Luận văn
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
PHÂN TÍCH CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
XÂY DỰNG LŨNG LÔ MỤC LỤC
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH CHI
PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP. 1
I. Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp. 1
1. Đặc điểm của nghành xây dựng cơ bản và sản phẩm xây lắp ảnh hưởng đến
quá trình hình thành chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. 1
2 Chi phí sản xuất xây lắp. 2
3. Giá thành sản phẩm xây lắp. 6
4. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp. 8
II Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp xây lắp. 9
1. Những nhân tố khách quan. 9
2. Những nhân tố chủ quan bên trong doanh nghiệp. 11
III. Những yêu cầu cơ bản trong quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm. Error! Bookmark not defined.
IV. Mục đích và ý nghĩa phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm ở một doanh nghiệp . 12
tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty xây dựng
Lũng Lô. 50
II. Hoàn thiện tổ chức hệ thống thông tin phục vụ cho công tác phân tích
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng lũng lô. 52
III Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích chi phí sản xuất tại
công ty xây dựng Lũng Lô. 55
1. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
ở công ty xây dựng Lũng Lô. 55
2. Xây dựng mẫu biểu phục vụ cho công tác phân tích chi phí sản xuất. Error!
Bookmark not defined.
3. Hoàn thiện phương pháp phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. 70
IV Những điều kiện để thực hiện những nội dung hoàn thiện đã nêu ở
công ty xây dựng Lũng Lô. 75 Trang
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
I. Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây
lắp.
1. Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và sản phẩm xây lắp ảnh
hưởng đến quá trình hình thành chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Khác với các ngành sản xuất vật chất khác, ngành xây dựng cơ bản là
ngành có khả năng tái sản xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền
kinh tế quốc dân. Nó tạo ra cơ sở vật chất cho toàn xã hội, cơ sở hạ tầng cho
nền kinh tế quốc dân, tăng cường tiềm lực kinh tế, lẫn quốc phòng cho đất
nước. Ngành xây dựng cơ bản có nhiều đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính
đặc thù của sản phẩm ngành xây dựng và sản xuất xây dựng. Chúng có ảnh
hưởng lớn đến việc tổ chức sản xuất và quản lý tài chính trong ngành xây dựng.
tổ chức xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian như: thời tiết,
sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, giá cả thị trường… Công trình xây dựng dễ bị
hao mòn ngay khi hoàn thành, do sự phát triển của khoa học công nghệ nếu
thời gian thiết kế và thi công xây dựng dài. Điều này đòi hỏi các bên tham gia
phải chú trọng về mặt thời gian, phương thức thanh toán, lựa chon phương án,
tiến độ thi công phù hợp cho từng hạng mục công trình, toàn bộ công trình.
- Sản phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc: Không bao giờ có hai công
trình xây dựng giống hệt nhau, bởi lẽ sản phẩm xây dựng được sản xuất theo
đơn đặt hàng, ngay sau khi hoàn thành sẽ được tiêu thụ ngay theo giá cả đã thoả
thuận giữa các bên tham gia. Điều này dẫn đến năng xuất lao động không cao,
gây khó khăn trong việc so sánh giá thành, mức hạ giá thành của sản phẩm xây
lắp.
- Hoạt động xây dựng chủ yếu ngoài trời nên chịu ảnh hưởng rất lớn của
điều kiện tự nhiên, ảnh hưởng này thường xuyên làm gián đoạn quá trình thi
công, năng lực của doanh nghiệp không điều hoà, ảnh huưởng đến sản phẩm dở
dang, vật tư thiết bị thi công…Đặc điểm này yêu cầu doanh nghiệp xây dựng
phải lập tiến độ thi công, tổ chức lao động hợp lý để tránh thời tiết xấu, giảm
thiểu tổn thất do thời tiết gây ra, tổ chức cải thiện đời sống của người lao động.
