Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Liên Doanh INDOVINA chi nhánh Cần Thơ - Pdf 11

Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề nghiên cứu:
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển lên một cấp độ mới, nền kinh tế
hội nhập. Điều đó đang đặt ra cho các chủ thể kinh doanh của nền kinh tế phải đối
mặt với những thách thức mới. Đó là làm thế nào để có thể tồn tại, đứng vững và phát
triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh như vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng được xem như là một
mắt xích trọng yếu trong hoạt động kinh tế. Với vai trò trung gian tài chính của nền
kinh tế, thông qua ngân hàng, các nguồn lực được phân bổ sử dụng một cách hợp lí và
hiệu quả. Thông qua việc cung ứng nguồn vốn, tín dụng ngân hàng có tác dụng rất lớn
tới quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Thành phố Cần Thơ là trung tâm của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi hội
tụ đầy đủ các yếu tố về phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, giao thông vận tải…
Kinh tế phát triển thì các doanh nghiệp ngày càng muốn trang bị cho mình một sức
mạnh cạnh tranh, cũng như cần có đủ vốn để bổ sung cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
Ngân hàng Liên Doanh INDOVINA chi nhánh Cần Thơ với vai trò là ngân hàng
thương mại đã và đang từng bước mở rộng quy mô hoạt động, khẳng định vị thế của
mình đối với kinh tế địa phương. Làm thế nào để bổ sung được vốn cho nền kinh tế,
sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động là điều mà các ngân hàng quan tâm, Ngân
Hàng Liên Doanh INDOVINA chi nhánh Cần Thơ cũng không ngoại lệ. Ngày từng
bước khẳnh định là cầu nối giữa nơi cần vốn và nơi thiếu vốn, đáp ứng kịp thời nhu
cầu vốn cho các thành phần kinh tế, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động tín
dụng là hoạt động chính của ngân hàng, đã góp phần quan trọng vào việc tạo thu
nhập cho ngân hàng cũng như hỗ trợ tích cực cho sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà.
Nhận thấy được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng đối với ngân hàng, cho
nên em quyết định chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là “Phân tích hiệu quả hoạt động
kinh doanh tại Ngân hàng Liên Doanh INDOVINA chi nhánh Cần Thơ”.
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:

2.1. Phương pháp luận:
2.1.1.KHÁI NIỆM – Ý NGHĨA - NHIỆM VỤ - NỘI DUNG CỦA PHÂN
TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
2.1.1.1. Khái niệm :
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá
toàn bộ quá trình và hiệu quả hoạt dộng kinh doanh tại doanh nghiệp nhằm làm rõ
chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác, từ đó đề ra
các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
2.1.1.2. Ý nghĩa :
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh:
+ Là cơ sở để ra các quyết định kinh doanh.
+ Là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh
nghiệp.
+ Là điều hết sức cần thiết đối với mọi doanh nghiệp. Nó gắn liền với hiệu quả
hoạt động kinh doanh chỉ ra hướng phát triển của các doanh nghiệp
+ Là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro.
2.1.1.3. Nhiệm vụ :
Đánh giá kết quả thực hiện được so với kế hoạch hoặc so với tình hình thực hiện
kỳ trước, các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành hoặc chỉ tiêu bình quân nội ngành và
các thông số thị trường.
Phân tích những nhân tố nội tại và khách quan đã ảnh hưởng tình hình thực hiện
kế hoạch.
Phân tích hiệu quả các phương án kinh doanh hiện tại và các dự án đầu tư dài
hạn.
Xây dựng kế hoạch dựa trên kết quả phân tích.
Phân tích dự báo, phân tích chính sách và phân tích rủi ro trên các mặt hoạt động
của doanh nghiệp.
3
Lập báo cáo kết quả phân tích, thuyết minh và đề xuất kế toán quản trị.
2.1.1.4. Nội dung :

