TỔNG HỘI XÂY DỰNG VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG
Tham vấn PPP:
- KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
- THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
23
8 Hợp tác Nhà nước – Tư nhân: Hướng đi mới cần khung pháp lý
mở rộng
25
9 Chờ danh mục dự án theo hình thức PPP 27
10 RCR muốn đầu tư xanh bằng PPP 29
11 Khu vực kinh tế tư nhân – Nguồn huyết mạch chưa khai thông 31
12 Để Nhà nước không “ngại” tư nhân 44
13 Hợp tác Nhà nước – Tư nhân: Hướng đi mới cần khung pháp lý
đủ rộng
47
14 Đấu thầu – Trông chờ vào PPP – khó hài hoà lợi ích các bên 49
15 TP. HCM cần 15 tỷ USD cho các dự án hạ tầng 51
16 Hoạt động PPP tại Việt Nam: Chờ hành lang pháp lý 53
17 Thu hút vốn đầu tư PPP: Cần cách làm mới 57
3
MÔ HÌNH PPP LÀ GIẢI PHÁP TỐI ƯU CHO ĐÔ THỊ VIỆT NAM
Trong hoàn cảnh nhu cầu cơ sở hạ tầng tại Việt Nam ngày càng tăng
nhanh mà ngân sách của Chính phủ và các nhà tài trợ có giới hạn, hợp tác công
tư (PPP) có khả năng như một đòn bẩy đối với các nguồn lực tài chính và
chuyên môn từ khu vực tư nhân nhằm cải thiện chất lượng và mở rộng độ bao
Mô hình PPP trên thế giới :
Các nước phát triển:
4
Không một chính phủ nào có thể kham nổi toàn bộ việc đầu tư cho hệ thống
cơ sở hạ tầng, nhưng cũng không nhà đầu tư tư nhân nào có thể làm được việc này
vì đây là lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp và nhiều rủi ro. Theo Giáo sư Fukunari
Kimura của trường Đại học Tổng hợp Keio (Nhật Bản) nói đấy là lý do khiến cho
mô hình PPP ra đời, trong bối cảnh châu Á phát triển nhanh và nhu cầu về dịch vụ
công cộng cũng như cơ sở hạ tầng rất lớn. Nhật Bản là một trong những quốc gia
đã phát triển mạnh nhất mô hình này ở châu Á. Theo kinh nghiệm của nước này,
có ít nhất hai lĩnh vực mà mô hình PPP có thể phát huy hiệu quả, đó là các dự án
không thể hoặc khó áp dụng phương pháp cổ phần hóa và các dự án mà nhà nước
không thể tham gia trực tiếp. Cụ thể như các dự án về sản xuất và phân phối điện,
đường cao tốc, giao thông đô thị, dịch vụ cảng, cấp nước và các dịch vụ công cộng.
Hiệu quả mà mô hình này đem lại là giảm chi phí, giảm rủi ro và tạo ra được một
môi trường cạnh tranh cao. Mô hình PPP đã được áp dụng trong việc xây dựng các
kênh đào ở Pháp vào thế kỷ 18, các cây cầu ở London vào thế kỷ 19 hay cây cầu
Brooklyn nổi tiếng ở New York cũng vào thế kỷ 19. Tuy nhiên, mô hình này chỉ
thực sự bắt đầu phổ biến trên thế giới từ đầu thập niên 1980 và nó đã đóng một vai
trò nhất định trong việc phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước phát triển.
Anh là nước đi tiên phong trong mô hình này với các chương trình tư nhân
hóa nổi tiếng của bà Thủ tướng Margaret Thatcher. Tuy nhiên, theo thống kê của
Yescombe, trong gần 20 năm (1987-2005), chỉ có 725 dự án đầu tư mới với mức
đầu tư trên 100 triệu bảng được thực hiện theo mô hình PPP. Tổng giá trị của các
dự án này chỉ là 47,5 tỉ bảng Anh (khoảng 70 tỉ đô la). Đây là một mức hết sức
khiêm tốn của một quốc gia có GDP lên đến hàng ngàn tỉ đô la. Ở các nước khác
như Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Hàn Quốc mô hình PPP cũng được sử dụng trong nhiều
dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công cộng. Tuy nhiên, không ở
nước nào mô hình này có vai trò nổi bật so với các hình thức xây dựng cơ sở hạ
tỷ phần chủ yếu. Hai lĩnh vực chiếm tỷ phần lớn nhất là điện và viễn thông. Ngoài
ra, có thể kể đến nhiều dự án hợp tác công - tư khác đã và đang được triển khai từ
thập niên 1990 đến nay như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ,
và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức
BOO.Về mô hình BOT, tổng cộng có 26 dự án với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ
đồng.