Những đặc điểm trên đây của ngành xây dựng cơ bản cũng như sản phẩm
xây lắp có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý chi phí và gía thành sản
phẩm xây lắp, đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp phải có các biện pháp, kế
hoạch chi phí và giá thành sản phẩm hiệu quả để không ngừng nâng cao hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Để thực hiện được điều này,
trước hết chúng ta phải cùng tìm hiểu khái niệm về chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm.
2. Chi phí sản xuất xây lắp.
2.1 Khái niệm chi phí sản xuất xây lắp. Trang
yếu tố của quá trình sản xuất đó là: Sức lao động của con người, tư liệu lao
động và đối tượng lao động. Sự tham gia của các yếu tố vào quá trình sản xuất
hình thành nên các khoản chi phí tương ứng.Tương ứng với việc sử dụng
TSCĐ là chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với sử dụng nguyên vật liệu là chi Trang
phí về nguyên vật liệu,tương ứng với việc sử dụng lao động là chi phí tiền
công, tiền lương…
Như vậy, chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí
về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh
nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất xây lắp trong một thời kỳ nhất
định.
Trong doanh nghiệp xây lắp ngoài hoạt động sản xuất xây lắp tạo ra các
sản phẩm xây lắp còn có các hoạt động khác. Do đó chỉ các khoản chi phí phát
sinh liên quan đến quá trình sản xuất xây lắp nhằm tạo ra sản phẩm xây lắp mới
được coi là chi phí sản xuất xây lắp.
2.2 Phân loại chi phí sản xuất xây lắp.
Chi phí sản xuất xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp phát sinh thường
xuyên trong quá trình sản xuất và bao gồm nhiêù loại, có nội dung, công dụng
và đặc tính khác nhau nên yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau. Vì
vậy, để quản lý tốt chi phí thì cần phải phân loại chi phí sản xuất xây lắp. Có
thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại chi phí sản xuất xây lắp.
Có nhiều cách phân chia chi phí sản xuất, song mỗi cách phân chia chi phí sản
xuất phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
- Tạo điều kiện sử dụng thông tin kinh tế nhanh nhất cho công tác quản lý
chi phí sản xuất phát sinh, phục vụ tốt cho công việc kiểm tra, giám sát chi phí
sản xuất của doanh nghiệp
- Đáp ứng đầy đủ những thông tin cần thiết cho việc tính toán hiệu quả các
phương án sản xuất nhưng lại cho phép tiết kiệm chi phí hạch toán và thuận lợi
viên điều khiển máy thi công.
- Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí trực tiếp khác ngoài các
khoản chi phí trên phát sinh ở tổ đội, công trường xây dựng bao gồm: Lương
nhân viên quản lý đội, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên tiền lương
phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp, nhân viên quản lý đội, công
nhân điều khiển máy thi công, Khấu hao tài sản cố định dùng chung cho hoạt
động của tổ, đội và chi phí khác liên quan đến hoạt động của tổ, đội.
Phân loại chi phí theo tiêu thức này chỉ rõ chi phí doanh nghiệp bỏ ra cho
từng lĩnh vực hoạt động, từng địa điểm phát sinh, làm cơ sở cho việc tính giá
thành sản phẩm xây lắp theo khoản mục, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch
giá thành.
2.2.2. Phân loại chi phí sản xuất xây lắp theo mối quan hệ giữa chi
phí với đối tượng chịu chi phí .
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất xây lắp được chia thành chi phí
trực tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí tực tiếp: là chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu
chi phí. Những chi phí này được tập hợp trực tiếp cho từng công trình, hạng Trang
mục công trình như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp.
- Chi phí gián tiếp: là chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí,
kế toán không thể tập hợp trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình
mà phải tập hợp riêng sau đó phân sau đó phân bổ cho từng đối tượng theo các
tiêu chuẩn phân bổ.
Do mỗi loại chi phí có tác dụng khác nhau đối với mỗi loại công trình,
hạng mục công trình nên việc phân loại rõ chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
có ý nghĩa thực tiễn cho việc đánh giá hợp lý chi phí và tìm biện pháp không
ngừng giảm chi phí gián tiếp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
chi phí đã bỏ ra để sản xuất ra chúng.