thành một hệ thống các chức năng, phản ánh bản chất của các Ngân hàng Thương
mại. Chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tư, trong
mối quan hệ chặt chẽ với Ngân hàng Trung Ương của mỗi nước. Nếu tín dụng Ngân
hàng được mở ra để tạo điều kiện cho quá trinh sản xuất kinh doanh và những hoạt
động của nó thì trong những trường hợp sản xuất không thực hiện được và nguồn tích
luỹ khác sẽ bị hạn chế. Hơn nữa, các đơn vị sản xuất có thể bị ứ đọng vốn, không sản
xuất được vào quá trình sản xuất ở mọi thời điểm, nhưng lại thiếu vốn kinh doanh ở
thời điểm khác.
Trong nền kinh tế, bao giờ và lúc nào cũng phải tôn trọng một nguyên tắc quan
trọng là cung tiền tệ phải vừa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, với tốc độ phát
triển kinh tế dự kiến. Nếu tiền cung ứng tăng quá nhanh tất yếu lạm phát sẽ xuất hiện
và những hậu quả của nó đương nhiên nền kinh tế phải gánh chịu. Các Ngân hàng
Thương mại đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chính sách này, trong
mối quan hệ với Ngân hàng Trung Ương của mỗi nước. Tín dụng Ngân hàng, trong
trường hợp này, thực hiện vai trò của nó như là kênh dẫn để thông qua đó, tiền cung
ứng tăng lên hoặc giảm xuống phù hợp với chính sách tiền tệ quốc gia.
b/Cơ chế thanh toán:
Bên cạnh chức năng tạo tiền, các Ngân hàng Thương mại còn thực hiện một
chức năng khác là đưa ra cơ chế thanh toán, hay nói cách khác, sự vận động vốn là
một trong những chức năng quan trọng do các Ngân hàng Thương mại thực hiện. Ở
các nước phát triển và đang phát triển phần lớn công tác thanh toán được thực hiện
thông qua séc và thẻ thanh toán.
Phần lớn séc thanh toán trong nước được thực hiện bằng thanh toán bù trừ,
thông qua hệ thống Ngân hàng thương mại. Việc phát hành séc để rút tiền từ tài khoản
tiền gửi và ký thác trong cùng một Ngân hàng thật ra đó là sự chuyển vốn từ tài khoản
này sang tài khoản khác, và nếu giữa hai Ngân hàng trong cùng một địa bàn sẽ tiến
hành trao đổi séc trực tiếp, nhưng nếu xảy ra một trong số Ngân hàng trong cùng một
địa bàn, buộc phải tiến hành thông qua thanh toán bù trừ. Quá trình sẽ trở nên phức
tạp, mất thời gian và tốn kém khi việc thanh toán bù trừ diễn ra giữa các Ngân hàng
thuộc các địa bàn khác nhau trong nước.

đánh giá khả năng tiềm tàng của chúng.
6
2.1.2.3 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng :
Ngân hàng Thương mại cổ phần được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần.
Cổ đông của Ngân hàng Thương mại cổ phần bao gồm nhiều thế nhân và pháp nhân.
Cổ đông được sở hữu số cổ phần của Ngân hàng theo tỷ lệ do Ngân hàng Nhà Nước
quy định. Mức vốn điều lệ tối thiểu khi thành lập Ngân hàng Thương mại cổ phần
(Nghị định 141/2006/NĐ - CP ngày 22/11/2006) như sau:
Bảng 1: Quy định vốn điều lệ của Ngân hàng Thương mại cổ phần:
(Nguồn: Tạp chí ngân hàng).
Ngân hàng Thương mại được xem như một doanh nghiệp họat động trên lĩnh
vực kinh doanh tiền tệ, với chức năng là trung gian tín dụng, các Ngân hàng Thương
mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay, từ đó nghiệp vụ hoạt động chủ yếu của
Ngân hàng bao gổm 3 lĩnh vực: Huy động vốn, cho vay, môi giới trung gian.
a/Hoạt động huy động vốn:
Hoạt động huy động vốn là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng
Thương mại. Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của
Loại hình tổ chức tín dụng
Mức vốn pháp định áp dụng cho đến
năm
2008 2010
Ngân hàng
NHTM
NHTM nhà nước 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
NHTM cổ phần 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Ngân hàng liên doanh 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
NH 100% vốn nước ngoài 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Chi nhánh NH nước ngoài 15 triệu USD 15 triệu USD
NH chính sách 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng
NH đầu tư 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng

khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong tiêu dùng, tiện lợi trong việc
thanh toán bằng tiền mặt. Đối với ngân hàng loại tiền gửi thanh toán thường có sự dao
động lớn, do đó Ngân hàng chỉ áp dụng một tỉ lệ nhất định để cho vay nên Ngân hàng
thường áp dụng với lãi suất thấp.
Trong việc sử dụng tiền gởi thanh toán, khách hàng thường dùng các công cụ
thanh toán để chi trả như: séc, lệnh chuyển tiền…. trong đó séc được coi là công cụ
thanh toán chủ yếu vì sử dụng séc một mặt bảo đảm an toàn về ngân quỹ mặt khác séc
là hình thức chi trả đơn giản và tiện lợi.
8
động lớn, do đó Ngân hàng chỉ áp dụng một tỉ lệ nhất định để cho vay nên Ngân
hàng thường áp dụng với lãi suất thấp.
Trong việc sử dụng tiền gởi thanh toán, khách hàng thường dùng các công cụ
thanh toán để chi trả như: séc, lệnh chuyển tiền…. trong đó séc được coi là công cụ
thanh toán chủ yếu vì sử dụng séc một mặt bảo đảm an toàn về ngân quỹ mặt khác séc
là hình thức chi trả đơn giản và tiện lợi.
-Tiền gởi có kỳ hạn:
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và cá nhân sau khi thu được lợi
nhuận mà tạm thời chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định nào đó có thể ký
thác vào Ngân hàng một cách có kỳ hạn. Đối với loại tiền gởi này, người gởi tiền chỉ
được rút ra khi đáo hạn. Tuy nhiên, trên thực tế do áp lực cạnh tranh, các Ngân hàng
cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện là người gởi tiền không được trả
lãi hoặc chịu một mức lãi suất thấp hơn lãi suất trả cho tiển gởi có kỳ hạn, điều kiện
tuỳ thuộc vào chính sách huy động của Ngân hàng và loại tiền gởi định kỳ.
Tiền gởi định kỳ có nhiều loại khác nhau, thông thường có kỳ hạn 3 tháng, 6
tháng, 12 tháng. Khác với tiền gởi thanh toán tiền gởi định kỳ là tiền gởi tạm thời
chưa sử dụng hoặc tiền gởi để dành của các nhân. Vì vậy, mục đích gởi tiền vào Ngân
hàng là nhằm kiếm lợi tức. Do đó thường dùng biện pháp lãi suất để huy động nguồn
vốn này chủ là yếu.
Hiện nay, các Ngân hàng Thương mại đang áp dụng hai loại tiền gởi định kỳ:
tiền gởi định kỳ theo tài khoản và tiền gởi định kỳ với hình thức phát hành kỳ phiếu.

không kỳ hạn hoặc không được hưởng lãi nếu gửi có kỳ hạn mà rút ra chưa được 1
tháng.
-Kỳ phiếu ngân hàng có mục đích:là công cụ để huy động vốn tiết kiệm do
ngân hàng phát hành nhằm mục đích kinh doanh trong từng thời kỳ nhất định.
-Trái phiếu ngân hàng:là công cụ huy động vốn trung gian và dài hạn vào
ngân hàng và đây là một loại chứng khoán có thể mua bán trên thị trường chứng
khoán. Thời hạn trái phiếu thường một năm.
10
b/Hoạt động tín dụng:
* Khái niệm tín dụng:
- Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới dạng tiền tệ hay vật chất mà
trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc lẫn lãi trong thời gian nhất
định
- Đối với ngân hàng thương mại, thì tín dụng có nghĩa là sự cho vay hay ứng
trước tiền do ngân hàng thực hiện, giá cả do ngân hàng ấn định đối với khách hàng đi
vay mà chúng ta thường gọi là lãi suất hay những khoản tiền hoa hồng mà người vay
phải trả trong suốt thời gian sử dụng các khoản ứng trước của ngân hàng.
* Phân loại tín dụng:
Trong nền kinh tế thị trường, thì hiện nay có rất nhiều hình thức tín dụng trong
hoạt động của ngân hàng như cho vay đối với doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế,
cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất….Tín dụng được phân ra làm hai loại: Tín dụng
ngắn hạn và tín dụng dài hạn.
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời gian cho vay dưới 12 tháng.
Thông thường là 6 tháng chiếm chủ yếu. Mục đích của loại tiền gửi này là cho vay bổ
sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động, đồng thời cho vay phục vụ nhu cầu cá nhân.
+ Tín dụng trung và dài hạn:
Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời gian cho vay từ 1 năm đến 5
năm.Loại tín dụng này cấp cho khách hàng cần vốn để đầu tư mua sắm tài sản cố
định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng xây dựng các công trình có quy mô nhỏ.
Thường loại tín dụng này không nằm trong kế hoạch của nhà nước.

