Luận văn
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
KẾ HOẠCH THƯƠNG MẠI
(tháng 9/2002)
Phần thứ nhất
TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH.
I. XUẤT KHẨU
Kim ngạch xuất khẩu tháng 9 đạt khoảng 1.250 triệu USD, giảm 7% so với
số thực hiện tháng 8/2002 và giảm 0,2% so với số thực hiện tháng 9 năm 2000.
Xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt
545 triệu USD, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn trong nước đạt 705 triệu
USD. Trừ cao su và hàng thủ công mỹ nghệ có mức xuất khẩu tăng, các mặt hàng
chủ yếu khác đều giảm sút so với thực hiện tháng 9 năm 2000
- Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm đạt khoảng 11.656 triệu USD, bằng
69,5% kế hoạch cả năm, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2000. Trong đó, xuất
khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 5.317 triệu USD, tăng 8%
và xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn trong nước đạt 6.339 triệu USD, tăng
12,6% so với cùng kỳ năm 2000.
1. Nhận định tình hình
- Trừ tháng 4, từ tháng 1 đến tháng 7, kim ngạch xuất khẩu tháng sau luôn
cao hơn tháng trước và tháng 7 là đỉnh điểm của 9 tháng đầu năm; tháng 8 giảm so
với tháng 7 và ước tháng 9 giảm so với tháng 8.
- So sánh kết quả xuất khẩu các tháng đầu năm 2001 với các tháng cùng kỳ
năm 2000 cho thấy xu hướng biến động tốc độ tăng trưởng tương đối giống nhau,
cụ thể là tháng 7 đều có kim ngạch cao nhất, tháng 4 cùng tăng trưởng chậm so với
tháng 3, từ tháng 8 bắt đầu giảm tăng trưởng và đến tháng 9 cùng là mức thấp nhất
kể từ tháng 6.
trưởng 30,6%).
Mặt hàng có khối lượng xuất khẩu tăng nhanh là: hạt tiêu (51,4%), cà phê
(40,4%), gạo (16,5%), hạt điều nhân (21,5%).
Mặt hàng có giá xuất khẩu giảm mạnh là: cà phê, hạt tiêu, hạt điều nhân,
gạo, chè.
- Nhóm công nghiệp nặng và khoáng sản: 9 tháng đầu năm tăng 6,6% (9
tháng đầu năm 2000 tăng 81%), do khối lượng xuất khẩu tăng 17,8%, làm tăng kim
ngạch khoảng 455 triệu USD và do giá giảm 9,4%, làm giảm kim ngạch khoảng
286 triệu USD (nếu giá không bị giảm thì nhóm này tăng trưởng 17,8%). Nhóm
này có dầu thô tăng khối lượng xuất 17,1% và giá xuất khẩu giảm 9,5%; than đá
tăng khối lượng xuất 40,3% và giá xuất khẩu giảm 7,6%.
- Nhóm công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp: 9 tháng đầu năm tăng 0,7% (9
tháng đầu năm 2000 tăng 15,7%), do khối lượng xuất khẩu tăng 7,7%, làm tăng
kim ngạch khoảng 252 triệu USD và do giá giảm 7%, làm giảm kim ngạch khoảng
230 triệu USD (nếu giá không giảm thì nhóm này tăng trưởng 7,7%). Nhóm này có
hàng linh kiện điện tử giảm 18,8%, hàng dệt may giảm 8,7%, các mặt hàng khác có
tăng trưởng nhưng không nhiều.
Tóm lại, xuất khẩu 9 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm 2000 tăng 18% về
khối lượng, làm tăng kim ngạch khoảng 1.897 triệu USD và giá giảm 6,4% làm
giảm kim ngạch khoảng 793 triệu USD (nếu giá không bị giảm thì xuất khẩu 9
tháng đầu năm 2001 tăng 18%).
