Tiểu luận: GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA - Pdf 11

GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 1 Tiểu luận

GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA
GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN

GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 3

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: GIÁO DỤC VIỆT NAM
1.1 Tình hình giáo dục :
Cả nước có khoảng 17,123 triệu học sinh, sinh viên , trong đó có 7,75 triệu học sinh
tiểu học và 6,62 triệu học sinh trung học cơ sở và khoảng 2,76 triệu học sinh trung học
phổ thông. Hàng năm khoảng 1,6 triệu học sinh vào học tiểu học, khoảng 1,4 triệu học
tốt nghiệp phổ thông cơ sở, khoảng 850.000 học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông
(50% học sinh cùng độ tuổi) và khoảng 197.000 vào học đại học cao đẳng (12% thanh
niên cùng độ tuổi).
số học sinh, sinh viên hàng năm trong các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
0
5000
10000
15000
20000
25000
1995 -
1996
1996 -

(khoảng 60%) rồi đến tiểu học (dưới 50%), trung học chuyên ban (19%) và trung học
chuyên nghiệp và trung học nghề (12%).
Bên cạnh các thành tích đó, hệ thống giáo dục đào tạo của Việt Nam còn đang đứng
trước nhiều khó khăn. Trường lớp còn thô sơ, trang thiết bị nghèo nàn lạc hậu, giáo trình
thiếu cập nhật, trình độ giáo viên chưa cao và chưa được quan tâm đúng mức. Đặc biệt
hiện vẫn còn hàng triệu trẻ em không đến trường.
Trong thời điểm đất nước đang tiến hành đổi mới, cải cách giáo dục thì những con số
thống kê về giáo dục giai đoạn 2003-2005 sẽ phần nào nhìn nhận một cách khách quan
hơn về thực trạng trên.
Cả nước hướng tới xây dựng một xã hội học tập từ cơ sở. Ở một đất nước đang phát
triển, thu nhập GDP và bình quân USD/ người chưa cao, hơn 80 triệu dân, nhưng có tới
22 triệu người đi học - bình quân, cứ bốn người dân có hơn một người đi học. Vừa qua
được UNESCO xếp thứ 64/127 nước về phát triển giáo dục.
Như một quy luật tất yếu của mọi quốc gia đang phát triển, giáo dục nước ta đang dịch
chuyển từ giai đoạn tinh hoa sang giai đoạn phổ cập (giáo dục phổ thông) và đại chúng
(giáo dục đại học), dịch chuyển từ nền giáo dục 5% dân cư đi học, sang nền giáo dục
100% dân cư đi học. Không thể phủ nhận những thành quả ấy nhưng rõ ràng, nền giáo
dục Việt Nam đang đứng trước một thử thách lớn về mặt chất lượng ở tất cả các cấp học.
1.2 Mục tiêu và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo:
Mục tiêu phát triển các cấp bậc học, trình độ và loại hình giáo dục:
Nâng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở các trình độ vào năm 2010 đạt 40%, trong đó từ
cao đẳng trở lên 6%, trung học chuyên nghiệp 8%, công nhân kỹ thuật 26%. Thực hiện
phổ cập trung học cơ sở trong cả nước. Chính phủ đặt vào các mục tiêu sau:
- Hầu hết trẻ em 5 tuổi được học chương trình mẫu giáo lớn, chuẩn bị vào lớp 1.
- Phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước. Phổ cập trung học cơ sở ở thành phố, vùng
kinh tế trọng điểm và nơi có điều kiện.
- Tính chung cả nước có 60% trẻ em độ tuổi 11-15 học trung học cơ sở. Mở rộng và nâng
cao chất lượng dạy kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, ngoại ngữ, tin học ở trường trung
học.
- Thanh toán nạn mù chữ cho những người trong độ tuổi 15-35, tất cả các tỉnh đạt tiêu