Bảo đảm tín dụng là phương tiện tạo cho chủ Ngân hàng có một sự bảo đảm
rằng sẽ có một nguồn vốn khác để hoàn trả nếu công việc cho vay bị phá sản.
. Các loại bảo đảm tín dụng:
+ Bảo đảm đối nhân: là hợp đồng qua đó người bảo lãnh cam kết với Ngân
hàng sẽ thực hiện nghiệp vụ trả nợ cho Ngân hàng trong trường hợp khách hàng vay
vốn bị mất khả năng thanh toán. Những người đứng ra bảo lãnh phải thoã mãn một số
điều kiện: có đủ năng lực pháp lý và năng lực tài chính, phải giao cho Ngân hàng đầy
đủ các giấy tờ cần thiết và đưa tài sản ra đảm bảo, việc bảo lãnh được thực hiện bằng
văn bản có chứng nhận của cơ quan công chứng.
12
+ Bảo đảm đối vật: là hình thức đảm bảo tín dụng trong đó người cho vay đóng
vai trò chủ nợ được thừa hưởng một số quyền lợi nhất định đối với tài sản của khách
hàng-con nợ nhằm làm căn cứ để thu hồi nợ trong trường hợp con nợ không trả nợ
hoặc không có khả năng trả nợ.
c/Hoạt động kinh doanh ngoại tệ:
Đây là hoạt động kinh doanh sôi nổi của Ngân hàng, đồng tiền kinh doanh trên
thị trường là các ngoại tệ mạnh, ngoại tệ tự do chuyển đổi. Thời hạn giao dịch thường
một năm nhưng đối với một số ngoại tệ như USD, GBP, JPY, DEM thì thời hạn có
thể lên đến 5 năm.
2.1.2.4 Lãi suất tín dụng:
a/Khái niệm:
Lãi suất tín dụng là giá cả quyền sử dụng vốn của người khác vào mục đích sản
xuất kinh doanh, và được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm trên tiền gửi hoặc tiền vay
trong một thời gian nhất định.
b/Vai trò lãi suất:
Sự vận động của lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay luôn theo xu hướng trái
ngược nhau theo quy luật cung cầu cụ thể là lãi suất tiền gửi càng cao thì Ngân hàng
huy động vốn càng nhiều, ngược lại lãi suất cho vay càng cao thì Ngân hàng cho vay
được càng ít. Vì vậy khi giải quyết bài toán lãi suất Ngân hàng phải giải quyết ba mục
tiêu sau đây:

