Lời mở đầu
Kinh nghiệm thế giới cho thấy để thị trường chứng khoán hoạt động có
hiệu qủa và phát triển thì vai trò của công ty chứng khoán trong việc tư vấn
chứng khoán cho khách hàng là một trong những khâu quan trọng cho các
doanh nghiệp và nhà đầu tư trên thị trường. Đối với thị trường chứng khoán
Việt Nam đã từng bước đi vào hoạt động ổn định, vai trò của các công ty
chứng khoán cũng đã bắt đầu phát huy tác dụng. Tuy nhiên, việc tư vấn cho
khách hàng tại các công ty chứng khoán hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế đối
với doanh nghiệp,nhà đầu tư cũng như các tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Đồng thời đây vẫn còn là một lĩnh vực hết sức mới mẻ đối với công ty chứng
khoán Việt Nam, nếu chúng ta không sớm tổ chức được một hệ thống chuẩn
mực nghiệp vụ tư vấn cho các công ty chứng khoán một cách chính xác và
kịp thời đến doanh nghiệp và nhà đầu tư thì không những không đảm bảo
được kết quả hoạt động của thị trường chứng khoán mà còn khó lấy được
lòng tin của công chúng đầu tư tham gia thị trường.
Vì vậy, một đòi hỏi cấp thiết của thị trường chứng khoán là cần có
những công ty chứng khoán làm nhiệm vụ tư vấn, giúp đỡ về chuyên môn cho
các thành phần tham gia thị trường. Xuất phát từ lý do trên, đề tài “Nâng cao
hiệu quả hoạt động tư vấn của Công ty Cổ phần chứng khoán Bảo Việt
(BVSC)” được lựa chọn với mục tiêu nghiên cứu cách thức thực hiện hoạt
động tư vấn và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn cho
các công ty chứng khoán.
Chuyên đề được chia làm 3 phần:
Chương 1: Hiệu quả hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tư vấn của BVSC
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn của BVSC
Chương 1: Hiệu quả hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán
(CTCK)
1.1. Hoạt động tư vấn của CTCK
1.1.1. Khái quát về CTCK
Khái niệm
đầu tư và tổ chức phát hành không phải mua bán trực tiếp chứng khoán với
nhau, điều này giúp giảm chi phí huy động cho tổ chức phát hành.
+ Đối với nhà đầu tư
Trên TTCK, giá cả các loại hàng hóa biến động thường xuyên. Trong khi
đó các nhà đầu tư không phải ai cũng có đủ điều kiện, khả năng nắm bắt hoặc
xử lý được các thông tin, diễn biến trên TTCK để đưa ra các quyết định đầu
tư hiệu quả. Nhờ lợi thế của một tổ chức trung gian, chuyên môn hoá cao làm
cầu nối cho các bên mua bán gặp nhau, các CTCK giúp cho nhà đầu tư tiết
kiệm được chi phí, thời gian, công sức trong từng giao dịch, giúp nâng cao
tính thanh khoản của thị trường.
+ Đối với TTCK
Trên thị trường sơ cấp, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng
khoán, CTCK thực hiện xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá
phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành. Thông thường
mức giá phát hành do các CTCK xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu và
thỏa thuận với các nhà đầu tư tiềm năng lớn trong đợt phát hành đó và tư vấn
cho tổ chức phát hành.
Trên thị trường thứ cấp, CTCK có vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá chính
xác giá trị khoản đầu tư của mình. Toàn bộ các lệnh mua bán chứng khoán
được tập hợp tại các thị trường giao dịch tập trung thông qua các CTCK, và
trên cơ sở đó giá chứng khoán sẽ được xác định theo quy luật cung cầu. Ngoài
ra, chính hoạt động tự doanh của các CTCK cũng góp phần điều tiết giá
chứng khoán.
Các CTCK thực hiện cơ chế giao dịch chứng khoán trên cả thị trường sơ
cấp và thị trường thứ cấp. Từ đó, các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi
chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại, làm tăng tính thanh khoản cho các
tài sản tài chính.