Riêng năm 2010, theo thống kê của cục đầu tư nước ngoài, tổng số dự án cấp
mới được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư
BOT, BT, BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới. Nhưng số lượng
dự án cấp mới chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT,BTO,BT là
11 dự án, chiếm % cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư, so với năm 2009
không có dự án mới nào đầu tư theo hình thức BOT,BT,BTO đó là một sự khởi sắc
tốt.
Về hình thức 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 8% trên tổng số dự án, số dự án
cấp mới chỉ có 799 dự án trong khi tổng số dự án đăng ký là 9.599 ( tính hết ngày
21/12/2010), còn về hình thức liên doanh chỉ chiếm 7% trên tổng số dự án cấp mới
đăng ký, hình thức cổ phần và hợp đồng hợp tác vốn đầu tư chiếm lần lượt là 4%
và 1% trên tổng số dự án cấp mới. Ta thấy rằng hình thức đầu tư theo hợp đồng
BOT, BT, BTO đang phát triển theo chiều hướng tích cực. Vậy dưới sự giám sát
và hỗ trợ của nhà nước, hình thức đầu tư theo mô hình PPP đã bắt đầu có sự tiến
triển so với các hình thức đầu tư khác.
Đặc biệt là sau khi Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế
Thí điểm đầu tư theo hình thức PPP được ban hành và chính thức có hiệu lực từ
ngày15/1/2011. Điều này đã thu hút sự chú ý của giới đầu tư trong và ngoài nước
đang dồn vào mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân (PPP).
Thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài năm 2010 theo hình thức
(Tính từ 01/01/2010 đến 21/12/2010)
6
Tóm lại, theo thống kê cho thấy mô hình PPP tuy đã phổ biến ở Việt Nam
theo hình thức chủ yếu là BOO và BOT nhưng còn quá khiêm tốn và khi triển khai
cũng cần những điều kiện nhất định khác. Đặc biệt là vấn đề pháp lý của nhà nước
ta có thu hút hấp dẫn được các nhà đầu tư trong và ngoài nước không? Vì thế
chúng ta cần đưa ra biện pháp cải thiện để có thể tận dụng tốt nguồn vốn từ các nhà
đầu tư nước ngoài cũng như trong nước một cách hiệu quả và có lợi cho hai bên
tham gia nhất.
Sau đây là một số thuận lợi và thách thức khi áp dụng mô hình PPP tại Việt
Nam theo kinh nghiệm của nhà đầu tư nước ngoài HIFU đã đầu tư tại TP Hồ Chí
Minh qua nhiều năm trên các lĩnh vực như dự án cơ sở hạ tầng giao thông, dự án
khu công nghiệp Tân Phú Trung, dự án xây dựng nhà máy nước Thủ Đức, cụm
công nghiệp ô tô Hòa Phú, cầu Phú Mỹ, xư lý kênh Đông.
Những thuận lợi và hạn chế khi thực hiện dự án PPP .
Thuận lợi:
Sử dụng được những kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả của khu
vực tư nhân. Buộc khu vực công cộng ngay từ đầu phải chú trọng đầu ra và lợi ích
( thay vì các yếu tố đầu vào). Đưa vốn tư nhân vào và giúp giảm nhẹ gánh nặng về
tài chính cho dự án. Rủi ro được chia sẻ giữa những đối tác khác nhau. Chắc chắn
về ngân sách. Những nhà cung cấp tư nhân có trách nhiệm hơn trong việc cung cấp
dịch vụ trong môi trường khuyến khích thích hợp. Trong mô hình sáng kiến tài
chính tư nhân ( PFI), khu vực công cộng chỉ thanh toán khi dịch vụ đã được cung
cấp.
8
Hạn chế:
PPP ngụ ý việc khu vực công cộng mất quyền kiểm soát quản lý và vì vậy
khó có thể chấp nhận trên góc độ chính trị. Liệu khu vực công có đủ năng lực và
kỹ năng để áp dụng phương pháp PPP và thiết lập môi trường pháp lý để khuyến
thức cổ phần nhằm khắc phục các hạn chế về quy mô, năng lực tài chính và giảm
thiểu rủi ro đầu tư.