- Giáo dục nghề nghiệp: nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức kỷ luật
lao động và tác phong lao động hiện đại. Gắn đào tạo vói nhu cầu sử dụng, với việc làm
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động…
- Trung học chuyên nghiệp: thu hút học sinh trong độ tuổi vào các trường trung học
chuyên nghiệp đạt 10% năm 2005, 15% năm 2010.
- Dạy nghề : thu hút học sinh sau trung học cơ sở vào học các trường dạy nghề từ 6%
năm 2000 lên 10% năm 2005, 15% năm 2010.
- Dạy nghề bậc cao: thu hút học sinh sau trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp
vào học các chương trình này đạt 5% năm 2005, 10% năm 2010. Trình độ công nhân kỹ
thuật đạt 22% năm 2005 và 28% năm 2010. Quy mô đào tạo nghề ở tất cả các trình độ
đào tạo đạt khoảng 1.5 triệu người vào năm 2010.
- Giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học: Nâng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân từ
118 năm học 2000-2001 lên 200 vào năm 2010. Tăng quy mô đào tạo thạc sỹ từ 11.727
học viên năm 2000 lên 38.000 năm 2010, nghiên cứu sinh từ 3.870 năm 2000 lên 15.000
vào năm 2010.
- Giáo dục không chính quy: củng cố và nâng cao kết quả xoá mù chữ cho người lớn,
đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Thực hiện có hiệu quả các chương trình sau xoá
mù chữ, bổ túc trên tiểu học để góp phần thực hiện chủ trương phổ cập giáo dục
trung học cơ sở vào năm 2010.
- Giáo dục trẻ khuyết tật: Tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật được học tập ở một trong các
loại hình lớp hoà nhập, bán hoà nhập hoặc chuyên biệt, đạt tỷ lệ 50% vào năm 2005 và
70% vào năm 2010.
Chính sách phát triển giáo dục:
GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 6
Luật Phổ cập giáo dục tiểu học được Quốc hội thông qua ngày 12/8/1991.
Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua tháng 6/2005, có nội dung chủ yếu là:
 Cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân, phát triển mạng lưới trường, lớp, cơ sở

vào lớp đầu
Điều kiện học lực
để được vào học
lớp đầu
Văn bằng tốt nghiệp
1 2 3 4 5
I. GD mầm non
- Nhà trẻ
- Mẫu giáo
3 năm
3 năm
3-4 tháng
3 tuổi

GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 7
II. GD phổ thông

- Tiểu học
- TH cơ sở
-Trung học
chuyên ban
5 năm
4 năm
3 năm
6 tuổi
11 tuổi
15 tuổi

ằng trung học
cơ sở
Có b
ằng trung học
cơ sở

Chứng chỉ nghề
Bằng nghề

Bằng trung học chuy
ên
nghiệp
Bằng trung học nghề
IV. Bậc giáo dục đại học
- Cao đẳng 3 năm 18 tuổi
Có bằng tú tài
hoặc trung học
chuyên nghiệp
hoặc trung học
nghề
Bằng cao đẳng
- Đại học 4-6 năm 18 tuổi
Có bằng tú tài
hoặc trung học
chuyên nghiệp
hoặc trung học
nghề

Ngôn ngữ chính thức là tiếng Bahasa Melayu, ngoài ra còn có tiếng Anh, Trung Quốc,
Tamil. Tôn giáo: Đạo Hồi, đạo Phật, đạo Hindu và Thiên chúa giáo. Trước kia là thuộc
địa thực dân Anh. Malaysia độc lập vào tháng 7- 1957.
2.1 VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC.
Mục tiêu chung:
Phát triển trí tuệ, văn hóa, kinh tế, xã hội và tinh thần của mỗi cá nhân, tạo bản sắc dân
tộc và sự thống nhất đất nước trong một xã hội đa nguyên thông qua việc trau dồi lý
tưởng, giá trị và hoài bảo chung.
- Giáo dục là quyển cơ bản của mọi công dân được pháp luật bảo vệ.
- Công dân có quyển bình đẳng về cơ hội giáo dục và giúp đỡ tài chính không phân biệt
giới tính, địa phương.
- Giáo dục tiểu học và trung học không phải trả tiền.
Các đạo luật giáo dục: Được xây dựng từ 1995.
- Đạo luật giáo dục 1996.
- Đạo luật hội đồng Quốc gia về các trường đại học 1996.
- Đạo luật về các trường đại học tư 1996.
- Đạo luật về hội đồng chứng nhận Quốc gia 1996.
- Đạo luật về các trường đại học, cao đẳng (bổ sung) 1997.
Tài chính:
Ngân quỹ giáo dục Malaysia chiếm 5,3% GNP ( 15,5% ngân sách quốc gia).
Tỷ lệ HS, SVphân bố theo dân tộc:
Bumiputera / Trung Quốc / Ấn Độ là 69/ 26/ 5.
2.2 HỆ THỐNG GIÁO DỤC
2.2.1 GD mầm non:
Số trường mầm non tăng nhanh từ 7.000 trường năm 1990 lên gần 10.000 trường năm
1997. Khu vực tư nhân chủ yếu đầu tư vào các trường mầm non ở thành thị còn nhà nước
đầu tư cho các trường ở vùng nông thôn và vùng núi. Khoảng 92% là các trường công
lập, chương trình mầm non được cải tạo thông qua việc chỉnh sửa, hướng dẫn chương
trình, mở rộng đào tạo giáo viên, xây dựng chuẩn tối thiểu, đa dạng hóa phương pháp
giáo dục, chú ý sử dụng thành thục tiếng địa phương và tiếng Anh đơn giản.

