I. Đặt vấn đề.
Việt Nam đã trải qua hơn 4000 năm hình thành, xây dựng, bảo vệ
và phát triển đất nước. Suốt quá trình này đi kèm với vấn đề phát triển
kinh tế, văn hóa… thì giáo dục và đào tạo luôn được mọi thế hệ phát
huy.Trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề giáo dục ngày càng
được nhà nước quan tâm, hệ thống giáo dục quốc dân đã được xây dựng,
khá hoàn chỉnh bao gồm đủ các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo, các
loại hình nhà trường và phương thức giáo dục. Mạng lưới cơ sở giáo dục
đã được mở rộng đến khắp các xã, phường, tạo điều kiện tăng trưởng rõ
rệt về số lượng học sinh, sinh viên. Chính những sự đổi thay về giáo dục
đã góp phần đưa vị thế con người Việt Nam lên một tầm cao mới.Vấn đề
quan trọng nhất đang được các cấp nhà nước quan tâm, làm thế nào nâng
cao trình độ dân trí, tạo việc làm ổn định cho người dân, giúp họ tiếp cận
với khoa học kỹ thuật để nâng cao thu nhập, đồng thời phát triển đất
nước. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, rất nhiều
các doanh nghiệp đã hình thành, chính đội ngũ lao động trí thức là nhân
tố quan trọng.
Tuy nhiên một vấn đề bất cập hiện nay, nhà nước đã đưa ra rất
nhiều chính sách cho phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng
nhân tài nhằm cung cấp lao động cho các doanh nghiệp. Nhưng trong
thực tế hầu hết các công ty đều than phiền là nhà nước đạo tạo chất
lượng thấp, không đáp ứng được yêu cầu thực tế…Trong khi đó, kiểu
đào tạo hiện nay nếu người giỏi nhưng nhà nghèo vẫn khó có cơ hội
được đi học. Thậm chí trong rất nhiều các tổ chức vẫn có hiện tượng
- 1 -
người dốt lãnh đạo người giỏi. Tất cả điều này dẫn đến hiện tượng “ chảy
máu chất xám” rất nhiều người tài đã bỏ làm tại cơ quan có mức lương
thấp, môi trường làm việc không đảm bảo…để làm cho các công ty tư
nhân, nước ngoài với mức lương cao hơn. Điều này hoàn toàn mâu
thuẫn, chính sách nào để giải quyết vấn đề trên, sao cho cả xã hội đều
phát triển, chỉ có người giỏi thực sự mới được vào đại học, nhà nước
triển khai tích cực, hiện đã có 20 tỉnh, thành phố được công nhận đạt
chuẩn quốc gia. Một số tỉnh và thành phố đã bắt đầu thực hiện PCGD
bậc trung học (bao gồm THPT, THCN và dạy nghề). Số năm đi học bình
quân của cư dân 15 tuổi trở lên tăng liên tục từ 4,5 (vào năm 1990) lên
6,34 (vào năm 2000) và đến năm 2003 là 7,3. Bình đẳng giới trong giáo
dục tiếp tục được đảm bảo. Đây là những thành tựu quan trọng, nhất là
khi so sánh với các nước có trình độ phát triển kinh tế và thu nhập tính
theo đầu dân tương đương hoặc cao hơn nước ta.
Về đào tạo nhân lực: Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 13% năm 1998
đã tăng lên trên 23% năm 2003. Chất lượng nguồn nhân lực đã có
chuyển biến tích cực. Trong những thành tựu tăng trưởng kinh tế của đất
- 3 -
nước hơn 10 năm qua có phần đóng góp rất quan trọng của đội ngũ lao
động, mà tuyệt đại đa số được đào tạo ở trong nước. Nước ta cũng đã bắt
đầu chủ động đào tạo được nguồn nhân lực phục vụ xuất khẩu lao động.
Về bồi dưỡng nhân tài: việc đào tạo, bồi dưỡng học sinh, sinh viên
có năng khiếu đã được chú trọng và đạt được những kết quả rõ rệt. Nhà
nước và một số ngành, địa phương đã dành một phần ngân sách để triển
khai chương trình đào tạo cán bộ trình độ cao (thạc sĩ, tiến sĩ) trong các
lĩnh vực khoa học, công nghệ, quản lý v.v. ở các nước tiên tiến. Số cán
bộ này, sau khi tốt nghiệp đã trở về nước công tác và bắt đầu phát huy
tác dụng.
2.1.1.3. Chính sách xã hội về giáo dục đã được thực hiện tốt hơn và
có hiệu quả hơn.
Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa
phát triển mạnh và có tiến bộ rõ rệt. Mạng lưới trường, lớp về cơ bản đã
bảo đảm cho con em các dân tộc được học tập ngay tại xã, thôn, bản.
Việc củng cố, phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú và tăng chỉ
tiêu cử tuyển đã tạo thêm điều kiện cho con em các dân tộc thiểu số ở địa
bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được đào tạo ở ĐH, CĐ, tạo nguồn
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các cấp, bậc học, ở mọi vùng
miền đã được cải thiện đáng kể trong 5-6 năm qua, nhất là từ khi thực
hiện chủ trương đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và kiên cố hoá
trường, lớp học. Một số địa phương, một số trường đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đã nỗ lực để từng bước hiện đại
hoá cơ sở vật chất, thiết bị dạy học.