+ Đối với cơ quan quản lý
CTCK thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán, nắm giữ các tài
khoản giao dịch của khách hàng, vì vậy nó có được thông tin về các giao dịch
CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), Trung tâm giao dịch chứng
khoán (TTGDCK) hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu
trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, CTCK phải mở tài khoản giao dịch
chứng khoán và tiền cho khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa khách
hàng và công ty. Trong trường hợp khách hàng của CTCK mở tài khoản lưu
ký tại tổ chức lưu ký là ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, CTCK có trách nhiệm hướng dẫn các thủ tục giao dịch, mua bán
cho khách hàng và phải ký hợp đồng bằng văn bản với tổ chức lưu ký. Phí
môi giới thường được tính phần trăm trên tổng giá trị của một giao dịch.
Hiện nay có hai loại hình môi giới chứng khoán là môi giới chứng khoán
niêm yết và môi giới chứng khoán chưa niêm yết.
Môi giới chứng khoán niêm yết: Chứng khoán niêm yết là chứng khoán
đáp ứng các yêu cầu về niêm yết theo quy định và được giao dịch tại
SGDCK/TTGDCK. Việc môi giới chứng khoán niêm yết được thực hiện
thông qua hệ thống tài khoản giao dịch chứng khoán theo quy trình giao dịch
của SGDCK và TTGDCK. Mô hình giao dịch chứng khoán niêm yết hiện nay
cụ thể như sau:
1.Khách hàng mở tài khoản giao dịch và đặt lệnh mua, bán chứng khoán.
2.CTCK kiểm soát số dư tiền và chứng khoán của khách hàng.
3.Chuyển lệnh cho đại diện giao dịch tại SGD/TTGDCK.
4.Đại diện giao dịch nhập lệnh vào hệ thống của SGD/TTGDCK.
5.SGD/TTGDCK thực hiện so khớp lệnh và trả kết quả về CTCK.
6.CTCK thông báo cho khách hàng kết quả giao dịch đã được thực hiện.
Sơ đồ 1: Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết
Môi giới chứng khoán chưa niêm yết: Chứng khoán chưa niêm yết là
chứng khoán chưa thực hiện niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên SGD/
TTGDCK. Việc môi giới chứng khoán chưa niêm yết được CTCK thực hiện
thông qua các hợp đồng ủy thác hoặc trung gian mua bán chứng khoán. Thị
Thứ hai, các CTCK thực hiện hoạt động tự doanh bằng hình thức mua
chứng khoán chưa niêm yết trên thị trường OTC. Tuy nhiên hoạt động này
phải tuân thủ những hạn mức do pháp luật quy định.
Ngoài ra, một hoạt động tự doanh phổ biến hiện nay của một số CTCK
là việc mua chứng khoán niêm yết lô lẻ, sau đó CTCK sẽ gộp lại thành lô
chẵn để niêm yết và có thể bán lại trên SGDCK và Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán (TTGDCK). Có thể thấy nghiệp vụ mua lô lẻ này tương tự với
nghiệp vụ "xanhdica mua bao chứng khoán", chỉ khác là CTCK mua lẻ chứng
khoán từ nhiều nhà đầu tư rồi niêm yết trên SGDCK và TTGDCK trong khi
đó xanhdica mua bao hết chứng khoán của công ty mới phát hành. Đây là một
lĩnh vực có khả năng mang lại lợi nhuận tương đối lớn cho các CTCK. Giá
mua lô lẻ được xác định bằng thỏa thuận giữa khách hàng bán với CTCK, do
đó các CTCK có điều kiện để đưa ra mức giá phù hợp để thu hút khách hàng,
tạo sự chủ động cho các CTCK trong hoạt động kinh doanh của mình.
Hoạt động tự doanh hiện nay được xem là một trong những hoạt động
quan trọng nhất của các CTCK tại Việt Nam trong việc nâng cao lợi nhuận.