Thứ tư : Do các dự án hạ tầng chịu nhiều tác động của chính sách cũng như
hoàn cảnh xã hội nên các điều khoản trong hợp đồng cần linh hoạt, có biên độ điều
chỉnh để tránh thiệt hại cho nhà đầu tư cũng như chính quyền.
Thứ năm : Có sự hỗ trợ chính trị từ tầm cao và quản trị tốt, đảm bảo rằng
chính phủ sẽ thực hiện các cam kết của mình dưới hình thức PPP. Hợp đồng ký kết
giữa chính quyền và nhà đầu tư cần rõ ràng, minh bạch là điều kiện tiên quyết để
9
chính quyền đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư và là cơ sở cho chính quyền tận
dụng hiệu quả nhất tính năng động và cạnh tranh của khu vực tư nhân, góp phần
tiết kiệm các chi phí về cơ sở hạ tầng của toàn xã hội.
(Nguồn: DiaOcVietOnline.vn 06/3/2011)
hợp xử lý bùn.
Hệ thống quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại: mạng lưới thu gom và
vận chuyển chất thải rắn đô thị cho các vùng của thành phố; vận hành các khu liên
hợp tái chế và xử lý chất thải đô thị, công nghiệp và nguy hại…
Bên cạnh các dịch vụ nói trên còn có các lĩnh vực khác như giao thông công
cộng, chiếu sáng…
Lãnh đạo Thành ủy và Sở TN&MT TP.HCM kiểm tra, giám sát khu xử lý
nước thải ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước vào những ngày trước tết
Nguyên đán. Đây cũng là một lĩnh vực đã được tư nhân đầu tư thành công.
Nhu cầu dịch vụ công-tư tại TP.HCM?
Để phục vụ cho hoạt động sinh hoạt của người dân và các hoạt động kinh
doanh, sản xuất công nghiệp, TP.HCM đã hình thành mạng lưới và cơ sở dịch vụ
khổng lồ như cấp nước, thoát nước, điện, năng lượng, giao thông vận tải, giáo dục
và đào tạo, y tế, tài chính…
Trong quá trình vận hành hệ thống trên, thành phố đang phải đối mặt với
nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp của quản lý đô thị. Một trong những khó khăn
đó là thiếu vốn đầu tư cho các hoạt động cung cấp dịch vụ đô thị và thiếu nguồn
nhân lực để quản lý, vận hành. Do đó, việc tận dụng và phát huy các nguồn lực của
xã hội, trong đó có việc hợp tác công-tư để cung cấp các dịch vụ đô thị là rất cần
thiết.
“Với kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới và một số đô thị của Việt
Nam, hợp tác công-tư có thể là một trong các giải pháp có hiệu quả cao để giải
quyết khó khăn trên, đặc biệt là các khó khăn trong lĩnh vực đầu tư và khai thác cơ
sở hạ tầng” - ông Nguyễn Trung Việt, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn - Sở
TN&MT TP.HCM, cho biết.
11
Cho đến nay, thành phố đang thực hiện công tác xã hội hóa một số lĩnh vực
cung cấp dịch vụ đô thị như xử lý nước mặn và cung cấp nước ngọt tại huyện C
ần
12
GIẢI MÃ PPP
Mạnh Dương
Tìm vốn đầu tư hạ tầng ngoài ngân sách đã khó, tìm mô hình đầu tư cho
hạ tầng lại càng khó hơn. BOT (xây dựng, khai thác và chuyển giao), BT (xây
dựng và chuyển giao) vốn được ưa chuộng, nay đang bị coi là mô hình cũ mà
những nhà quản lý Việt Nam thấy cần phải thay thế.
Hợp tác công - tư (PPP) đang được xem như giải pháp hữu hiệu thay thế
cho các mô hình cũ. Đây là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có
thẩm quyền với nhà đầu tư tư nhân nhằm xây dựng công trình, cung cấp dịch
vụ với một số tiêu chí riêng. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ lập danh
mục dự án ưu tiên đầu tư PPP hằng năm và tiến hành đấu thầu cạnh tranh để
lựa chọn nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đủ năng lực, kinh nghiệm nhất.