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ những chi phí về lao động sống,
lao động vật hoá và các chi phí khác biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp
xây lắp bỏ ra để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình, hạng mục công
trình theo quy định.
Sản phẩm xây lắp có thể là khối lượng công việc hoặc giai đoạn công việc
có dự toán riêng, có thể lá công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành toàn
bộ. Khác với các doanh nghiệp sản xuất khác, giá thành sản phẩm xây lắp
mang tính chất cá biệt, mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây
lắp khi đã hoàn thành đều có giá thành riêng.
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất
lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao
động, tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật
mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành
sản phẩm.
3.2. Các loại giá thành sản phẩm xây lắp
Việc phân biệt các loại giá thành trong sản xuất xây lắp sẽ giúp cho doanh
nghiệp trong việc nghiên cứu và quản lý tốt gía thành sản phẩm.
Giá thành được chia thành các loại: giá thành dự toán, giá thành kế hoạch,
giá thành thực tế.
- Giá thành dự toán: Do đặc điểm hoạt động xây lắp, thời gian sản xuất
thi công dài, mang tính đơn chiếc nên mỗi công trình, hạng mục công trình đều
phải lập dự toán trước khi sản xuất thi công.
- Giá thành dự toán là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây
lắp công trình, hạng mục công trình. Giá thành dự toán được xác định trên cơ
sở các định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá của nhà nước. Giá thành dự toán là
chênh lệch giữa giá trị dự toán và phần lãi định mức.
Giá thành dự toán Giá trị dự toán của
Của công trình, hạng = công trình, hạng mục - Lãi đ
ịnh mức
đến sản phẩm đã hoàn thành hay chưa. Chi phí sản xuất không những chỉ liên
quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thành mà còn liên quan đến khôí lượng
sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Chi phí sản xuất gắn liền với
từng thời kỳ phát sinh.
Giá thành sản phẩm gắn với khối lượng sản phẩm hoàn thành. Giá thành
sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một công trình, hạng mục công trình hay
khối lượng công việc xây lắp hoàn thành theo quy định. Giá thành sản phẩm Trang
xây lắp còn có thể bao gồm cả chi phí sản xuất khối lượng dở dang đầu kỳ và
không bao gồm chi phí của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ được chuyển
sang kỳ sau.
Mặc dù có sự khác nhau, nhưng giữa giá thành và chi phí sản xuất xây lắp
lại có mối quan hệ mật thiết vơí nhau. Chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá
thành sản phẩm, chi phí sản xuất biểu hiện sự hao phí còn giá thành biểu hiện
kết quả của quá trình sản xuất. Chi phí sản xuất trước hết thể hiện theo các yếu
tố chi phí, sau đó khi tính giá thành sản phẩm thì chi phí được thể hiện theo các
khoản mục tính giá thành. Mức tiết kiệm hay lãng phí các nguồn lực sẽ ảnh
hưởng đến kết quả tài chính khi thi công công trình.
II Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp xây lắp.
Chi phí sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp để đánh giá
tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất trong quá trình kinh
doanh, cũng như chính bản thân doanh nghiệp hoạt động trên thị trường. chi phí
sản xuất kinh doanh chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó có
những nhân tố mang tính chất khách quan và có những nhân tố mang tính chủ
quan, các nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng tác động tới
chi phí.