Tuy nhiên, do nghiệp vụ tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợi ích
nên các nước thường quy định các CTCK phải tổ chức thực hiện hai nghiệp
vụ ở hai bộ phận riêng biệt nếu CTCK đó thực hiện cả hai nghiệp vụ.
Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay
toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng
khoán còn lại chưa được phân phối hết.
Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng
nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát hành.
Hiện nay trên thế giới có một số hình thức bảo lãnh phát hành sau:
* Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh
phát hành cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân
phối hết hay không.
hành chứng khoán.
Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn tài chính và đầu tư chứng
khoán là việc CTCK thông qua hoạt động phân tích để dưa ra các lời khuyên,
phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác
liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng. CTCK sẽ
nhận được phí hoa hồng cho công việc tư vấn của mình.
Đối với các loại hình tư vấn khác, ví dụ như tư vấn pháp luật thì tính
chính xác của lời khuyên là cần thiết và có khả năng diễn ra đúng trên thực tế.
Tuy nhiên, đối với hoạt động tư vấn chứng khoán, do đặc điểm riêng trong
ngành là giá cả thường luôn biến động nên việc tư vấn về giá trị chứng khoán
rất khó khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn về lợi ích. Đặc biệt là
với hoạt động này, các nhà tư vấn có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc về
giá trị và xu hướng giá cả của các loại chứng khoán – việc này có thể do khả
năng của họ hoặc do họ cố tình gây hiểu lầm để kiếm lợi. Do vậy, đây là hoạt
động cần được quản lý chặt chẽ và đòi hỏi phải có những giới hạn nhất định
trong khi thực hiện công việc.
Các nghiệp vụ phụ trợ
Trên đây là bốn nghiệp vụ chính chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của
CTCK. Ngoài ra, CTCK còn thực hiện các nghiệp vụ hỗ trợ giao dịch nhằm
mục đích tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư không bỏ lỡ các cơ hội
đầu tư, đồng thời thúc đẩy các nghiệp vụ chính phát triển và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn.
* Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán: là công việc đầu tiên để các chứng
khoán có thể giao dịch trên thị trường tập trung – việc lưu giữ, bảo quản
chứng khoán của khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của
mình đối với chứng khoán – được thực hiện thông qua các thành viên lưu ký
của thị trường giao dịch chứng khoán.
Lưu ký chứng khoán là một hoạt động rất cần thiết trên TTCK. Bởi vì
trên TTCK tập trung, việc thanh toán các giao dịch diễn ra tại SGDCK và
luôn xác định (trong khuôn khổ một quá trình thực tiễn xác định, với không
gian, thời gian, nguồn lực và tình huống xác định).
+ Trong hoạt động tư vấn, người ta chỉ cung cấp thông tin, tri thức, giải
pháp hoặc phương án hành động thích hợp. Nhà tư vấn không quyết định
hoặc trực tiếp thực hiện.
Từ các điểm đó có thể định nghĩa: tư vấn là hoạt động trong đó các
chuyên gia tiến hành chọn lọc và cung cấp các thông tin, kiến thức, giải pháp
hoặc phương án hành động được lựa chọn và xử lý thích hợp để giúp ích cho
từng đối tượng cụ thể.
Hoạt động tư vấn của CTCK
Theo khái niệm trên thì có thể hiểu hoạt động tư vấn của CTCK là việc
thông qua các dữ liệu về chứng khoán, các CTCK tiến hành phân tích và dự
báo để đưa ra lời tư vấn cho khách hàng của mình trong lĩnh vực cơ cấu tài
chính, chia, tách, hợp nhất, sát nhập doanh nghiệp, phát hành và niêm yết
chứng khoán… Đây là nghiệp vụ mà vốn của nó chính là kiến thức chuyên
môn, kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ chuyên viên tư vấn của CTCK.
Hoạt động tư vấn được phân loại theo các tiêu chí sau:
+ Theo hình thức của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn trực tiếp (gặp gõ
khách hàng trực tiếp hoặc thông qua thu từ, điện thoại) và tư vấn gián tiếp
(thông qua các phương tiện truyền thông) để tư vấn cho khách hàng.