Trường đại học đầu tiên của Malaysia thành lập năm 1949 tại Singapor.
Đến năm 1970 Malaysia đã có 10 trường đại học công lập cung cấp các chương trình đại
học và sau đại học.
Năm 1997 đã có 116376 sv trong 10 trường này. Đây là những trung tâm giáo dục chất
lượng cao của Malaysia. Năm 1996 luật sửa đổi về các trường đại học cao đẳng đã cho
phép các cơ sở GDĐH được tự chủ nhiều hơn trong quản lý, tài chính và đã phát huy tính
năng động tích cực của các trường. Năm 2002, Malaysia có 30 trường đại học bao gồm
16 trường công và 14 trường tư thục.
Hiện nay các chương trình học từ xa cũng đang được mở rộng đặc biệt là việc sử dụng
siêu hành lang đa phương tiện ( MSC )
Thời gian qua cũng bùng nổ các trường tư thục với các chương trình đào tạo đôi hiệu
quả. Giúp Malaysia tiếp cận và nhanh chóng các chương trình tiến bộ của phương tây
như Mỹ, Anh, Pháp…Các trường này đã thu hút được nhiều sinh viên nước ngoài vào
học và giảm sự thâm hụt về cán cân thanh toán cho Malaysia .

GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 10
2.2.5 Đào tạo giáo viên :
Mục tiêu chính của đào tạo giáo viên hiện nay là tăng số giáo viên tiểu học và trung học
đạt chuẩn, đặc biệt với các môn toán, khoa học và tiếng Anh. Năm 2000 Malaysia có
99900 giáo viên trong đó có 37850 giáo viên có trình độ đại học (chiếm 73,5%giáo viên)
Malaysia đã cải thiện chính sách đãi ngộ và cơ sở vật chất như nâng lương , đề bạt, phụ
cấp cho giáo viên giảng dạy các môn quan trọng, làm việc ở vùng xa xôi, hẻo lánh. Giáo
viên cũng có nhiều cơ hội để nâng cao trình độ giảng dạy và quản lý.
2.2.6 Hệ thống giáo dục đại học.
Lịch sử hình thành phát triển
Nền giáo dục đại học của Malaysia đã xuất hiện từ dưới thời thực dân Anh, năm 1786 ở
Malay Archipclago (British Straits). Từ đó trở đi nền giáo dục Malaysia chịu ảnh hưởng


HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 11
Năm 1980 1985 1990 1995 2000
Số SV 33969 64851 96590 142827 243106
Nguồn: Bộ GD Malaysia 2001

Số lương giảng viên tại các trường công lập là 10920 (năm 1999), trong đó 5,6% là giáo
sư, 18% là phó giáo sư.
Hội nhập để tạo thành các trường lớn chất lượng cao là xu hướng của các trường đại học
công lập.
Đại học Malaysia (MU).
Đại học Sain Malaysia ( USM)
Đại học Kebangsaan Malaysia ( UKM)
Đại học Technology Malaysia ( UTM)
Đại học Putra Malaysia (UPM)
Đại học Utara Malaysia (UUM)
Đại học Malaysia Sarawark (UNIMAS)
Đại học Malaysia Sabah (UMS)
Đại học Islam
Đại học Teranganu
Đại học Mara ( UITM)
Đại học Pendidikan Sultan Idris ( UPSI)
2.2.8 Hệ thống các trường đại học, cao đẳng tư thục
a. Sự hình thành:
Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, hệ thống các trường nhà nước quản lý đã tỏ ra mòn, cũ,
không đáp ứng được nhu cầu xã hội. hơn nữa phong trào dân chủ hóa các trường trung
học làm cho số lượng ứng cử viên vào đại học tăng cao.
b. Sự phát triển:
Thập niên 90 là thập niên bùng nổ của hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng tư thục.
Năm 1992 mới có 156 trường.