Ở Việt Nam, vì mới chuẩn bị thí điểm PPP nên cũng chưa khẳng định được
xu hướng thích hay không thích. Nhưng riêng với TP.HCM, Bộ sẽ hỗ trợ Thành
phố xác định và chọn những dự án nào cần đầu tư kiểu PPP. Ví dụ: nếu chọn một
tuyến đường sắt làm PPP thì phải chọn tuyến có lượng hành khách đi nhiều nhất.
Những dự án này sẽ phải tính toán rất kỹ, vì nó liên quan đến lợi ích của nhà đầu
tư, như mức lời thế nào, hoặc ít lời là bao nhiêu, để phía Nhà nước có thể hỗ trợ
bằng tiền, giải phóng mặt bằng hoặc bằng quỹ đất.
Ông Đông cho rằng, trường hợp không hay của cầu Phú Mỹ là do hợp đồng
chưa chặt chẽ. Nếu dự án này làm theo PPP sẽ giải quyết được tất cả. Một hợp
đồng PPP ở Mỹ được soạn thảo rất kỹ, ví dụ chủ đầu tư được thu 5 USD/100km
trong vòng 30 năm dựa trên cơ sở 50 ngàn xe/ngày, nếu lượng xe tụt xuống thì
phải tăng phí hoặc kéo dài thời gian thu. Còn nếu lượng xe tăng lên thì phải tính lại
vì không thể để lợi cho một phía mà hại cho phía kia.
Là một đối tác tư nhân, ông Phạm Hồng Quân, Quỹ đầu tư hạ tầng
VinaCapital, cho biết, về hạ tầng giao thông, Quỹ cũng vẫn đang đi tìm hiểu tại
TP.HCM, nhưng có điều, hạ tầng giao thông thường là các dự án lớn có mức đầu
tư từ vài chục triệu đến hàng trăm triệu USD và thời gian đầu tư, khai thác lâu,
trong khi thời hạn hoạt động cho một quỹ không dài, chừng khoảng 10 năm là phải
thoái vốn. Vì vậy, VinaCapital tính toán không vào ngay từ đầu, mà vào giai đoạn
giữa hoặc cuối của dự án.
Ở vào một trường hợp khác, ông Đặng Quang Mỹ, Giám đốc Ban Quản lý Dự
án Đầu tư và Xây dựng công trình thuộc Sở Y tế TP.HCM, cho rằng, dự thảo PPP
của Bộ Kế hoạch Đầu tư chỉ tập trung vào hạ tầng giao thông, trong khi ở TP.HCM
hiện nay nhiều nhà đầu tư có đất muốn hợp tác xây dựng bệnh viện.
Nhưng nếu chỉ xây không thì sau đó công trình chỉ là cái “nhà bệnh viện”,
trong khi nhà đầu tư cần đội ngũ bác sĩ. Vì vậy, nhà đầu tư muốn hợp tác với Sở Y
tế về nguồn lực này, nhưng trong quy chế ngành hiện không cho bác sĩ đi làm tư.
Như vậy, cứ cho là hợp tác PPP về y tế được tiến hành, thì Nhà nước tính thế nào
về chất xám của các bác sĩ trong mối hợp tác này?
Liên quan đến trường hợp PPP trong y tế, ông Đặng Huy Đông khẳng định,
sẽ phải cần đến 40 - 45 tỷ USD, và vốn đầu tư nước ngoài lẫn tư nhân vẫn
chiếm khoảng 60%.
Nguồn: (doanhnhansaigon.vn/online ngày 30/6/2010)
15
ADB CHƯA THỂ TIẾP CẬN DỰ ÁN PPP TẠI VIỆT NAM
Bích Diệp
(DVT.vn) - Việc trình Chính phủ quyết định dự án gây e ngại cho nhà
đầu tư, trong khi các dự án chưa có đủ tính khả thi lâu dài về tài chính.
Những năm vừa qua, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), World Bank,
JICA đều cố gắng theo đuổi các dự án hợp tác công tư (PPP) nhưng đến nay
Việt Nam vẫn không bị ảnh hưởng.
16
Lao động giá rẻ không kéo dài và Việt Nam sẽ phải tìm cách nâng cao năng
suất lao động cũng như cải thiện cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực.
Ông Konishi nhận xét: "Nếu không tăng hiệu quả chính sách thì Việt Nam sẽ
không bao giờ trở thành một quốc gia cạnh tranh."