+ Theo mức độ ủy quyền của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn gợi ý
(gợi ý cho khách hàng về phương cách đầu tư hợp lý, quyết định đầu tư là của
khách hàng) và tư vấn ủy quyền (vừa tư vấn vừa quyết định hộ khách hàng
theo mức độ ủy quyền của khách hàng).
+ Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn cho người phát
hành (tư vấn cho tổ chức dự kiến phát hành: cách thức, hình thức phát hành,
xây dựng hồ sơ, bản cáo bạch…và giúp tổ chức phát hành trong việc lựa chọn
tổ chức bảo lãnh, phân phối chứng khoán) và tư vấn đầu tư (tư vấn cho khách
hàng đầu tư chứng khoán trên thị trường thứ cấp về giá, thời gian, định hướng
đầu tư vào các loại chứng khoán…).
+ Tư vấn phát hành: Thực hiện tái cấu trúc vốn, xác định nhu cầu hợp lý
và xây dựng phương án phát hành, định giá và lập hồ sơ phát hành theo đúng
quy định pháp luật, đại lý và/hoặc bảo lãnh phát hành.
+ Tư vấn niêm yết: Thực hiện các thủ tục cần thiết để đưa các chứng
khoán có đủ điều kiện vào đăng ký và giao dịch trên thị trường chứng khoán,
bao gồm các công việc như: Tư vấn xây dựng điều lệ hoạt động, tư vấn hoàn
thiện các yêu cầu hiện hành về tài chính, cổ đông, xây dựng bản cáo bạch,
nộp hồ sơ và giải trình theo yêu cầu của TTGDCK, thực hiện lưu ký chứng
khoán và tổ chức phiên giao dịch đầu tiên, tư vấn xây dựng các quy trình công
bố thông tin nội bộ.
+ Tư vấn quản trị doanh nghiệp: Xây dựng Điều lệ tổ chức và hoạt
động của doanh nghiệp, các quy chế điều chỉnh hoạt động của HĐQT, Ban
Giám đốc, BKS và các quy chế khác của công ty cổ phần, quy trình công bố
thông tin đại chúng.
* Tư vấn đầu tư chứng khoán:
Là việc các chuyên viên tư vấn sử dụng kiến thức chuyên môn của mình
để tư vấn cho nhà đầu tư về thời điểm mua bán chứng khoán, loại chứng
khoán mua bán, thời gian nắm giữ, tình hình diễn biến thị trường, xu hướng
giá cả. Đây là hoạt động phổ biến trên thị trường thứ cấp, diễn ra hàng ngày,
hàng giờ với nhiều hình thức khác nhau. Việc tư vấn có thể bằng lời nói, hoặc
có thể thông qua những bản tin, các báo cáo phân tích, khách hàng có thể gặp
gỡ nhà tư vấn hoặc thông qua các phương tiện truyền thông như điện thoại,
fax để nhờ tư vấn trực tiếp hoặc có thể gián tiếp thông qua các báo cáo phân
tích, các ấn phẩm mà nhà tư vấn phát hành.
Nhà tư vấn phải luôn là người thận trọng khi đưa ra những lời bình luận,
những báo cáo phân tích của mình về giá trị các loại chứng khoán, vì những
phát ngôn của các chuyên viên tư vấn có tác động rất lớn đến tâm lý của các
nhà đầu tư và thường dễ có thể trở thành lời tiên đoán, định hướng cho toàn
bộ thị trường. Bởi vì các nhà đầu tư tin rằng các nhà tư vấn là những chuyên
gia trong lĩnh vực này, họ có nhiều thông tin và kiến thức hơn những người
tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp –
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế đã trình bày ở trên có thể hiểu Hiệu
quả hoạt động tư vấn của CTCK là một khái niệm biểu hiện mối quan hệ giữa
các nguồn lực cho trước hữu hạn (nguồn vốn kinh doanh, nguồn nhân lực, cơ
sở vật chất…) của CTCK với chất lượng của dịch vụ đầu ra (hoạt động tư vấn
cho khách hàng). Hiệu quả hoạt động tư vấn được sử dụng làm tiêu chuẩn để
đánh giá xem CTCK đã phân bổ nguồn lực của mình tốt đến như thế nào. Khi
nói đến hiệu quả hoạt động tư vấn, chúng ta thường xem xét liệu các chuyên
viên tư vấn của CTCK có thực hiện tốt công việc tư vấn cho khách hàng hay
không, khách hàng có cảm thấy hài lòng với những lời khuyên, lời tư vấn đó
không, và điều quan trọng là hoạt động này phải đảm bảo lợi ích cho cả chủ
thể tư vấn là CTCK lẫn chủ thể được tư vấn là khách hàng.