( Trích từ : website Tuổi trẻ online - Toàn văn báo cáo tình hình
giáo dục Việt Nam)
Với những thành tựu giáo dục kể trên chúng ta cũng nhận thấy
được, trải qua hàng ngàn năm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước,
nhân dân ta mọi thế hệ đều có truyền thống hiếu học. Tất cả đều nỗ lực
dốc công sức, tiền của đầu tư cho sự nghiệp giáo dục
Trong giai đoạn hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Quốc
hội, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp; sự
quan tâm, tham gia đóng góp của các tổ chức, đoàn thể và toàn xã hội
đối với giáo dục. Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các
chính sách và trực tiếp chỉ đạo ngành giáo dục triển khai thực hiện các
chủ trương của Đảng và Quốc hội. Các địa phương đã quan tâm chỉ đạo
và đầu tư để tăng cường cơ sở vật chất và giải quyết chế độ cho giáo
viên. Toàn xã hội không chỉ đóng góp tiền của, công sức, mà cả về trí tuệ
cho việc xây dựng và phát triển giáo dục, tham gia trực tiếp vào các hoạt
động giáo dục.
Tham gia vào sự nghiệp giáo dục phải kể đến đội ngũ những người
giảng dạy luôn có ý thức trách nhiệm, lòng yêu nghề vượt qua mọi khó
- 6 -
khăn. chính họ trực tiếp tham gia vào giảng dạy, bồi dưỡng, truyền đạt
kiến thức cho học sinh – sinh viên.
2.2. Các bất cập, yếu kém và khuyết điểm trong giáo dục
2.2.1. Chất lượng giáo dục đại trà, đặc biệt ở bậc đại học còn thấp;
phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới.
môn không đáng kể. Các quy định hiện hành về quản lý ngân sách, tài
chính, nhân sự chưa tạo cho ngành giáo dục được chủ động trong việc
điều hành các nguồn lực. Đầu tư còn dài trải, chưa tập trung cao cho các
mục tiêu ưu tiên.
2.2.3. Con em gia đình nghèo, gia đình có thu nhập thấp (cận nghèo)
và con em đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn trong
việc tiếp cận giáo dục, nhất là ở các bậc học cao
Việc thực hiện chính sách cử tuyển đại học gặp khó khăn do quy
định cứng về địa bàn cư trú của đối tượng cử tuyển trong điều kiện nhiều
xã đặc biệt khó khăn không đủ nguồn. Mặt khác, số học sinh đã được cử
đi học tuy được cấp học bổng, được tạo điều kiện ăn ở tại ký túc xá
nhưng mức học bổng còn thấp, khả năng tiếp thu kiến thức còn hạn chế,
lại chưa quen với những thay đổi trong sinh hoạt nên chưa yên tâm học
tập.
- 8 -
Việc đầu tư cho các xã miền núi không thuộc diện được hưởng
chương trình 135 rất hạn chế nên giáo dục ở các xã này phát triển chậm.
Các gia đình có thu nhập thấp (cận nghèo) chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng
số hộ gia đình nước ta nhưng chưa có chính sách hỗ trợ phù hợp nên con
em các gia đình này gặp khó khăn về tài chính khi học tập ở các bậc học
cao. ( Trích từ : website Tuổi trẻ online - Toàn văn báo cáo tình hình
giáo dục Việt Nam)
2.3. Những hệ quả của nền giáo dục kém chất lượng
Mục tiêu hàng đầu của giáo dục Việt Nam là làm thế nào để nâng
cao trình độ dân trí, giúp học sinh tiếp cận được kiến thức và áp dụng
chính xác vào thực tiễn. Đặc biệt trong giai đoạn toàn cầu hóa, sự phát
triển bùng nổ về kinh tế đã hình thành đông đảo các công ty trong và
ngoài nước. Đây chính là môi trường thuận lợi để những lao động trí
thức làm việc, phát triển nhằm nâng cao thu nhập góp phần xây dựng,
phát triển đất nước.
hơn, chế độ đãi ngộ tốt hơn hiện nay không chỉ xảy ra ở những ngành,
lĩnh vực thiếu nhân lực như ngân hàng, chứng khoán, điện lực mà
đang trở thành “vấn nạn”, làm đau đầu hầu hết các doanh nghiệp, đặc
biệt là doanh nghiệp nhà nước.
- 10 -
2.3.2. Hiện tượng người giỏi nhưng nghèo vẫn không được đi học
Những năm qua, trước những biến động về giá cả thị trường đã
khiến giá cả tăng cao đột biến, điều nàykhiến điều kiện kinh tế của cá hộ
khó khăn lại càng thêm khó khăn. Rất nhiều học sinh, nhất là học sinh
giỏi vì nhà không có điều kiện đã phải bỏ học để đi làm phụ giúp gia
đình.