"Việt Nam hưởng lợi từ quan hệ thương mại với Trung Quốc"
Ông Konishi đánh giá, Việt Nam đang trong tiến trình phát triển kinh tế nên
nhập siêu không phải là vấn đề đáng lo ngại.
Nếu năm 2009, luồng vốn FDI chủ yếu hướng vào bất động sản thì năm ngoái
hướng vào sản xuất chế tạo. Việc thiết lập nhà máy yêu cầu phải nhập khẩu thiết bị
đầu vào. Cho đến khi chưa tự túc được nguyên vật liệu, Việt Nam vẫn phải nhập
khẩu nhiều và giá trị sản xuất công nghiệp ở mức thấp (13-15%).
Chính phủ cần phát triển công nghiệp phụ trợ và hội nhập sâu hơn nữa.
Những nỗ lực hiện này vẫn chưa đủ.
Xét đến tiềm năng thị trường của Trung Quốc, Việt Nam sẽ hưởng lợi nhiều
hơn.
(Nguồn: baomoi.com 07/04/2011)
dự án này chỉ là 47,5 tỉ bảng Anh (khoảng 70 tỉ đô la). Đây là một mức hết sức
khiêm tốn của một quốc gia có GDP lên đến hàng ngàn tỉ đô la.
Ở các nước khác như Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Hàn Quốc mô hình PPP cũng được
sử dụng trong nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công cộng.
Tuy nhiên, không ở nước nào mô hình này có vai trò nổi bật so với các hình thức
xây dựng cơ sở hạ tầng khác. Trong giai đoạn ba năm từ 2003-2005, tổng giá trị
các dự án đầu tư theo phương thức PPP của các nước G7 chưa đến 100 tỉ đô la.
Các nước đang phát triển
Ở các nước đang phát triển, mô hình PPP bắt đầu phổ biến từ đầu thập niên
1990, nhất là ở khu vực Mỹ Latinh. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới,
trong 20 năm (1990-2009), đã có 4.569 dự án được thực hiện theo phương thức
PPP ở các nước đang phát triển với tổng vốn cam kết đầu tư 1.515 tỉ đô la Mỹ. Con
số này bao gồm cả việc tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước.
Tổng mức đầu tư nêu trên chỉ tương đương với 1% GDP của các nước đang
phát triển trong hai thập kỷ qua. Với mức đầu tư cho CSHT vào khoảng 5-6%
GDP thì đầu tư theo phương thức PPP chỉ chiếm khoảng 20%. Đây là một con số
khá khiêm tốn.
Về xu hướng đầu tư, trong 20 năm qua có hai làn sóng chính (hình 1). Làn sóng
thứ nhất xảy ra vào giữa thập niên 1990 mà đỉnh điểm là năm 1997 với số vốn cam
kết lên đến 109 tỉ đô la. Đây là giai đoạn mà tiến trình tư nhân hoá xảy ra mạnh mẽ
ở các nước Mỹ Latinh. Tuy nhiên, kỳ vọng về vai trò của khu vực tư nhân trong
18
việc giải quyết vấn đề CSHT và cung cấp các dịch vụ công giảm xuống nhanh
chóng do những khó khăn trục trặc đã xảy ra.
Theo phân tích của GS. Gomez-Ibanez, một trong những học giả hàng đầu về
CSHT, tiến trình tư nhân hoá việc cung cấp cơ sở hạ tầng đã đi quá xa. Thực ra, kết
quả của việc khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ
công hay cơ sở hạ tầng đã không như mong đợi. Sau thời gian triển khai rầm rộ các
dự án vào giữa thập niên 1990, vào đầu những năm 2000, khiếm khuyết đã bộc lộ.
tỷ phần chủ yếu. Hai lĩnh vực chiếm tỷ phần lớn nhất là điện và viễn thông.
Tóm lại, thống kê quốc tế cho thấy, mô hình PPP chỉ là một trong những
phương thức đầu tư CSHT, và nó cũng chỉ có vai trò khiêm tốn ở nhiều nước trên
thế giới. Do vậy, việc triển khai mô hình này ở Việt Nam là cần thiết, nhưng không
19
nên quá kỳ vọng vào nó. Nhất là khi mô hình BOT và BOO đã khá quen thuộc ở
Việt Nam và triển khai chúng cũng cần có những điều kiện nhất định.