2. Nguyên nhân
2.1 Nguyên nhân chủ yếu làm tăng xuất khẩu
- Nhà nước và doanh nghiệp đã có nhiều biện pháp xúc tiến thương mại,
phát triển thị trường, tình hình biến động số lượng thị trường xuất khẩu 8 tháng đầu
năm 2000 (theo thống kê Hải quan) của nông sản chủ lực như sau:
S
T
T
+8
2
G
ạo
25
37
+12
3
Cà phê
31
41
+10
4
Rau qu
ả
28
13
25
+12
8
Chè
22
28
+6
9
L
ạc nhân
12
20
+8
- 9 tháng đầu năm đều tăng so với cùng kỳ năm 2000, nhiều thị trường tăng
trưởng nhanh về tốc độ và tỷ trọng; nhiều mặt hàng chủ lực tăng khối lượng xuất
mua của dân cư giảm sút đã góp phần làm giảm khả năng xuất khẩu của ta, nhất
là với các mặt hàng chủ lực như hàng dệt may, giày dép, hàng điện tử. Sau sự kiện
11/9 tại Hoa kỳ, thị trường thế giới biến động tăng thêm bất lợi cho xuất khẩu của
ta (riêng tháng 9 giảm so với dự kiến đầu tháng khoảng 11%).
Thứ tư, hoạt động xúc tiến thương mại nhìn chung vẫn chưa đáp ứng yêu
cầu phát triển của xuất, nhập khẩu, nhất là việc hỗ trợ thông tin cho sản xuất các
mặt hàng có khả năng tiêu thụ trên thị trường, giới thiệu, khuyếch trương thương
hiệu Việt Nam trên thị trường vì vậy, tỷ trọng thị trường mặt hàng xuất khẩu chủ
yếu tăng trưởng chậm (như đã nêu trên) và thị trường mới không nhiều.
Thứ năm, Hiệp Định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ chưa được phê chuẩn.
II. NHẬP KHẨU
1. Kết quả:
- Kim ngạch nhập khẩu tháng 9 đạt khoảng 1.320 triệu USD, tăng 1,1% so
với tháng 8/2001 và tăng 0,1% so với tháng 9 năm 2000. Nhập khẩu của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 360 triệu USD và nhập khẩu của các doanh
nghiệp có vốn trong nước 960 triệu USD.
- Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm đạt khoảng 11.778 triệu USD,
bằng 66,2% kế hoạch cả năm, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2000. Trong đó, nhập
khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3.541 triệu USD, tăng
15,2% và nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn trong nước đạt 8.237 triệu USD,
tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2000.
Hầu hết các mặt hàng nhập khẩu 9 tháng tăng khá so với cùng kỳ năm 2000,
trừ phân hoá học giảm 28%, linh kiện điện tử và linh kiện máy vi tính giảm 22%.
2. Nhận định tình hình.
- Nhập khẩu 9 tháng đầu năm có chu kỳ tương tự năm 2000 và chênh lệch
giữa các tháng năm 2001 so với cùng kỳ không lớn.
- Trong 7 tháng đầu năm 2001, trừ tháng 1, mức nhập khẩu các tháng khác
đều cao hơn cùng kỳ năm 2000, đến tháng 8 nhập khẩu kém hơn và tháng 9 nhập
khẩu xấp xỉ cùng kỳ năm 2000.
- Từ tháng 4/2001 đến nay, nhập khẩu không tăng (tháng 4, 6,7, 8) hoặc tăng
- Số các doanh nghiệp tham gia nhập khẩu còn ít, mới chiếm khoảng 45 -
50% tổng số doanh nghiệp đăng ký nhập khẩu với cơ quan Hải quan.
- Một số mặt sản xuất trong nước phát triển dần thay thế hàng nhập khẩu
(dây cáp điện, sản phẩm sữa, cao su, quạt điện ).
- Khối lượng một số mặt hàng tăng nhanh (như nêu trên) chủ yếu do nhu cầu
tiêu dùng tăng.
3. Cán cân thương mại
9 tháng đầu năm, thương mại hàng hoá nhập siêu 122 triệu USD, bằng 1%
kim ngạch xuất khẩu hàng hoá.