Để có được một cái nhìn chính xác, toàn diện về hiệu quả hoạt động tư
vấn cũng như hoạt động kinh doanh của CTCK nói chung, ta cần phải dựa
vào những dữ liệu về tình hình hoạt động của công ty như bản cân đối kế
toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo luân chuyển tiền tệ… Hiệu quả
hoạt động tư vấn của CTCK chịu tác động của rất nhiều nhân tố và được phản
ánh thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động tư vấn của CTCK
Doanh thu hoạt động tư vấn
Doanh thu hoạt động tư vấn cho khách hàng của CTCK là toàn bộ số tiền
mà công ty thu được khi thực hiện một hợp đồng tư vấn. Nói cách khác,
doanh thu hoạt động tư vấn chính là phí tư vấn mà CTCK phải thu phát sinh
từ hoạt động tư vấn cho khách hàng trong một thời kỳ nhất định. Mức phí tư
vấn cũng được xác định tùy thuộc vào loại hình tư vấn, ví dụ mức phí tư vấn
cho hoạt động bán đấu giá cổ phần không được vượt quá 10% chi phí cổ phần
hóa.
Khi có nhiều khách hàng tìm đến để được tư vấn, CTCK sẽ có được
nhiều hợp đồng tư vấn, doanh thu hoạt động tư vấn sẽ tăng lên. Ngược lại khi
động tư vấn tăng đều qua từng thời kỳ chứng tỏ hiệu quả hoạt động tư vấn
được nâng cao và ngược lại.
Thị phần hoạt động tư vấn
Khi nghiên cứu hoạt động tư vấn của một CTCK, người ta thường đánh
giá hiệu quả của hoạt động này thông qua việc công ty có nhận được nhiều
hợp đồng tư vấn hay không, công ty có thực hiện tốt các hợp đồng đó không.
Thị phần hoạt động tư vấn có thể hiểu là hoạt động tư vấn của công ty chiếm
bao nhiêu tỷ trọng so với tổng thể trên thị trường, được biểu hiện bằng tỷ lệ
hợp đồng tư vấn mà công ty thực hiện so với tổng số hợp đồng tư vấn của
toàn bộ các CTCK. Đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả
hoạt động tư vấn của CTCK. Thị phần hoạt động tư vấn được mở rộng, số
hợp đồng tư vấn tăng lên chứng tỏ hoạt động tư vấn của công ty là hiệu quả,
công ty là một tổ chức tư vấn đáng tin cậy nên mới có nhiều khách hàng tìm
đến để được tư vấn.
Quy trình hoạt động tư vấn
Mỗi CTCK khi thực hiện các hợp đồng tư vấn cho khách hàng đều có
quy trình riêng. Chẳng hạn khi thực hiện tư vấn, có những bước sẽ được
CTCK này thực hiện trước nhưng lại được công ty khác thực hiện sau. Bên
cạnh đó, mỗi một hoạt động tư vấn lại có một quy trình khác nhau. Quy trình
hoạt động niêm yết sẽ không thể giống với quy trình hoạt động cổ phần hóa.
Hoạt động tư vấn sẽ hiệu quả hơn khi CTCK tuân thủ một quy trình chính
xác, hợp lý, từ đó khách hàng sẽ cảm thấy thỏa mãn và đặt trọn niềm tin vào
công ty.