1. Những nhân tố khách quan.
tranh một mặt thúc đẩy doanh nghiệp hạ thấp hao phí lao động cá biệt để tăng
khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Mặt khác nó lại có tác động làm
tăng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .Trong thị trường xây dựng,
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây lắp diễn ra cũng không kém phần gay gắt
và khốc liệt như trong thị trường hàng hoá tiêu dùng thông thường. Biểu hiện
rõ nét nhất của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây lắp trên thị trường xây
dựng đó là hoạt động tranh thầu. Như đã biết, đối với các doanh nghiệp xây lắp
điều kiện tiên quyết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
thực hiện là doanh nghiệp phải ký được các hợp đồng xây dựng- tức là bằng
mọi giá doanh nghiệp phải thắng thầu. Vì thế doanh nghiệp phải bỏ ra những
khoản chi phí để có dược những hợp đồng xây dựng đó như: Chi phí trả cho
dịch vụ môi giới, tư vấn xây dựng, chi phí quảng cáo… Chính vì thế nó có tác
động làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
Ngoài các nhân tố khách quan trên: Nhân tố tiến bộ của khoa học, kỹ
thuật, công nghệ cũng ảnh hưởng tới chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Khi những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, những quy trình công nghệ mới
được ứng dụng vào sản xuất cùng với xu hướng chuyên môn hoá sản xuất ngày
càng tăng sẽ góp phần tăng năng xuất lao động và chất lượng tốt nhằm giảm lao
động chân tay… Đó cũng là nhân tố góp phần làm giảm chi phí.
Trong giai đoạn hiện nay, các khoản mục chi phí luôn có sự thay đổi. Nhất
là các khoản tiền lương, chi phí nhiên liệu, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí Trang
trả lãi tiền vay,chi phí công cụ lao động. Những khoản này nằm ngoài ý muốn
của doanh nghiệp và làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh.
2. Những nhân tố chủ quan bên trong doanh nghiệp.
Bên cạnh những nhân tố khách quan trên còn có những nhân tố chủ quan
ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Năng xuất
lao động của con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý sản
Trang
Trên đây là các yếu tố chủ quan cũng như khách quan ảnh hưởng đến chi
phí sản xuất kinh doanh. Việc nghiên cứu các nhân tố này có ý nghĩa quan
trọng trong các doanh nghiệp sản xuất vì nó là cơ sở để các doanh nghiệp đề ra
các phương hướng và các biện pháp chung nhằm phấn đấu hạ thấp chi phí sản
xuất, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
III. Mục đích, ý nghĩa phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm ở một doanh nghiệp .
1. Mục đích phân tích chi phí và giá thành sản phẩm ở một doanh
nghiệp.
Mục đích phân tích chi phí: Phân tích tình hình chi phí nhằm mục đích
nhận thức và đánh giá chính xác, toàn diện và khách quan tình hình quản lý và
sử dụng chi phí, qua đó thấy được tác động ảnh hưởng của nó đến quá trình và
kết quả kinh doanh. Qua phân tích chi phí có thể thấy được tình hình quản lý và
sử dụng chi phí có hợp lý hay không; có phù hợp với những nhu cầu kinh
doanh, với những nguyên tắc quản lý kinh tế – tài chính và mang lại hiệu quả
kinh tế hay không? Đồng thời, tìm ra những mặt tồn tại bất hợp lý trong quản
lý và sử dụng chi phí. Từ đó, đề xuất những chính sách, biện pháp khắc phục
nhằm quản lý và sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh tốt hơn.
Mục đích phân tích giá thành: Là nhằm nhận thức, đánh giá một cách
chính xác, toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất gia công của doanh nghiệp
trong kỳ về mặt số lượng sản phẩm, giá thành sản phẩm và chất lượng sản
phẩm sản xuất ra ,qua đó thấy được mức độ hoàn thành và số chênh lệch tăng
giảm. Đồng thời qua phân tích cũng thấy được những mâu thuẫn trong việc tổ
chức và quản lý quá trình sản xuất gia công và tiêu thụ sản phẩm. Từ đó đề ra
được những chính sách và biện pháp cải tiến, hoàn thiện quá trình sản xuất và
quản lý sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
2. Ý nghĩa phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở một
doanh nghiệp.