III. LƯU THÔNG HÀNG HOÁ TRONG NƯỚC
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ
- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ so với cùng kỳ năm 2000:
tháng 9/2001 ước đạt 21.000 tỷ đồng, tăng 11%; 9 tháng đầu năm 2001 ước đạt
175 ngàn tỷ đồng, tăng 10%.
- Thị trường ở các tỉnh/thành phố ổn định, không có mặt hàng "sốt giá".
2. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 ước tăng 0,5% so với tháng 8 và tăng 0,7% so
với cùng kỳ năm 2000.
Chỉ số giá lương thực sau một thời gian dài luôn giảm so với cùng kỳ năm
2000, nay đã bắt đầu tăng, cụ thể là: tháng 7 xấp xỉ bằng tháng 6; tháng 8 tăng
1,2% so với tháng 7 (chủ yếu do không cung cấp kịp thời gạo xuất khẩu, nên có
một phần giá tăng ảo) và tháng 9 ước tăng 2,3% so với tháng 8.
3. Một số mặt hàng đáng lưu ý
Thóc, gạo: so với tháng 8, giá gạo tẻ ở nhiều địa phương phía Bắc khoảng
2.800 - 3.000 đồng/kg, tăng khoảng 200 đồng/kg; ở đồng bằng sông Cửu Long
khoảng 2.500 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg.
Ở một số vùng lũ, lụt, nhu cầu tiêu thụ được đáp ứng, tuy nhiên sức mua của
dân thấp nên có thời điểm, có nơi xảy ra tình hình dân thiếu đói (Gia Lai).
Cà phê: so với tháng 8, giá cà phê loại 1 khoảng 5.100 đồng/kg, tăng 100 -
200 đồng/kg, riêng ở Đồng Nai giá vẫn khoảng 4.800 đồng/kg. Nhìn chung giá cà
Giang, Yên Bái. Riêng Tuyên Quang đến nay đã bán vượt kế hoạch 19,4%.
4. Quản lý thị trường
Về chống hàng giả: gần đây, ở một số địa phương phát hiện thép xây dựng
giả nhãn mác của thép do nhà máy gang thép Thái Nguyên sản xuất, ở biên giới
Tây Nam tiếp tục có tình trạng thuốc lá giả sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh,
được chuyển qua Campuchia và nhập lậu trở lại Việt Nam (chủ yếu là thuốc lá Jet).
Về chống buôn lậu: đường kính và thuốc lá điếu vẫn tiếp tục nhập lậu với số
lượng lớn. Trong thời gian lũ, lụt, nhập lậu tăng mạnh ở khu vực biên giới Tây
Nam, do khả năng kiểm soát vốn đã hạn chế, khi lũ lụt càng khó kiểm soát hơn.
5. Một số nhận định về thị trường
Mặt được
- 9 tháng đầu năm thị trường tương đối ổn định, so với cùng kỳ năm 2000
lưu thông hàng hoá tăng ở hầu hết các địa phương trong cả nước.
- Giá lương thực sau nhiều tháng liên tục giảm so với cùng kỳ năm 2000,
nay đã chuyển biến và đang có xu hướng tăng, có lợi cho nông dân (xem thêm ở
phần chỉ số giá tiêu dùng).
- Tổ chức khá tốt việc bán mặt hàng chính sách phục vụ đồng bào miền núi.
Mặt chưa được
- Thời gian qua chính sách thuế thay đổi nhiều đã ảnh hưởng không tốt tới
môi trường kinh doanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
- Chỉ số giá tiêu dùng vẫn ở mức thấp, không có lợi cho nông dân.
- Kinh doanh xăng dầu chưa có cơ chế ổn định.
- Quản lý vệ sinh, phòng dịch và chất lượng thực phẩm còn lỏng lẻo, nhất là
với các hộ kinh doanh cá thể.
Nguyên nhân chủ yếu
a. Nguyên nhân tích cực:
- Nhiều chuyên gia đánh giá, biến động tăng tỷ giá VNĐ/USD vừa qua
không lớn nhưng đã góp phần thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu.
- Các biện pháp kích cầu của Chính phủ tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh,
tổng khối lượng thanh toán 8 tháng đầu năm tăng khoảng 13%.