 Chương trình đại lý: SV ghi tên học trực tiếp với các trường nước ngoài. Trường
trong nước chuẩn bị cơ sở vật chất như máy tính, TV, băng đĩa, in ấn tài liệu.
Đồng thời các trường trong nước chuẩn bị một đội ngũ phụ giảng để phụ đạo cho
sinh viên theo kiểu gặp mặt trực tiếp. Nội dung chương trình và bằng cấp hoàn
toàn theo nước ngoài.
 Chương trình liên kết là chương trình do trường trong nước và trường nước ngoài
cùng thiết kế, biên sọan và thực hiện. Bằng cấp do cả hai bên cùng ký.
- Chương trình nâng cao.
e. Chính sách nhà nước: cùng với mở rộng trường công lập, nhà nước đã có chính sách
khuyến khích và kiểm soát các trường tư thục.
- Thành lập đạo luật: Các cơ quan giáo dục trên trung học quy định và hướng dẫn các
trường tư thục.
- Quy định các môn học bắt buộc cho tất cà các ngành: Malaysia học, Đạo Hồi ( cho
sinh viên theo đạo Hồi), Đạo đức học ( cho SV không theo đạo Hồi). Các môn học
này nhằm duy trì bản sắc dân tộc cho sinh viên.
- Đạo luật đánh giá chất lượng nhà nước để đánh giá và kiểm tra, giám sát bằng cấp
của các trường tư thục.
f. Xuất khẩu Đại học: Với số lượng các trường đại học như hiện nay, thị trường sinh
viên Malaysia đã quá bảo hòa. Mặt khác với mục tiêu trở thành trung tâm giáo dục cao
của cả vùng Asean, chính phủ đã đề ra chính sách xuất khẩu giáo dục theo hướng quản
cáo: Chương trình Âu Mỹ nhưng giá rẽ hơn nhiều.
Hiện nay ở Malaysia có khoảng 3000 SV nước ngoài, chủ yếu là Indonesia, Singapo,
Thailan, Việt Nam.

GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 13
2.2.8 Hệ thống quản lý chất lượng.
a. Năm 1996 Malaysia thành lập hội đồng đánh giá chất lượng Quốc gia LAN với 2 chức

Đặc biệt các trường đại học cố gắng khai thác những lợi thế công nghệ của Malaysia như
công nghệ sinh học, điện tử, thông tin, năng lượng, chế tạo chính xác.
Đồng thời chính phủ cho phép thành lập 40 trường đại học chất lượng quốc tế. Mỗi
trường đại học phát huy những mặt mạnh của mình. Chương trình thay đổi nhạy bén theo
nhu cầu thị trường thế giới.
- Xây dựng kiến thức và kỹ năng cho thế kỹ XXI bằng cách xác định chất lượng của
nước ngoài để nhanh chóng “Quốc tế hóa”.
GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 14
Bộ GD Malaysia chủ trương xây dựng một hệ thống giáo dục chất lượng với những mục
tiêu rõ ràng, tiêu chuẩn cao, giáo viên giỏi và chương trình tổ chức tốt. Chương trình
luôn điều chỉnh để đáp ứng mục tiêu quốc gia. Hiện nay cải cách chương trình đang
hướng vào các môn khoa học và công nghệ.
Giáo dục nghề đóng vai trò quan trọng. Tăng cường số lượng, chất lượng cho các trường
dạy nghề và đưa kỹ năng nghề nghiệp vào các trường phổ thông.
Nền giáo dục Malaysia cũng đang có dịnh hướng vào việc đáp ứng nhu cầu xã hội hướng
vào nền kinh tế tri thức.
Malaysia đang tích cực ứng dụng và mở rộng hệ thống công nghệ thông tin trong tất cả
các trường. Chính phủ khuyến khích học trên mạng, học từ xa.
Malaysia đang có triển vọng trở thành một xã hội có khả năng về công nghệ và khoa học
trong thiên niên kỷ mới trong đó ngành giáo dục đã đóng một vai trò rất quan trọng.
- Hình thành trung tâm GD khu vực mà nội dung chính là tăng cường tư nhân hóa giáo
dục, cho khu vực tư nhân vai trò quan trọng hơn trong giáo dục, đào tạo.
Malaysia cũng đang tìm cách cân bằng hơn trong tài chính GD giữa nhà nước và tư nhân.
Tỷ lệ các trường tư nhân tăng lên nhanh chóng trong vài năm qua, 5 trường đại học của
các công ty đa quốc gia đã được thành lập như: Tenaga, Telecom, Malaysia, Petronas,
Multimedia…
Bộ giáo dục Malaysia, đã phê duyệt nhiều chương trình và cấp bằng nước ngoài.