kinh doanh đang diễn ra như thế nào và kết quả ra sao. Qua phân tích chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm có thể đánh giá tổng hơp, khách quan có phê
phán tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay, các doanh
nghiệp thực hiện hạch toán kinh doanh. Hạch toán kinh doanh là một quá trình
bắt đầu từ việc tìm hiểu nhu cầu thị trường, xây dựng kế hoạch và phương án
sản xuất kinh doanh, tổ chức phương án sản xuất kinh cho đến việc phân tích
và đánh giá kết quả đạt được của phương án sản xuất kinh doanh đã được thực
hiện. Qua phân tích, đánh giá có thể vạch ra mặt mạnh, mặt yếu kém, các
nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có
căn cứ đúng đắn cho việc đề ra các biện pháp nhằm cải tiến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Trang
-Phân tích chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp phát hiện và khai thác
những khả năng tiềm tàng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong quản lí chi phí sản xuất, phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm được xác định như phương pháp phát hiện khả năng tiềm tàng trong sản
xuất kinh doanh của doanh và đề ra những biện pháp sử dụng chúng. Nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh phần lớn phụ thuộc vào những khả năng tiềm
tàng được phát hiện và thực hiện như thế nào. Khả năng tiềm tàng luôn sẵn có
trong các doanh nghiệp vì các lí do sau đây:
+ Các doanh nghiệp luôn được phát triển về năng lực sản xuất như bổ sung
máy móc thiết bị, lao động, đổi mới trang thiết bị kĩ thuật.
+Các khả năng tiềm tàng hết sức đa dạng và luôn thay đổi về mức độ bởi
vì việc sử dụng một số khả năng tiềm tàng này sẽ làm xuất hiện những điều
kiện để tiếp tục khả năng tiềm tàng khác, do đó việc khai thác chúng là vô tận.
Có thể nói, các khả năng tiềm tàng là một nguồn vô tận để nâng cao khối lượng
và chất lượng sản phẩm, công việc, không ngừng hoàn thiện phương thức quản
lí doanh nghiệp, cải thiện điều kiện làm việc và đời sống của cán bộ công nhân
phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đều bao gồm các nội dung
chính sau:
- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí nguyên vật
liệu. Bao gồm hai nội dung phân tích sau:
Phân tích đánh gía chung tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp trong giá thành sản phẩm.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khoản mục chi phí nguyên vật liệu.
Tài liệu sử dụng là:
+ Các chỉ tiêu kế hoạch, định mức tiêu hao nguyên vật liệu của doanh
nghiệp.
+ Các số liệu, tài liệu kế toán chi phí nguyên vật liệu của doanh nghiệp
bao gồm cả kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết.
+ Các tài liệu thông tin về thị trường, giá cả của các loại nguyên vật liệu
mà doanh nghiệp đang sử dụng.
- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí nhân công
trực tiếp sản xuất. Bao gồm hai nội dung phân tích sau:
Phân tích chung tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí nhân
công trực tiếp sản xuất.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp.
Tài liệu sử dụng để phân tích
Các chỉ tiêu kế hoạch, định mức tiền lương ở doanh nghiệp.
Các số liệu tài liệu kế toán chi phí tiền lương của doanh nghiệp bao gồm
cả kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết và các tài liệu thống kê.
+ Các chế độ, chính sách về tiền lương của nhà nước, của doanh nghiệp
bao gồm cả những văn bản quy định hướng dẫn của nghành hoặc cơ quan chủ
quản, của cơ quan bảo hiểm xã hội. Trang
+ Các hợp đồng lao động và chính sách về quản lý lao động.
giá thành sản phẩm xây lắp được chi tiết theo từng khoản mục chi phí, như
khoản mục chi phí nguyên vật liệu, khoản mục chi phí nhân công trực tiếp,
khoản mục chi phí sử dụng máy thi công, khoản mục chi phí sản xuất chung. Trang
Các khoản mục chi phí này lại được chi tiết theo từng khoản mục chi phí nhỏ
khác.