Tóm lại, để đánh giá một cách đầy đủ và chính xác hiệu quả hoạt động tư
vấn của CTCK phải sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Với việc sử dụng các
nhóm chỉ tiêu này linh hoạt và logic, hiệu quả hoạt động tư vấn của CTCK sẽ
được phản ánh một cách chính xác, khách quan và đáng tin cậy.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động tư vấn của CTCK
1.3.1. Nhân tố chủ quan
Có rất nhiều yếu tố nội tại tác động tới hiệu quả hoạt động của CTCK
khi được thành lập đều phải lập ra cho mình một chiến lược kinh doanh nhất
định, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp đó và với xu thế phát triển của
thị trường. Các CTCK cũng không phải là ngoại lệ. Hầu hết các CTCK khi
mới thành lập đều tập trung vào phát triển hoạt động môi giới vì đây là hoạt
động mang lại doanh thu chủ yếu và hoạt động này tạo ra mạng lưới khách
hàng cho công ty. Tuy nhiên hiện nay các CTCK đã bắt đầu khai thác,phát
triển hoạt động tự doanh và tư vấn chứng khoán. Một công ty muốn phát triển
toàn diện không thể chỉ chuyên sâu về một mảng hoạt động thế mạnh mà xem
nhẹ, bỏ qua các hoạt động khác. Bởi vì các hoạt động của CTCK luôn có mối
liên hệ mật thiết với nhau. Hoạt động tư vấn đạt hiệu phát triển sẽ thúc đẩy
các hoạt động khác phát triển.
Chiến lược kinh doanh của CTCK đối với hoạt động tư vấn tùy thuộc
vào mục tiêu khách hàng là nhà đầu tư hay tổ chức, tùy thuộc vào loại hình tư
vấn là tư vấn tài chính hay tư vấn đầu tư và tùy thuộc vào hình thức tư vấn là
tư vấn trực tiếp, gián tiếp hay ủy quyền. Công ty sẽ xác định lợi ích thu được
và chi phí bỏ ra cho từng trường hợp cụ thể. Trên cơ sở đó CTCK xác định
được khách hàng mục tiêu phù hợp với năng lực tư vấn của mình và cơ cấu
các loại hình tư vấn sao cho đảm bảo vừa chuyên môn hóa vừa đa dạng hóa
dịch vụ tư vấn của mình. Chính vì vậy, chiến lược kinh doanh ảnh hưởng trực
tiếp tới hiệu quả hoạt động tư vấn của CTCK.
Nguồn vốn kinh doanh
Yếu tố vốn luôn là điều kiện đầu tiên được đưa ra xem xét khi thành lập
CTCK và thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường. Bởi vì các
CTCK là trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính, để tạo niềm tin nơi khách
hàng và phát triển các hoạt động một cách toàn diện thì CTCK phải có tiềm
lực tài chính dồi dào, lớn mạnh. Điều đó sẽ giúp cho CTCK đối mặt với nhiều
khó khăn từ nền kinh tế và từ những khách hàng của mình, nâng cao hiệu quả
các hoạt động của công ty.
Hoạt động tư vấn là hoạt động kinh doanh chất xám nên yêu cầu về vốn
không lớn như các hoạt động khác. Hiện nay vốn pháp định để thực hiện hoạt
Đây là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến hoạt động của CTCK.
Chính sách của nhà nước không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn hay các
hoạt động của CTCK nói chung mà nó còn có tác động to lớn đối với mọi
ngành nghề của nền kinh tế. Một chính sách hợp lý, khả thi sẽ thúc đẩy sự
phát triển của TTCK cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn. Ngược
lại, một chính sách lỏng lẻo và thiếu định hướng sẽ kìm hãm sự phát triển của
thị trường, làm giảm hiệu quả hoạt động của CTCK. Các chính sách luôn có
độ trễ nhất định so với kết quả mà nó đem lại. Chính vì vậy, việc ban hành
chính sách phải được tính toán một cách kỹ lưỡng và được thực hiện chu đáo