(*) là giới hạn trên của lãi suất, nếu vượt quá giới hạn này thì lãi suất được xem là
quá cao, mặt khác Ngân hàng phải tự trang trải chi phí nên:
r > 0
hay r + I > I
Vậy R > I (**)
(**) là giới hạn dưới của lãi suất, nếu vượt quá giới hạn này lãi suất xem là quá
thấp.
Từ (*) và (**) suy ra chế độ lãi suất thích hợp:
I < R < P
Hay: Tỷ lệ lạm phát < lãi suất tiền gửi < lợi nhuận bình quân
Trong đó: Lợi nhuận bình quân: lợi nhuận của các ngành sản xuất kinh doanh.
Lãi suất tiền gửi = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát.
14
Lãi suất cho vay = lãi suất tiền gửi + chi phí + Thuế + lợi nhuận + chi phí rủi ro.
Thực tế ở nước ta, đôi lúc lợi nhuận bình quân < lợi nhuận cho vay. Điều này
gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Cho nên thường
Ngân hàng Trung Ương ấn định lãi suất cho vay, huy động các Ngân hàng Thương
mại tự xác định lãi suất riêng cho mình theo quan hệ cung cầu tiền tệ trên thị trường.
2.1.2.5 Rủi ro tín dụng:
a/Khái niệm:
Trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung với hệ thống Ngân hàng độc quyền,
rủi ro tín dụng ít được đề cập. Khi rủi ro tín dụng xảy ra thì Ngân hàng thường sử
dụng các biện pháp hành chính để ngăn ngừa như: phát hành thêm tiền, không cho cá
nhân và doanh nghiệp rút tiền mặt.
Trong mọi trường hợp nào thì Ngân hàng cũng đối phó với các rủi ro từ mọi
nguồn gốc: rủi ro tín dụng, rủi ro thiếu vốn khả dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái,
rủi ro mất khả năng thanh toán.
* Rủi ro tín dụng: là sự xuất hiện những biến cố không bình thường trong quan
hệ tín dụng. Từ đó làm tác động xấu đến quan hệ Ngân hàng và có thể làm cho Ngân
hàng bị phá sản.

Rủi ro từ việc bảo đảm tín dụng:
_ Đối với bảo đảm đối vật: Do đánh giá tài sản thế chấp không chính xác bị
mất giá khi bán tài sản thế chấp, hoặc tài sản không được lưu chuyển…
_ Đối với bảo đảm đối nhân: Gặp rủi ro khi người bảo lãnh không khả năng
thực hiện cam kết của mình hoặc bị chết, bị sự cố về chính trị hình sự….
d/Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng:
_ Phải tiến hành phân tích đánh giá khách hàng trước khi cho vay.
_ Kiểm soát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn của khách hàng, đánh giá tài sản thế
chấp một cách chính xác, thường dùng các tiêu chuẩn đánh giá tài sản thế chấp và giá
trị thực tế của tài sản đó so với giá cả thị trường hiện tại.
_ Ngân hàng phải quyết định mức cho vay phù hợp với từng khách hàng vì món
vay càng lớn thì người vay càng có nhiều ý muốn thực hiện những hoạt động mạo
hiểm trong kinh doanh, thậm chí Ngân hàng có thể không thu được nợ.
16
_ Tìm hiểu chính sách của Ngân hàng Trung Ương thông qua chức năng chiết
khấu, tái chiết khấu, tình hình thị trường hối đoái, thị trường vốn….
_ Trích lập quỹ dự phòng bù đắp rủi ro tín dụng.
2.1.2.6 Thu nhập – chi phí - lợi nhuận của ngân hàng:
a/Thu nhập:
-Khái niệm:Thu nhập Ngân hàng là khoản tiền thu được từ hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng như: cho vay đầu tư cung cấp dịch vụ….
-Các khoản thu nhập của ngân hàng:
_ Thu từ lãi tiền vay: Cho vay là nguồn gốc tạo ra khoản thu nhập quan trọng
nhất cho Ngân hàng Thương mại chiếm 2/3 tổng nguồn thu của Ngân hàng. Đây cũng
là khoản mục quyết định lãi suất cơ bản ròng - sự chênh lệch giữa mức lãi thu và mức
lãi phải chi.
_ Thu từ hoạt động kinh doanh.
_ Thu từ các khoản tiền gửi tại NHNN và các tổ chức tín dụng khác.
_ Thu từ dịch vụ ngân hàng: Mặc dù nguồn thu này của Ngân hàng là quan trọng
nhưng chúng không lớn khi so sánh lợi tức thu từ các khoản vay và đầu tư. Các khoản