(Nguồn: tintuc.xalo.vn/ 21/4/2011)
xây dựng… do tư nhân làm; nhà nước chỉ đảm nhiệm việc di chuyển tù nhân và
quản lý cảnh sát… Tương tự như vậy, xây trường học hay bệnh viện, nhà nước chỉ
quản lý hiệu trưởng, đội ngũ giáo viên; giám đốc và y bác sĩ…; còn lại phần cơ sở
vật chất đều do những nhà đầu tư tư nhân quản lý theo hợp đồng.
Để thực hiện được mô hình này, trong việc đào tạo nguồn nhân lực, Thị
trưởng Khu tài chính London cho biết, nước Anh cũng phải bỏ ra rất nhiều thời
gian bồi dưỡng đào tạo cho các cán bộ hiểu rõ về quy trình PPP và cũng phải mất
nhiều thời gian thì mới làm đúng được. “Sau 10 năm, 20 năm chúng tôi mới tin có
một mô hình mà đã được kiểm chứng là phát huy hiệu quả và làm việc chất
lượng”, ông Michael Bear nói.
Hiện thực hoá PPP tại Việt Nam
Tại buổi toạ đàm, Thứ trưởng Đặng Huy Đông cho biết, sau Quyết định 71
của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư, từ đó
đến nay, Việt Nam đã thành lập một tổ công tác liên ngành đặc biệt ở cấp T.Ư với
21
đại diện là các cơ quan hoạch định chính sách có liên quan với đại diện của Bộ tài
chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, và
“cuối cùng nhưng cũng rất quan trọng là Bộ kế hoạch và đầu tư”.
Theo Thứ trưởng Đặng Huy Đông, tổ công tác liên ngành này có vai trò hết
sức quan trọng trong việc điều phối hoạt động giữa các nhà tư vấn, các nhà tài trợ
với các cơ quan quản lý chính quyền địa phương nhằm thúc tiến các chương trình
thực hiện theo cơ chế PPP.
Cùng quan điểm với Thứ trưởng Đặng Huy Đông, Thị trưởng Khu tài chính
London Michael Bear và các cộng sự tại buổi toạ đàm khẳng định, từ kinh nghiệm
của nước Anh và gần 45 nước khác trên thế giới, tổ công tác liên ngành là một yếu
tố quan trọng bởi vì PPP cần sự điều phối nhuần nhuyễn giữa các cơ quan liên
quan. “Kẻ thù của PPP là tệ quan liêu”- ông Michael Bear nhấn mạnh.
Ông Đặng Huy Đông cũng cho biết dù cơ chế PPP không mới ở Việt Nam
nhưng hai năm qua vẫn chưa có dự án theo PPP cụ thể nào được triển khai. Do đó,
quan đ
ối với việc quản lý, thực hiện dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch
vụ công…
22
PPP, thay vì cử cán bộ đi học bốn, năm năm ở các trường về thực hiện PPP thì
trong quá trình thực hiện các dự án thí điểm họ đã được cọ xát kinh nghiệm thực
tiễn.
Thêm vào đó, ông Đông cho biết từ việc thực hiện các dự án thí điểm cũng
giúp tạo ra kinh nghiệm, tìm ra những vấn đề hạn chế của khung pháp lý hiện nay
đối với thực hiện cơ chế PPP, từ đó có thể đề xuất thay đổi khung pháp lý cho phù
hợp.
Ông nói: “Tôi hy vọng từ ba đến năm năm tới chúng ta sẽ có hai hoặc ba dự
án thí điểm cụ thể trong mỗi lĩnh vực ưu tiên. Sau khi thực hiện chúng ta sẽ có thể
đưa ra những khuyến nghị chính phủ sửa đổi khung pháp lý để phù hợp với cơ chế
PPP.”
Một điều quan trọng mà các nhà đầu tư từ Anh đã chia sẻ từ buổi toạ đàm đó
là khi đã thực hiện PPP, để các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia và hoạt
động dài hạn, thì chính phủ cần thiết giữ ổn định các chính sách và cơ chế ban đầu
nhằm tạo lòng tin với các nhà đầu tư, tránh việc thay đổi gây cản trở đến nhà đầu
tư như đã xảy ra tại một số nước trong khu vực.
Trả lời câu hỏi về vai trò khu vực nhà nư
ớc trong các dự án có vốn ODA thực
hiện theo cơ chế PPP, Thứ trưởng Đặng Huy Đông nói:
Trong các dự án nhà nước và tư nhân thì cách triển khai là Chính phủ c
ùng
với sự hỗ trợ, sự giúp đỡ từ cộng đồng các nhà tài tr
ợ quốc tế sẽ xây dựng dự án.
