Vónh
Long đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” do GS. TS. Võ Thanh Thu làm
chủ nhiệm đề tài, trong đó đã nghiên cứu và xây dựng các chiến lược nâng cao khả
năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm mỹ nghệ của tỉnh Vónh Long trong một loạt
chiến lược tổng thể nâng cao khả năng cạnh tranh các lực lượng kinh tế của tỉnh
Vónh Long đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
3 – Đề án Phát triển ngành gốm mỹ nghệ xuất khẩu Vónh Long từ năm
2004 đến năm 2010 do Sở Công nghiệp tỉnh Vónh Long nghiên cứu. Nội dung chủ
yếu nghiên cứu những đặc điểm cụ thể về ngành gốm mỹ nghệ Vónh Long, phân
tích các điểm yếu, điểm mạnh, thách thức để đề xuất những biện pháp phát triển
ngành gốm mỹ nghệ của riêng Tỉnh Vónh Long.

đến khả năng cạnh tranh của ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam.
3 . Nêu những bài học kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của các quốc
gia, như : Trung Quốc, Thailand, Malaysia, để ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam có thể
học tập nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
4 . Xây dựng những đònh hướng phát triển và những giải pháp cụ thể có tính khả
thi cao để có thể nhanh chóng nâng cao khả năng cạnh tranh, tận dụng những cơ hội
mới của hội nhập, đủ khả năng đối phó với cạnh tranh quốc tế nhằm củng cố thò
trường truyền thống và không ngừng mở rộng thò trường xuất khẩu cho ngành gốm
mỹ nghệ Việt Nam.
12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
VÀ KHẲNG ĐỊNH SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO KHẢ
NĂNG CẠNH TRANH CỦA GỐM MỸ NGHỆ VIỆT NAM
_______________
Để phân tích mối quan hệ giữa khả năng cạnh tranh và tác động của nó đối
việc mở rộng thò trường xuất khẩu cho ngành gốm mỹ nghệ, trước hết cần tìm hiểu
những khái niệm, những đònh nghóa về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, khả năng cạnh
tranh, những yếu tố tạo nên cạnh tranh cũng như các áp lực tác động đến khả năng
cạnh tranh. Bên cạnh đó cần nghiên cứu các bài học kinh nghiệm từ chính các đối
thủ cạnh tranh là những nước trong khu vực và phân tích sự thiết yếu của việc nâng
cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm mỹ nghệ Việt Nam. Từ những cơ sở
nghiên cứu trên đề xuất những giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm giữ
vững mở rộng thò trường xuất khẩu.
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH.
1.1.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ CẠNH TRANH, LI THẾ CẠNH TRANH, KHẢ NĂNG

lợi thế cạnh tranh. Adam Smith thì cho rằng: lợi thế cạnh tranh dựa trên cơ sở lợi thế
tuyệt đối về năng suất lao động, năng suất lao động cao nghóa là chi phí sản xuất
giảm, muốn tăng năng suất lao động thì phải phân công lao động và chuyên môn
hoá sản xuất. [50]
David Ricardo cho rằng: lợi thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào lợi thế
tuyệt đối, mà còn phụ thuộc vào cả lợi thế tương đối tức là lợi thế so sánh và nhân
tố quyết đònh tạo nên lợi thế cạnh tranh vẫn là chi phí sản xuất nhưng mang tính
tương đối. Đối với quan điểm của Heckscher-Ohlin-Samuel thì lợi thế cạnh tranh là
do lợi thế tương đối về mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động. Nhân

14
tố quyết đònh hình thành lợi thế cạnh tranh là chi phí về vốn và chi phí về lao
động.[18]
Theo Michael. E. Porter, lợi thế cạnh tranh trước hết dựa vào khả năng duy trì
một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hóa sản phẩm so với đối
thủ cạnh tranh như: chất lượng sản phẩm dòch vụ, mạng lưới phân phối, cơ sở vật
chất, trang bò kỹ thuật.[75]
Theo tác giả : lợi thế cạnh tranh là cái làm cho doanh nghiệp khác biệt hơn
so với đối thủ cạnh tranh (làm tốt hơn) hoặc làm những cái mình có mà đối thủ
không có (là những cái mà doanh nghiệp dùng để xây dựng chiến lược cạnh tranh),
nhờ đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu nhất đònh của mình.
1.1.1.3. Khả năng cạnh tranh

Theo đònh nghóa trong Đại Từ điển Tiếng Việt, khả năng cạnh tranh được
đònh nghóa là “khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa
cùng loại trên cùng một thò trường tiêu thụ” [45]
Theo quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống thì
năng lực cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp được xem xét qua lợi thế so sánh về
chi phí sản xuất và năng suất.
Quan điểm của lý thuyết tổ chức công nghiệp thì xem xét khả năng cạnh