1. Ban hành và hướng dẫn văn bản qui phạm Pháp luật
- Hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ về quy định chi tiết thi
hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua
bán hàng hoá với nước ngoài.
- Góp ý kiến với dự thảo Nghị định của Chính phủ về phân loại hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu theo công ước HS.
- Phối hợp với Bộ Thuỷ sản giải quyết việc xuất khẩu tôm sang thị trường
Nhật Bản (ngăn chặn tôm xuất khẩu có dư lượng phóng xạ cho phép); phối hợp với
liên Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Ngoại giao, Tư pháp, Tổng cục Hải quan
về "một số nội dung sẽ đưa vào Hiệp định về mậu dịch tự do Việt Nam - Liên
Bang Nga".
- Trình thủ tướng Chính phủ Đề án giảm bớt mặt hàng trong danh mục hàng
xuất khẩu không thuộc đối tượng doanh nghệp có vốn đầu tư nước ngoài mua để
xuất khẩu; phương án kiểm tra – kiểm soát thuốc lá điếu nhập lậu bày bán trên thị
trường nội địa.
- Đề nghị UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết sớm một
số công tác trọng tâm để tổ chức Ban chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và gian lận
thương mại ở địa phương.
2. Mở rộng thị trường thông qua đàm phán
a. WTO
- Hoàn thiện Phương án và Bản chào về Dịch vụ và Lộ trình cắt giảm các
hàng rào phi thuế gửi các thành viên WTO.
- Hoàn thành và gửi Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật về thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp.
b. APEC
- Tổ chức Hội thảo Phổ biến kiến thức Thương mại điện tử trong khuôn khổ
APEC tại TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà nội.
- Phục vụ cho tiếp xúc song phương tại hội nghị cấp cao APEC 9 và hội nghị
Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế APEC 13, tại Thượng Hải.
c. ASEM
tháng 10 năm 2000. Xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt
500 triệu USD (kể cả dầu thô), xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn trong nước
đạt 730 triệu USD.
Mặt hàng chủ yếu xuất khẩu tháng 10 tăng so với tháng 9 gồm có: thủy sản,
cao su, than đá, dệt may, giầy dép, điện tử và linh kiện máy vi tính và thủ công mỹ
nghệ; mặt hàng giảm có gạo và lạc nhân.
Các mặt hàng xuất khẩu tháng 10 năm nay tăng so với tháng 10/2000 bao
gồm: thủy sản, chè, lạc nhân, hàng dệt may và thủ công mỹ nghệ; các mặt hàng
giảm sút gồm có: gạo, dầu thô, giày dép, điện tử và linh kiện máy vi tính.
Đáng lưu ý là: so với cùng kỳ năm 2000 kim ngạch của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tháng 9 chỉ bằng 83,4% và tháng 10 bằng 77,6%; các doanh
nghiệp 100% vốn trong nước tháng 9 bằng 89,2% và tháng 10 tăng 11,5%.
+ Về giá xuất khẩu:
So với tháng 9, hạt điều nhân và gạo tăng giá, còn các nông sản chủ lực khác
giá không tăng hoặc xấp xỉ bằng.
So với cùng kỳ năm 2000, giá xuất khẩu giảm 11,4%, trong đó chè giảm
3,5%, lạc nhân giảm 7,5%, gạo giảm 9%, cao su giảm 9,1%, rau, quả giảm 10%,
thuỷ sản giảm 15 - 17%, cà phê giảm 36%, hạt tiêu giảm 47,6%.
+ Về khối lượng xuất khẩu:
So với tháng 9, gạo và lạc nhân giảm khối lượng, còn các nông sản chủ lực
khác đều tăng hoặc xấp xỉ bằng.
So với cùng kỳ năm 2000, khối lượng xuất khẩu tăng 17%, trong đó, rau
quả tăng 13,7%, hạt điều nhân tăng 23,8%, cà phê tăng 25%, chè tăng 33,3%, lạc
nhân tăng 37,9%, cao su tăng 122%.