Có nghĩa là chúng tôi sẽ thiết kế xây dựng dự án trên ngân sách nhà nư
ớc của
sự nghiệp phát triển cơ sở hạ tầng ở nước ta.
Quy chế PPP ban hành theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 9-11-2010
của Thủ tướng Chính phủ, quy định điều kiện, thủ tục và nguyên tắc áp dụng thí
điểm đối với một số dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công
theo hình thức PPP.
Hình thức đầu tư công – tư (PPP) tuy mới mẻ đối với Việt Nam nhưng đã
được nhiều nước trên thế giới áp dụng từ hơn 50 năm nay. Kinh nghiệm thế giới
cho thấy, nhờ áp dụng hình thức PPP mà nhiều vấn đề bức xúc của nhiều đô thị lớn
đã được giải quyết như tình trạng ùn tắc giao thông, cung cấp nước, tạo việc làm
cho người lao động
Mô hình hay hình thức PPP kết hợp được nhiệm vụ của dịch vụ công với hiệu
quả của một hay nhiều doanh nghiệp tư nhân cho phép các chính quyền địa phương
nhanh chóng đạt được những tiêu chuẩn quốc tế tốt nhất trong các dịch vụ công,
tạo thuận lợi cho chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Dự án cấp nước sạch ở TP. Thượng Hải (Trung Quốc) là một hình mẫu mà
Việt Nam có thể tham khảo. Năm 2002 chính quyền Thượng Hải đã ký kết với Tập
đoàn VE của Pháp hợp đồng quản lý dịch vụ cấp nước sạch trong thời hạn 50 năm.
Từ đó hình thành một doanh nghiệp liên doanh Pháp – Trung Quốc với tỷ lệ vốn
góp 50/50. Theo đó, VE cung cấp toàn bộ dịch vụ sản xuất, phân phối nước sạch,
quản lý và chăm sóc khách hàng, thiết kế và đầu tư
Cũng theo hình thức PPP, Thủ đô Seoul (Hàn Quốc) đã xây dựng tuyến xe
điện ngầm số 9. Hiện nay, mỗi ngày phục vụ 256.000 lượt khách, dự báo đến năm
2013 sẽ thu hút 760.000 lượt khách/ngày. Gần 1.000 người Hàn Quốc đã được đào
tạo để vận hành, khai thác và làm dịch vụ chăm sóc khách hàng.
Nước Anh đã áp dụng hình thức PPP trên 50 năm nay và thu được thành công
lớn. Tư duy của người Anh là những gì mà tư nhân không làm được, hoặc không
thể tham gia thì Nhà nước mới làm, mới quản lý. Cụ thể, như chức năng quản lý
hành chính được coi là một chức năng không thể sẻ chia cho tư nhân. Vì vậy ở
Anh, Nhà nước khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư vào hầu hết các lĩnh vực và
khoán gọn cho họ đầu tư toàn bộ cơ sở vật chất, sau đó Nhà nước thuê lại công
Chấp nhận mô hình đầu tư công – tư (PPP) là một bước quan trọng trong quản
lý kinh tế.
(Nguồn: vcci.com.vn 04-01-2011) 25
HỢP TÁC NHÀ NƯỚC - TƯ NHÂN:
HƯỚNG ĐI MỚI CẦN KHUNG PHÁP LÝ MỞ RỘNG
KTĐT - Ngày 3/3, UBND TP Hà Nội, Công ty Gide Loyrette Nouel Việt
Nam và Tập đoàn Veolia Environment (Pháp) đã tổ chức Hội thảo về “Hợp tác
Nhà nước- tư nhân (PPP) trong các dự án phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ
công”. Mô hình hợp tác công tư (PPP) trong việc nâng cao chất lượng cơ sở hạ
tầng được coi là hướng đi đúng đắn của VN trong giai đoạn này. Tuy nhiên, để mô
hình này có thể thực sự hoàn thiện và đem lại lợi ích như mong muốn rất cần có
một chính sách, một khung pháp lý đủ rộng. PPP- Mới nhưng không lạ.
PPP là hình thức đầu tư mới đang được nghiên cứu ở VN, có khả năng to lớn
để thu hút thêm nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng của VN. Theo bà Vũ
lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.