và sẽ là chi phí lớn nhất trong tương lai và sẽ thay đổi khi mức lãi dao động.
_ Chi phí liên quan đến tài khoản sở hữu bao gồm lương của nhân viên, hoạt
động các toàn ngành, khấu hao bảo dưỡng và sữa chữa, bảo hiểm hoả hoạn….. Các
chi phí liên quan đến tài sản sở hữu đã gia tăng chủ yếu vì sự lập thêm chi nhánh của
Ngân hàng.
_ Các chi phí nghiệp vụ khác: Bao gồm tất cả các chi phí không được phân loại
trên dây nhưng dù sao cũng cần thiết cho hoạt động Ngân hàng như: chi phí bảo hiểm
các loại quảng cáo, chi phí các cuộc thanh tra. Một chi phí lớn nhất là in ấn và các
thiết bị văn phòng.
_ Các khoản thuế: Ngân hàng cũng phải nộp các khoản thuế thông thường khác
như: thuế lợi tức, thuế thu nhập doanh nghiệp.
c/Lợi nhuận:
18
-Khái niệm:Lợi nhuận của Ngân hàng cũng giống như lợi nhuận của doanh
nghiệp, đây là thu nhập sau khi đã trừ đi hết các khoản chi phí phục vụ cho việc thực
hiện hoạt động kinh doanh.
-Nhu cầu về lợi nhuận thích hợp:
Lợi nhuận Ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định vốn
nhằm mở rộng phát triển và cải tiến chiến lược khách hàng. Lợi nhuận Ngân hàng còn
khuyến khích nhà quản lý mở rộng và cải thiện công việc, giảm chi phí và gia tăng
các dịch vụ. Khi ký thác vốn vào Ngân hàng thì các cổ đông sẽ quan tâm xem xét đến
lợi nhuận thích hợp của Ngân hàng.
Tóm lại, việc tạo ra lợi nhuận thích hợp là cần thiết và quan trọng trong hoạt
động Ngân hàng, ví nó giúp Ngân hàng có thể dễ dàng huy động vốn trong dân cư, từ
sự góp của các cổ đông để Ngân hàng ngày càng lớn mạnh hơn, hoạt động hữu hiệu
hơn.
2.1.3 NHỮNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH:
2.1.3.1 Các chỉ tiêu thu nhập:
a/Lợi nhuận trên tổng tài sản:Tỷ số này phản ánh một đồng kinh doanh mang

Lợi nhuận ròng
Thu nhập
=
Khả năng sử dụng tài sản
Thu nhập
Tài sản có
==
Tài sản có trên vốn tự có
Tài sản có
Vốn tự có
=
Rủi ro tỷ lệ lãi suất
Tài sản nhạy cảm với lãi suất
Nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất
==
Trong đó:
+ Tài sản nhạy cảm với lãi suất = Dư nợ cho vay
+ Nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất = tất cả các khoản ký thác.
b/Rủi ro tín dụng:
Trong đó:
Cho vay ròng = Doanh số cho vay - Dự trữ bù đắp nợ quá hạn không thu hồi được
c/Rủi ro vốn tự có:
Trong đó: Tài sản có rủi ro = Dư nợ cho vay + đầu tư. Chỉ tiêu này đo lường sự
giảm sút vốn tự có của Ngân hàng khi có rủi ro xảy ra.
d/Thời gian thu hồi nợ:
2.1.3.3 Các chỉ tiêu cơ cấu huy động vốn:
a/Tổng vốn huy động/ Vốn tự có:Cho biết khả năng huy động của Ngân hàng,
đối với Ngân hàng Thương mai tỷ số này lớn hơn 70% là tốt.
b/Số dư từng loại tiền gửi/ Tổng vốn huy động: Đánh giá tính ổn định vững
chắc của nguồn vốn.