2.2 Phương pháp so sánh.
Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định
mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Trong phân tích chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm, chúng ta phải so sánh giá trị sản phẩm đạt được với chi phí
sản xuất bỏ ra trong kỳ kinh doanh, So sánh chỉ tiêu tổng chi phí sản xuất kì
thực hiện so với kì kế hoạch cũng như chi phí của từng khoản mục trong giá
thành, so sánh mức giá thành công trình thực tế đạt được với giá thành công
trình lập theo dự toán thi công ( giá thành kế hoạch).
Phương pháp so sánh có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán và có thể nhanh
chóng đánh giá các chỉ tiêu cần phân tích. Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp
này thì sẽ không xác định được cụ thể sự ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ
tiêu phân tích. Vì vậy, việc đề xuất những biện pháp khắc phục những tồn tại
hay phát huy những ưu điểm của doanh nghiệp bị hạn chế. Để khắc phục nhược
điểm này, trong phân tích người ta còn sử dụng phương pháp loại trừ.
2.3 Phương pháp loại trừ.
Là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối
tượng phân tích, bằng cách khi xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố này thì
loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác.
Có hai hình thức:
a. Phương pháp thay thế liên hoàn: là phương pháp thay thế lần lượt số
liệu gốc bằng số liệu muốn so sánh của các nhân tố có ảnh hưởng đến chỉ tiêu
kinh tế được phân tích theo một lôgic xác định. Thông thường, trình tự thay thế
DỰNG LŨNG LÔ
I. Khái quát chung về Công ty Xây dựng Lũng Lô.
1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Công ty xây dựng
Lũng Lô.
Tiền thân của Công ty Xây dựng Lũng Lô là Công ty khảo sát – thiết kế và
xây dựng Lũng Lô, đựơc thành lập ngày 16/11/1989 theo quyết định số
294/QĐ- QP của Bộ Quốc Phòng. Lúc này đất nước đã chuyển sang thời bình,
đang gắng mình hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước, các chiến sỹ của Cục
công trình thuộc Bộ Tư Lệnh Công Binh trước đây tham gia xây dựng hầm,
đào hào chiến đấu thì nay chuyển sang làm công tác xây dựng. Nhiệm vụ sản
xuất kinh doanh của Công ty lúc này là nhận thầu quy hoạch, khảo sát, thiết kế,
thi công các công trình ngầm trong công nghiệp dân dụng, giao thông thuỷ lợi.
Công ty khảo sát – thiết kế và xây dựng Lũng Lô có cơ cấu tổ chức gọn
nhẹ, phương thức hạch toán đơn giản. Công ty chưa có giấy phép hành nghề và
hoạt động chủ yếu ở phía Bắc. Tài sản cố định của công ty chưa được theo dõi
vì phần lớn đó là những thiết bị quân đội chuyển sang.
Ngày 26/8/1993, Bộ Quốc Phòng có quyết định 577/QĐ - QP thành lập
Công ty xây dựng Lũng Lô theo nghị định 388- DNNN với số vốn pháp định là
2232.4 triệu đồng. Công ty xây dựng Lũng Lô bao gồm 9 xí nghiệp trực thuộc.
Lúc này nhiệm vụ sản xuất của Công ty không thay đổi. Công ty được Bộ giao
thông vận tải, Bộ xây dựng, Bộ Quốc Phòng cấp giấy phép hành nghề, có tư
cách pháp nhân, được phép kí kết hợp đồng kinh tế trong phạm vi cả nước.
Phương pháp hạch toán của Công ty là các xí nghiệp tự hạch toán, lập báo cáo
rồi gửi lên Công ty. Các xí nghiệp tự tìm việc, Công ty ký duyệt hoặc uỷ quyền
cho xí nghiệp ký, sau đó xí nghiệp nộp lợi nhuận cho Công ty theo tỷ lệ quy
định trước.
Ngày 17/4/1996, Bộ Quốc Phòng có quyết định 466/ QĐ-QP thành lập
Công ty xây dựng Lũng Lô mới, trên cơ sở sát nhập của:
- Công ty xây dựng Lũng Lô cũ.
- Công ty xây dựng 25/3.