MALAYSIA 87,3%
VIỆT NAM 95,4 %
Nguồn: tài liệu” Human Development report 2003”

3.2 Chỉ số phát triển giới.
Tuổi thọ
bình quân
Tỷ lệ người
lớn biết chữ
Tỷ lệ chung người
học cấp I, II, III
GDP bình
quân đầu
người Theo
PPP (USD)
Tên nước
Nữ Nam

Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam
Chỉ số
phát
triển
giới
Malaysia 74,5

70,1 82,0 90,7 66 64 4.501 11.674

0,762
Việt Nam 70 65,3 90,6 95,3 59 64 1395 1.991 0,668
( Theo báo cáo phát triển con người của UNDP 20000)

(tuần)
Số tiết học
(năm)
%
Việt Nam 198 6 30 900 100
Malaysia 204 5 40 1632 164,8

3.5.Thời lượng học tập của học sinh trung học phổ thông
Nước Số ngày học
(năm)
Số ngày học
(tuần)
Số tiết học
(tuần)
Số tiết học
(năm)
%
Việt Nam 198 6 30 900 100
Malaysia 204 5 30 900 164,8
So sánh tổ chức dạy học của một số nước(Tạp chí giáo dục số đặc biệt 6/ 2002)

3.6. So sánh thời lượng học tập tiểu học.
Nước Quy ra tiết học 40 phút %
Việt Nam 3990 100
Malaysia 8509 213,2
Nguồn: Một số vấn đề cơ bản của chương trình tiểu học mới, NXB Giáo dục- 2002

3.7. Chỉ số phát triển chung về giáo dục.
Nước Thứ hạng Biết chữ từ 15 tuổi
trở lên ( %)

danh mục nghề do tổng cục thống kê ban
hành theoquyết định 114/1998/ QĐ-
TCTK ngày 29/3/1999 nhưng vẫn chưa sử
dụng danh mục này để xây dựng tiêu
chuẩn, Chưa có danh mục nghề thống
nhất theo bảng phân loại chuẩn quốc tế về
nghề nghiệp ISCO- 88.
Do tiêu chí đánh giá trình độ tay nghề của
người lao động hiện nay là do các doanh
nghiệp tự đánh giá công nhận nên ít có giá
trị trong thực tiễn sử dụng và dịch chuyển
lao dộng.
Các tiêu chuẩn nghề hiện có chưa được
coi là chuẩn quốc gia, chưa có sự tham gia
của doanh nghiệp, các hiệp hội ngành
nghề trong xây dựng tiêu chuẩn nghề và
không thường xuyên bổ sung, sửa đổi nên
luôn lạc hậu so với yêu vầu phát triển của
nền kinh tế và càng không thể so sánh để
hội nhập trong khu vực.
Đang hoàn tất khung trình độ quốc gia,
khung trình độ đó được thiết kế trở thành
hệ thống hợp nhất về trình độ áp dụng
trên phạm vi toàn quốc đối với tất cả các
cơ sở giáo dục và đào tạo bao gồm các
trường đại học,cao đẳng ,trường dạy nghề,
các tổ chức nghề nghiệp ở cả khu vực nhả
nước và tư nhân cũng như đào tạo tại nơi
làm việc và những kiến thức, kinh nghiệm
tiếp thu được trong cuộc sống.

động. Và có một cơ quan chính phủ độc
lập chịu trách nhiệm giám sát, lưu trữ các
thông tin liên quan đến tiêu chuẩn nghề.
Có hệ thống giám sát và điều chỉnh chất
lượng các tổ chức đào tạo.
Văn bàng chứng chỉ và tiêu chí tuyển việc
phải thống nhất với hệ thống công nhận
tay nghề. Hệ thống chất lượng đảm bảo
tính thống nhất của các tiêu chuẩn để
chứng nhận những kỹ năng đạt được, các
tiêu chí đảm bảo chất lượng phải được
định nghĩa rõ ràng
Hội đồng đào tạo nghề quốc gia của
Malaysia ( NVTC) thuộc bộ nguồn nhân
lực Malaysia, là tổ chức quốc gia với
trách nhiệm được giao về xúc tiến phát
triển và điều phối họat động đào tạo kỹ
năng ở Malaysia. Vai trò chính của nó là
đảm bảo phát triển nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế
Malaysia. NTVC phối hợp và tạo điều
kiện thuận lợi cho đào tạo kỹ năng thông
qua một hệ thống tư vấn, giám sát và quản
lý chất lượng.Lembaga Akreditasi là cơ
quan có thẩm quyền kiểm định đối với hệ
thống các cơ sở đào tạo và chương trình
đào tạo. Cơ quan này được ra đời theo đạo
luật Lembaga Akreditasi Negara 1996
Dự thảo khung trình độ quốc gia Malaysia
( MQF) bao hàm một khung công nhận