• Cạnh tranh giữa các ngành thông qua khả năng luân chuyển tư bản để từ
đó các nhà tư bản chia nhau giá trò thặng dư.
Lý luận cạnh tranh của Mác thể hiện ở 4 nội dung cơ bản như sau :
1 / Quy luật cạnh tranh là quy luật tác động bởi quy luật giá trò thặng dư.
Cạnh tranh trong nền kinh tế hàng hóa lấy quy luật giá trò làm tiền đề, tác dụng tích
cực ở chỗ nó có vai trò điều tiết, phân phối các yếu tố sản xuất, kích thích lực lượng
sản xuất phát triển, đào thải cái lạc hậu, dựa trên tiền đề công bằng ngang giá trong
trao đổi hàng hóa.
2 / Cạnh tranh là sức mạnh thúc đẩy gia tăng giá trò thặng dư tương đối.
Thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động xã hội tất yếu, trên tiền đề nâng

16
cao năng suất xã hội. Trong hiện thực tư bản chủ nghóa, việc nâng cao năng suất lao
động xã hội được thực hiện nhờ các công ty theo đuổi giá trò thăng dư siêu ngạch, do
đó cạnh tranh diễn ra tự do hơn, triệt để hơn. Lợi ích thu được từ giá trò thặng dư
tương đối thôi thúc các công ty phát triển công nghệ, cuộc cách mạng về khoa học
kỹ thuật một lần nữa trở thành động lực cơ bản để cho các nhà tư bản chiếm hữu và
phân chia giá trò thặng dư tương đối.
3 / Cạnh tranh thúc đẩy qúa trình lưu thông các yếu tố của sản xuất. Theo
Mác thì tích luỹ tư bản và tái sản xuất mở rộng là xu thế phát triển của chủ nghóa tư
bản. Bởi vì, trước hết cạnh tranh gây sức ép từ bên ngoài, buộc các nhà tư bản phải
tích luỹ tư bản, tăng cường thực lực để chiến thắng trong cạnh tranh, họ phải đầu tư
ngày càng nhiều tư bản để mở rộng sản xuất, áp dụng công nghệ mới, giảm chi phí
sản xuất và nâng cao năng suất lao động. Năng suất lao động lại bò chi phối bởi kỹ
thuật sản xuất, quy mô sản xuất và hoạt động kinh doanh. Việc nâng cao trình độ kỹ
thuật sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh diễn ra trong cạnh tranh gay
gắt. Kết quả là cạnh tranh làm cho tư bản, sức sản xuất không ngừng chuyển dòch từ
ngành có lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao và cạnh tranh cũng phát triển
trong nội bộ của một ngành, cạnh tranh càng gay gắt thì tài nguyên về kinh tế xã
hội, tự nhiên càng đựơc phân phối lại một cách hợp lý hơn. Dẫn đến kết quả điều

1.1.2.2. Thuyết cạnh tranh của Adam Smith

Adam Smith chủ trương tự do cạnh tranh, ông cho rằng cạnh tranh có thể phối
hợp các hoạt động kinh tế một cách nhòp nhàng và có lợi cho xã hội, vì cạnh tranh
trong quá trình của cải của quốc gia tăng lên, chủ yếu diễn ra thông qua thò trường
và giá cả, do đó cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với thò trường, tự do thúc đẩy con
người thực hiện các công việc một cách tốt hơn và năng suất hơn. Do đó, cạnh tranh
có thể khơi dậy nỗ lực của con người và làm cho của cải quốc gia tăng lên.
Smith còn cho rằng, cạnh tranh có thể điều tiết sự phù hợp trong quan hệ giữa
sản xuất và nhu cầu xã hội, trong điều kiện cạnh tranh, do có nhiều người cùng tham
gia nên họ phải thường xuyên theo dõi sự biến động của thò trường, họ còn phải chú

18
ý tới sự biến động cung cầu và áp lực cạnh tranh để điều chỉnh sản lượng cho thích
ứng với tình hình thay đổi cung cầu và áp lực cạnh tranh, như vậy cạnh tranh có thể
làm cân bằng cung cầu xã hội. Cạnh tranh còn có tác dụng nâng cao năng lực của
lao động, điều tiết, phân phối các yếu tố tư bản một cách hợp lý, cạnh tranh kích
thích người lao động rèn luyện và nâng cao kỹ năng lao động. Việc tuyển chọn lao
động làm cho các chủ thể cạnh tranh với nhau làm cho tiền lương có thể tăng lên
hoặc giảm xuống, sức lao động và tư bản có thể tự do di chuyển giữa các ngành và
công ty. [50]
Thuyết cạnh tranh của Adam Smith giúp làm rõ lợi ích của cạnh tranh trong
chiến lược phát triển ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam, theo đó các doanh nghiệp cần
phải gắn kết chặt chẽ sản xuất với thò trường, đặc biệt là thò trường xuất khẩu để cải
tiến đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, cải tiến chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng
với yêu cầu ngày càng cao của thò trường và khách hàng. Quá trình cải tiến để đáp
ứng cho thò trường cũng giúp cho ngành gốm mỹ nghệ nâng cao khả năng cạnh tranh
của mình khi tham gia vào thò trường xuất khẩu…
1.1.2.3. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael .E.PorterNguy cơ đe dọa của những người mới vào cuộc
Quyền trả Quyền
giá của thương
Người bán lượng của
Người mua
Đe dọa từ sản phẩm thay thế Các đối thủ cạnh tranh trong
ngành Ma
ä
t đo
ä
của các nhà ca
ï
nh tranh
Người
cung cấp