Chỉ có Công ty mới có tư cách pháp nhân đầy đủ trong quan hệ giao dịch,
ký kết các hợp đồng với khách hàng, với các tổ chức, các cơ quan quản lý và
trực tiếp thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước. Các xí nghiệp trực
thuộc chỉ ký kết hợp đồng kinh tế khi được sự uỷ quyền cuả Công ty. Trong
giới hạn cho phép, các xí nghiệp trực thuộc được mở tài khoản giao dịch
(chuyên thu hoặc chuyên chi), không được mở tài khoản tiền vay, có thể có
con dấu để thực hiện các hoạt động giao dịch.
Năng lực của Công ty: Trang
Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của Công ty không ngừng phát triển cả
về số lượng, chất lượng. Công ty thường xuyên cử cán bộ, công nhân kỹ thuật
tham gia các lớp học, khoá học về quản lý, kỹ thuật, kiểm soát chất lượng nhằm
đáp ứng nhu cầu phát triển không ngừng của Công ty. Công tác trẻ hoá đội ngũ
cán bộ kỹ thuật và quản lý được chú trọng, Công ty luôn khuyến khích và tiếp
nhận đội ngũ cán bộ trẻ có tay nghề và tiếp thu được trình độ khoa học và công
nghệ hiện đại.
Hệ thống trang thiết bị của Công ty: Với mục tiêu từng bước hiện đại hoá
trang thiết bị thi công, đáp ứng được nhu cầu phát triển của Công ty cũng như
có đủ khả năng, năng lực tham gia thi công các dự án lớn và đòi hỏi cao về tiêu
chuẩn kỹ thuật chất lượng và tiến độ. Công ty luôn luôn chú trọng trong việc
đầu tư trang bị công nghệ hiện đại. Trong những năm qua Công ty đã tập trung
đầu tư hàng trăm tỷ đồng thiết bị phục vụ các công việc như thi công công trình
ngầm, thi công san nền, bốc xúc, vận chuyển, thi công công trình giao thông,
thuỷ điện, thuỷ lợi, công nghiệp, xây dựng dân dụng…
Với trang thiết bị cơ giới đa dạng và hiện đại cùng đội ngũ cán bộ kỹ thuật
nhiều kinh nghiệm, lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề, Công ty xây dựng
Lũng Lô đã thi công công trình dân dụng cao tầng, các công trình giao thông
đường, cầu cảng, công trình ngầm…trên phạm vi cả nước.
trình được xây dựng và sử dụng tại chỗ, sản phẩm mang tính đơn chiếc, có kích
thước và chi phí lớn, thời gian sử dụng lâu dài Xuất phát từ đặc điểm đó, nên
quá trình sản xuất các loại sản phẩm chủ yếu của Công ty xây dựng Lũng Lô có
đặc điểm là: sản xuất phức tạp liên tục, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi
công trình đều có dự toán, thiết kế riêng và phân bổ rải rác ở các địa điểm khác
nhau, tuy nhiên hầu hết các công trình đều phải tuân theo một quy trình công
nghệ sản xuất như sau:
Nhận thầu thông qua đấu thầu hoặc giao thầu trực tiếp.
Ký hợp đồng xây dựng với bên A ( là chủ đầu tư công trình, hoặc nhà
thầu chính).
Trên cơ sở hồ sơ thiết kế và hợp đồng xây dựng đã được ký kết, Công
ty đã tổ chức quá trình thi công để tạo ra sản phẩm: Giải quyết mặt bằng thi
công, tổ chức lao động, bố trí máy móc thiết bị thi công, tổ chức cung ứng vật
tư, tiến hành xây dựng và hoàn thiện.
Công trình được hoàn thành dưới sự giám sát của chủ đầu tư công trình
hoặc nhà thầu chính về mặt kỹ thuật và tiến độ thi công.
Bàn giao công trình và thanh quyết toán hợp đồng xây dựng với chủ
đầu tư hoặc nhà thầu chính. BAN QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH
TỔ SẢN XUẤT
TỔ SẢN XUẤT
TỔ SẢN XUẤT