Bên cạnh đó, cũng phải thấy rằng nước ta là nước nông nghiệp,
khoảng 75% là diện tích đồi núi, các trường học tập hầu hết tập trung ở
các thành phố lớn. Chính vì điều này, làm ảnh hưởng đến việc đi học của
rất nhiều học sinh….
2.3.3. Hiện tượng người dốt lãnh đạo người giỏi.
Do hiện tượng những người có năng lực chuyển đổi nơi làm việc,
từ các cơ quan nhà nước sang các công ty tư nhân Như vậy, trong đội
ngũ làm việc tại các cơ quan nhà nước chỉ còn tồn tại rất nhiều những lao
động chỉ có năng lực trung bình, thậm chí là yếu kém. Mà nhà nước ta,
chủ yếu vẫn do các cơ quan nhà nước nắm quyền quản lý, như vậy hiện
tượng người dốt lãnh đạo người giỏi là hiện tượng phổ biến ở nước ta.
2.4. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo.
Trước những thực trạng trên, chúng tôi đã có ý tưởng xây dựng
một mô hình mới trong giáo dục, nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, nâng
cao năng lực làm việc và tăng hiệu quả kinh tế.
- 11 -
(Mô hình liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo và
nhà nước hỗ trợ về chính sách liên quan)
Theo mô hình trên Doanh nghiệp là nhân tố trong việc tự kiếm đầu
tuyển
đầu vào
đảm bảo
chất
lượng
Thực
hiện tốt
quá trình
giảng
dạy
Đảm bảo
chất
lượng
đầu ra
hiệu quả
Nhà nước
( Với các chính sách liê quan đến
đào tạo)
không làm tại doanh nghiệp phải bồi hoàn chi phí cho doanh nghiệp theo
cam kết giữa hai bên. Doanh nghiệp cũng quyết định trong việc tìm kiếm
cơ sở đào tạo có chất lượng theo yêu cầu để gửi các sinh viên vào học.
Các trường đào tạo chất lượng là nơi tiếp nhận các học sinh vào
học, trong quá trình đào tạo các trường phải thực hiện quá trình giảng
dạy nhằm nâng cao chất lượng có sinh viên. Trong quá trình tuyển sinh,
chỉ có những học sinh giỏi thực sự mới có thể đỗ vào trường. Nhà trường
phải thực hiện quá trình đào tạo đảm bảo chất lượng, sao cho sinh viên ra
trường có đầy đủ kiến thức, năng lực làm việc tại các doanh nghiệp.
Nhà nước thực hiện các chính sách đào tạo, đồng thời giám sát
hoạt động của các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo.
Hiệu quả của mô hình trên là các doanh nghiệp đáp ứng được yêu
phải đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện. Các cơ quan cho vay phải thực hiện
công khai ngân sách, các tổ chức cho vay phải đảm bảo sự minh bạch
công tâm.
2.5.2. Chính sách trong quá trình thu hút, tuyển dụng người tài
Trong quá trình tuyển dụng của doanh nghiệp phải đảm bảo mức
lương phù hợp với năng lực của lao động. Trọng dụng nhân tài, tạo môi
- 14 -
trường thuận lợi giúp cho người lao động yên tâm làm việc, thể hiện hết
năng lực của mình.
2.5.3. Chính sách trong quá trình đào tạo
Các cơ sở đào tạo là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình đào
tạo, giáo dục nhân tài cho các doanh nghiệp, cho nhà nước. Đầu vào cho
các trường phải đảm bảo chất lượng, quá trình thực hiện giảng dạy nên
kết hợp giữa lý thuyết với thực hành, thực hành là chủ yếu. Thực hiện
việc ứng dụng khoa học – kỹ thuật – công nghệ đối với việc học và
nghiên cứu của học viên. Cơ sỏ vật chất phục vụ cho học và giảng dạy
phải luôn được quan tâm đổi mới. Đội ngũ cán bộ nhân viên giảng dạy
phải nâng cao năng lực, truyền đạt kiến thức phù hợp với điều kiện thực
tế.
III. Kết luận
Hiện nay, vấn đề giáo dục các cấp học đang được xã hội quan tâm.
Bên cạnh những thành tựu góp phần nâng cao trình độ dân trí, nâng cao
thu nhập cho đội ngũ lao động trí thức, đồng thời góp phần phát triển đất
nước. Giáo dục đào tạo còn gặp rất nhiều khó khăn, bất cập
Để phát huy những thành tựu và khắc phục khó khăn chúng tôi đã
có ý tưởng đưa ra mô hình phát triển giáo dục mới với sự liên kết giữa
người học, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, nhà nước với những chính
sách liên quan đến đào tạo. Tất cả liên kết hài hòa, thống nhất sẽ giải đáp
được những vấn đề, nâng cao chất lượng lao động cho các doanh nghiệp.
Các cơ sở đào tạo sẽ luôn được đổi mới hiệu quả, người lao động sẽ có
2.5.2. Chính sách trong quá trình thu hút, tuyển dụng người tài 8
2.5.3. Chính sách trong quá trình đào tạo 8
III. Kết luận 9
- 17 -