Dư nợ quá hạn trên tổng dư nợ =
b/Dư nợ trên vốn huy động:Chỉ tiêu này phản ánh dư nợ cho vay trong đó có
bao nhiêu đống vốn từ huy động.
c/Tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn:Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tập trung
của Ngân hàng đối với từng loại cho vay.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu:
Từ việc củng cố lại kiến thức đã học, tiếp thu những thông tin qua các sách báo
có liên quan đến hoạt động tín dụng. Ngoài ra còn thu thập thông tin và tài liệu, số
liệu tại Ngân Hàng Liên Doanh INDOVINA chi nhánh Cần Thơ như Bảng báo cáo
22
Vòng quay vốn
Doanh số thu nợ
Dư nợ bình quân
=
Hệ số thu nợ
Doanh số thu nợ
Doanh số cho vay
=
Dư nợ quá hạn từng loại cho vay
Tổng dư nợ từng loại cho
vay
Tổng dư nợ/ Tổng nguồn vốn
Dư nợ từng loại cho vay
Tổng nguồn vốn
=
tổng kết hoạt động kinh doanh qua 3 năm, các tài liệu về quá trình thành lập và phát
triển của Ngân hàng… để thực hiện chuyên đề này.
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu:
- Tổng hợp, phân tích dùng phương pháp so sánh số tuyệt đối, số tương đối về

IVBCT được sự hỗ trợ về tài chính cũng như chiến lược phát triển, các dịch vụ…
24
luôn được ưu tiên hàng đầu. Tuy chỉ hoạt động đơn độc (duy nhất ở Đồng bằng sông
Cửu Long) tại Cần Thơ gần 10 năm nhưng IVBCT có được thị trường rộng lớn, các
khách hàng của IVBCT ở hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Chẳng hạn một
số khách hàng lớn như: Công ty cổ phần Ximăng Hà Tiên II-Cần Thơ, Công ty cổ
phần thủy sản Cửu Long (Trà Vinh), Công ty cổ phần du lịch Ang Giang, Công ty
thương mại Dầu khí ĐồngTháp, Công ty cổ phần thủy sản Sóc Trăng, CTy TNHH
CN In Bao Bì Hoàng Lộc, và những khách hàng cá nhân, doanh nghiệp… Từ đó cho
thấy, IVBCT có đầy đủ nguồn lực để đáp ứng nhu cầu về vốn của khách hàng cũng
như khả năng cạnh tranh với các đối thủ khách trên cùng địa bàn.
3.1.2.Thị trường, nguồn lực và dịch vụ:
IVB là sự hợp tác liên doanh với 2 đối tác lớn trong và ngoài nước nên có nhiều
thuận lợi trong việc mở rộng thị trường và khả năng thu hút nguồn lực. Tuy chỉ với 5
chi nhánh hoạt động ở các thành phố lớn nhưng IVB lại có được thị trường là những
đối tác lớn, có nhu cầu về vốn mạnh mẽ và là những khách hàng có uy tín. Thực tế
cho thấy, hầu hết các chi nhánh của IVB đều đặt tại những nơi có khu công nghiệp,
những thành phố là nơi thu hút nguồn lực nước ngoài vào đầu tư. Mặc dù IVB gặp
phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các đối thủ trong, ngoài nước có uy tín và tồn tại lâu
đời nhưng IVB vẫn phát triển bền vững qua 14 năm hoạt động.
Bên cạnh đó, IVB còn được sự ủng hộ về mặt tài chính từ đối tác thành viên là
Cathay United Bank nên khả năng cạnh tranh về tài chính, về thị trường rất bền vững.
Hằng năm, ICBV và Cathay United Bank đều tăng vốn, mở rộng quy mô chiến lược
kinh doanh cho IVB. Vì có nguồn lực về tài chính ổn định, nên IVBCT đã không
ngần ngại khi tiếp xúc với các khách hàng là những công ty TNHH, công ty cổ phần,
… và cả những khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp tư nhân. Mặt khác, nguồn nhân
lực IVBCT đa dạng và dày dặn kinh nghiệm, được huấn luyện tốt về nghiệp vụ,
chuyên môn cũng như về khả năng tiếp xúc với khách hàng.
Để có được lượng khách hàng đa dạng như vậy cho thấy IVB có khả năng thu
hút khách hàng, có thái độ phục vụ khách hàng rất tốt. Đồng thời, xuất phát từ việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status