Skilled worker level
( Cấp trình độ CNKT
lành nghề

Higher

(KT- CN)
Diploma
level
( Bằng)
4

3

2

1

13

12

11

3
1

2

10

1

11

10


1

6

5

4

3

2

1

Primary ( tiểu học)

GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 20 3.12. Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam.


DẠY NGHỀ NGẮN HẠN
(< 1 năm)
ĐẠI HỌC
(4 – 6 năm)

TRUNG HỌC
CHUYÊN NGHIỆP
( 2 - 4 năm)

DẠY NGHỂ
DÀI HẠN
( 1 -3 năm)

2. GD PHỔ THÔNG

3. GD NGHỀ NGHIỆP

4. GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, SAU ĐẠI HỌC

CAO ĐẲNG
( 3năm )

CAO HỌC
( 2năm )

TIẾN SĨ
( 2 – 3 năm)

TRUNG HỌC

hạn đến đào tạo trình độ cao đẳng nghề hoặc đại học nghề.

Khung trình độ cho chứng chỉ quốc gia Malaysia.

 SKM: Chứng chỉ kỹ năng của Malaysia.


CERTIFICATE
GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 22

3.12. Hệ thống dạy nghề mới trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam.
ĐÀO TẠO HÀN LÂM
ĐÀO TẠO KỸ THUẬT THỰC HÀNH
GIÁO DỤC SO SÁNH VIỆT NAM – MALAYSIA GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUẤN HVTH: TRẦN THỊ HẠNH THẢO Trang 23

KẾT LUẬN

Là nước đi lên từ nông nghiệp, năm 1994 Malaysia đã là nước thứ ba (sau Mỹ và Nhật)
về sản xuất các mạch tổ hợp điện tử bán dẫn. Malaysia cũng tăng trưởng nhanh nhờ chế
tạo máy điều hòa nhiệt độ, máy thu thanh và thu hình.
Con đường đi lên của Malaysia là kết hợp “ Thị trường tự do – Một nền giáo dục tốt”.
Xã hội học tập của Malaysia Thể hiện ở các d0iểm sau:
- Phổ cập xong giáo dục 11 năm.
- Đặc biệt chương trình đào tạo phi chính quy hết sức đa đạng cho người lớn.
- Ưu tiên phát triển kỹ năng tay nghề cho lao động nông thôn – nông nghiệp.
- Các chương trình giáo dục có tên” Chương trình giáo dục cho gia đình”, “Chương
trình phát triển cộng đồng”, Chương trình giáo dục người lớn” của bộ nông
nghiệp có tác dụng thúc đẩy việc học tập trong xã hội.
So sánh nền giáo dục của Việt Nam và Malaysia để thấy rõ sự cần thiết xây dựng hệ
thống giáo dục mới ở Việt Nam để đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa.
Về mô hình công nghiệp hóa ở Việt Nam không lập lại mô hình công nghiệp hóa cổ điển
nào, cà công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu lẫn công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu.
Do vậy việc nâng cao dân trí lúc này không đơn thuần là việc tăng số năm đi học trung
bình ( tức là tăng mặt bằng dân trí hiểu theo nghĩa thông thường) của người dân, mà về
cơ bản là thay đổi cơ cấu học vấn, cơ cấu tri thức và cơ cấu tay nghề của đội ngũ lao
động ,tổ chức học tập không phải là mục đích tự thân, mà là để tăng cường hơn nữa chất
lượng đào tạo con người Việt Nam, là bộ phận không thể tách khỏi cuộc sống kinh tế ở
Việt Nam. Bởi vì “Kỹ thuật không biên giới có tiềm năng làm cho quan hệ giữa các quốc

3. Phan Văn Kha, Quản lý nhà nước về giáo dục.

4. Tài liệu bồi dưỡng kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế và dạy nghề -
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ( 2005).

5. Phát triển nguồn lực con người, chính sách giáo dục và đào tạo – Viện chiến lược
và chương trình giáo dục.

6. Tài liệu bổ sung về tình hình giáo dục 2004.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status