2. Nguyên nhân
a. Nguyên nhân chủ yếu hạn chế xuất khẩu tháng 10:
Thứ nhất là, nền kinh tế ở nhiều nước trên thế giới vẫn trong tình trạng suy
thoái hoặc tăng trưởng chậm so với dự báo đầu năm, nhất là thị trường chủ lực của
ta. Sau sự kiện 11/9 ở Hoa Kỳ và cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Ápganixtan, tình trạng
kinh tế thế giới lại càng giảm sút hơn (WB đánh giá tăng trưởng kinh tế của các
- Giá nhập khẩu giảm 16,6% so với cùng kỳ năm 2000, trong đó có một số
mặt hàng chủ yếu giảm giá là: thép, phôi thép, u rê, xăng dầu, giấy các loại, chất
dẻo nguyên liệu, sợi các loại, bông, xe 2 bánh gắn máy dạng linh kiện lắp ráp.
- Khối lượng hàng nhập khẩu tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2000, trong đó
có nhiều mặt hàng chủ yếu tăng nhanh như: ô tô nguyên chiếc tăng 32%, ô tô dạng
linh kiện lắp ráp tăng 52,7%, thép tăng 83,5%, xăng dầu tăng 36,9%, giấy tăng
13%, bông tăng 33%, phụ liệu dệt may tăng 26%.
- Một số mặt hàng chủ yếu giảm kim ngạch nhập khẩu là: phân bón, xe 2
bánh gắn máy dạng linh kiện lắp ráp, giấy, chất dẻo nguyên liệu, sợi, hoá chất
nguyên liệu, máy móc, thiết bị, phụ tùng và linh kiện điện tử.
- Về thị trường nhập khẩu chủ yếu 9 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm
2000:
+ Nhóm thị trường tăng trưởng chiếm 66% tổng kim ngạch và nhóm các thị
trường không tăng trưởng chiếm 34%, nhập khẩu ở thị trường châu Âu tăng nhanh,
đặc biệt là các nước thuộc EU như Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Đức,
Anh và LB. Nga.
Trong nhóm các thị trường tăng nhập khẩu có 16 thị trường tăng cao hơn
mức tăng trưởng chung, đáng lưu ý là Niu-di-lân tăng khoảng 213% trong khi xuất
khẩu sang thị trường này chỉ tăng dưới 1%; Phần Lan tăng 141%, LB. Nga tăng
53%, Đức tăng 37%, Trung Quốc tăng 20,7%; có 2 thị trường nhập công nghệ
nguồn chủ yếu, tăng thấp là Nhật Bản tăng 2,8% và Ôxtrâylia tăng 2,6%.
Có 5 thị trường kim ngạch nhập khẩu từ 200 triệu USD trở lên chiếm
khoảng 25% tổng kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt 85,5% so với cùng kỳ năm 2000 là:
Hoa Kỳ bằng 98,7%, Pháp bằng 90,8%, Inđônêxia bằng 88,1%, Singapore bằng
85,4% và Hồng Kông bằng 75,6%.
2. Nguyên nhân
Ngoài những nguyên nhân như đã nêu ở phần xuất khẩu, còn có một số
nguyên nhân là:
- Tỷ giá VNĐ và USD diễn biến bất lợi cho nhập khẩu.
- Nhiều mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng trưởng chậm là do sức mua trên
thuỷ sản nên sản lượng vụ 2000 - 2001 chỉ tăng khoảng 6%, tuy nhiên đến
1/10/2001 vẫn đủ lực lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Thóc, gạo: giá gạo tăng ở hầu hết các địa phương trong cả nước: các tỉnh
phía Bắc khoảng 2.600 - 2.700 đồng/kg, tăng 20 đồng/kg; các tỉnh miền Trung
khoảng 2.700 - 2.800 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg; các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long khoảng 2.550 - 2650 đồng/kg, tăng 50 - 100 đồng/kg.