các nguồn tài nguyên, vốn, nhân lực… đồng thời cùng nhau thực hiện các chiến lược
mở rộng thò trường một cách hiệu quả .
1.1.3. CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH – PHƯƠNG
PHÁP ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
1.1.3.1. Các khái niệm về cấp độ khả năng cạnh tranh 21
- Khả năng cạnh tranh quốc gia: là một khái niệm phức hợp, bao gồm các
yếu tố ở tầm vó mô, đồng thời cũng bao gồm năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong cả nước. Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế
đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút đựơc đầu tư, bảo đảm ổn đònh kinh tế xã hội,
nâng cao đời sống của người dân.
- Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thò
phần, khả năng tổ chức, quản trò kinh doanh, áp dụng công nghệ tiên tiến, hạ thấp
chi phí sản xuất nhằm thu lợi nhuận cao hơn của doanh nghiệp trong môi trường
cạnh tranh trong nước và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay
nhiều sản phẩm và dòch vụ, do đó có thể phân biệt khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp với khả năng cạnh tranh của sản phẩm dòch vụ.
- Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dòch vụ: là khả năng trội hơn của một
loại hàng hoá, dòch vụ so với sản phẩm, dòch vụ cùng loại trên thò trường tại một thời
điểm; sản phẩm, dòch vụ có khả năng cạnh tranh cao hơn có thể đánh bại sản phẩm
dòch vụ cùng loại để chiếm lấy thò phần lớn hơn. Do đó khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, dòch vụ được đo bằng thò phần của sản phẩm hay dòch vụ cụ thể trên thò
trường.
Ba cấp độ khả năng cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo
điều kiện cho nhau, chế đònh và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có khả năng
cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, ngược
lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, môi trường kinh
doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vó mô phải rõ ràng, có

Các nhân tố đánh giá khả năng cạnh tranh quốc gia còn có thể chia thành 2 chỉ số :
* Chỉ số cạnh tranh tăng trưởng (Growth Competitiveness Index - GCI ) :
Được sử dụng để đo lường các nhân tố đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP
đầu người, gồm ba nhóm chỉ số nhỏ có tác động lớn đến năng lực cạnh tranh về mức
tăng trưởng: sáng tạo kinh tế (trình độ công nghệ), môi trường vó mô về tài chính
tiền tệ (đo lường tính hiệu quả của hệ thống tài chính thông qua tỷ lệ tiết kiệm và

23
đầu tư) và hội nhập quốc tế (đo mức độ mở cửa thương mại –đầu tư hội nhập kinh tế
của quốc gia).
** Chỉ số cạnh tranh hiện tại (Current Competitiveness Index - CCI):
Nhằm xác đònh các nhân tố nền móng tạo ra năng suất hiện tại cao và củng
cố kết quả kinh tế hiện tại, được đo lường bằng mức GDP trên đầu người. Chỉ số
cạnh tranh hiện tại là phương pháp tổng hợp năng lực cạnh tranh vi mô với hai nhóm
chỉ số nhỏ:
Nhóm thứ nhất : Chỉ số đánh giá chiến lược và hoạt động của công ty:

Khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia đều xuất phát từ khả năng cạnh tranh
của mỗi doanh nghiệp. Ở cấp doanh nghiệp, lợi thế cạnh tranh thể hiện ở chi phí
thấp hoặc ở tính chất độc đáo, phân biệt với sản phẩm khác (bằng chất lượng, tính
năng sản phẩm, các dòch vụ sau khi bán hàng). Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
phụ thuộc vào việc lựa chọn chiến lược cạnh tranh và vào các hoạt động tạo ra, tìm
kiếm, vận dụng và duy trì lợi thế cạnh tranh.
Việc lựa chọn chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào cấu
trúc ngành công nghiệp mà doanh nghiệp dự đònh tham gia việc xác lập vò trí của
doanh nghiệp trong ngành công nghiệp được lựa chọn. Những lợi thế cạnh tranh trên
có thể xuất hiện ở bất kỳ khâu nào trong toàn bộ quy trình sản xuất, kinh doanh bao
gồm các hoạt động cơ bản (hoạt động cung ứng đầu vào của sản xuất, hoạt động sản
xuất, hoạt động cung ứng đầu ra, tiếp thò, dòch vụ sau bán hàng) và các hoạt động
phụ trợ (cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, quản lý nguồn nhân lực, phát triển công

Đối với ngành gốm mỹ nghệ, người ta thường dùng các chỉ số riêng phù hợp
với tính chất của sản phẩm thủ công mỹ nghệ để đánh giá khả năng cạnh tranh của
sản phẩm và của ngành như sau:
* Chỉ số về giá bán đơn vò sản phẩm.
* Chỉ số về chất lượng sản phẩm và chất lượng bao bì đóng gói.
* Chỉ số đo lường tốc độ đổi mới, mức độ đa dạng và mức độ phù hợp của
kiểu dáng, mẫu mã đối với thò trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status