Mía đường: tháng 10, giá mía ở đồng bằng sông Cửu Long đang tăng cao,
đạt mức kỷ lục, mía nguyên liệu 8 chữ đường các nhà máy mua 285 - 300 đồng/kg
tăng 100 - 120 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2000. Tại Trà Vinh, 7 giám đốc các
nhà máy đường đã họp đánh giá rằng giá mía tăng không phải là do thiếu nguồn
mía nguyên liệu mà do các nhà máy sợ thiếu nguyên liệu nên từ cuối tháng 7 đã
vào vụ sản xuất, sớm hơn thường lệ 2 tháng tranh nhau mua sớm, một số nhà máy
mua trước mía non đồng thời đưa ra thoả thuận là: giảm giá mua mía theo 3 đợt
mà đợt 3 là từ 21/10 trở đi với giá mua thống nhất tại bàn cân nhà máy 265
đồng/kg.
Giá đường RE từ 6.800 - 7.200 đồng/kg, giảm 100 - 200 đồng/kg.
Cà phê: đã bắt đầu thu hoạch vụ 2001 - 2002, nguồn cung tiếp tục tăng, giá
loại 1 trên thị trường khoảng 3.300 - 3.600 đồng/kg, giảm 300 - 600 đồng/kg.
Các tổ chức tín dụng thực hiện khoanh nợ 3 năm kể từ ngày 1/8/2001, đối
với cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp có các khoản vay nợ tại các tổ chức tín
dụng để trồng, chăm sóc, mua gom và chế biến cà phê (trừ việc vay tạm trữ cà phê)
đã đến hạn trả, đã được gia hạn, giãn nợ và nợ quá hạn đến ngày 31/7/2001; trong
thời gian khoanh nợ, các tổ chức tín dụng chưa thu nợ gốc và không thu lãi.
Xăng dầu: giá trên thị trường ổn định, mặc dù trên thị trường thế giới có
nhiều biến động và Nhà nước liên tục điều chỉnh thuế nhập khẩu.
Gas: ngày 18/10/2001, một số công ty gas đã bắt đầu giảm giá bán lẻ (công
ty Mobil Unique Gas giảm 208,3 đồng/kg, VT Gas giảm 200 đồng/kg, Perto
Vietnam Gas giảm 150 đồng/kg ), do giá gas trên thị trường thế giới gảm mạnh,
dự báo giá còn tiếp tục giảm.
Phân bón: do bước vào trồng cây vụ Đông, giá phân bón có xu hướng tăng,
trong biên độ chấp nhận được. Giá lương thực sau nhiều tháng liên tục giảm so với
cùng kỳ năm 2000, nay đã bắt đầu tăng.
- Việc tiêu thụ nông sản ở các vùng sản xuất tập trung bước đầu đã có
chuyển biến (đối với mía cây).
Mặt chưa được:
- Chỉ số giá lương thực vẫn ở mức thấp so với cùng kỳ năm 2000, giá một số
nông sản xuất khẩu chủ yếu (cà phê, hạt tiêu ) giảm hoặc đứng ở mức thấp nên
quan hệ cánh kéo giá cả giữa hàng công nghiệp và nông sản không có lợi cho nông
dân.
- Sức mua tăng chậm, nhất là thị trường nông thôn, nên có hiện tượng thị
trường đô thị sôi động, nông thôn trầm lặng.
Nguyên nhân chủ yếu
a. Nguyên nhân tích cực:
Nhà nước triển khai nhiều chính sách, biện pháp hỗ trợ, thúc đẩy thị trường
và thương mại phát triển nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Gắn lưu
thông hàng hoá trong nước với xuất, nhập khẩu mặt hàng thiết yếu như: xăng dầu,
phân bón, nguyên, vật liệu phục vụ sản xuất, nông sản để xuất khẩu như: gạo, cà
phê, hạt điều, hạt tiêu
b. Nguyên nhân hạn chế:
- Giá nông sản ở mức thấp, làm giảm thu nhập, ảnh hưởng đến sức mua của
nông dân.
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ giữa các tỉnh và địa bàn nông thôn chưa tốt
(bao gồm cả mạng lưới đại lý), nên một số nông sản chưa đủ điều kiện xuất khẩu
thường ứ đọng khi chính vụ.