Lời mở đầu
Vào những năm cuối thế kỷ XX, đời sống kinh tế quốc tế trở lên
đặc biệt sôi động. Sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ,
đặc biệt là công nghệ thông tin, việc tích tụ và tập chung t bản ở quy mô
cực kỳ lớn, nổi bật là làn sóng siêu sát nhập các công ty ( đạt tổng trị giá
1,1 nghìn tỷ USD trong năm 2001). Quá trình phân công lao động quốc tế
diễn ra ngày càng sôi động trên phạm vi toàn thế giới ..... Đã làm cho lực
lợng sản xuất có những bớc nhảy vọt các nền kinh tế ngày càng đan xen
và có phần phụ thuộc vào nhau, quá trình quốc tế hoá đợc đẩy mạnh, xu
hớng toàn cầu hoá nền kinh tế ngày càng rõ rệt và mạnh mẽ hơn lên .
Toàn cầu hoá kinh tế tỏ ra có sức hấp dẫn vì nó làm cho các nền
kinh tế , các quốc gia nếu khéo vận dụng trong hội nhập thì sẽ phát huy đ-
ợc lợi thế của mình, đợc bổ xung những yếu tố mới, hình thành một cơ
cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả hơn, thúc đẩy tăng trởng kinh tế trong
nớc. Chính vì thế xu thế toàn cầu hoá ngày càng cuốn hút vào nó nhiều
dân tộc,q uốc gia có trình độ phát triến kinh tế , chế độ chính trị xã hội
khác nhau. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện và trong nhiều năm tới toàn
cầu hoá cha phải là công cụ tối u cho tất cả , cha phải là một môi trờng tốt
đẹp mà vào đó ai cũng thắng, ai cũng có lợi nh nhau và không ai phải trả
giá. Các quốc gia, các dân tộc và các chủ thể khác nhau tham gia vào quá
trình toàn cầu hoá kinh tế không phải vì mục tiêu toàn cầu hoá, mà trớc
hết là tìm kiếm trong đó những lợi ích cho chính mình. Họ đều có ý định,
hành động để thay đổi, tác động tới quá trình này theo hớng có lợi cho
mình. Những lợi ích đó lại rất khác nhau, phức tạp đan xen và đầy mâu
thuẫn, mức độ lợi thiệt của mỗi chủ thể trớc hết phụ thuộc vào thế, lực và
cách thức tham gia của từng chủ thể đó. Vì thế xu hớng toàn cầu hoá kinh
tế diễn ra không trôi chảy, dễ dàng mà thông qua quá trình vừa hợp tác,
vừa đấu tranh với nhau giữa các nớc, trong sự mâu thuẫn, sung đột giữa
toàn cầu và liên khu vực giữa tự do hoá và bảo hộ mậu dịch.
Mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành là chủ thể của hội nhập kinh tế với
thế giới, sức mạnh về kinh tế của mỗi quốc gia quyết định bởi năng lực
Trong quá trình tiến hành bản luận văn này em đã nhận đợc sự
động viên, tham gia, đóng góp ý kiến của các cô chú ở VINA CAFEI - Hà
Nội, cùng các bạn bè và sự hớng dẫn nhiệt tình của các thầy cô trong
khoa, đặc biệt là thầy giáo hớng dẫn trực tiếp em. Qua đây em xin trân
trọng gửi lời cảm ơn, trân thành đến tất cả mọi ngời đã có những đóng
góp thiết thực và to lớn trong việc hoàn thành bản luận văn này.
Do năng lực và kinh nghiệm thực tế của bản thân còn có hạn, bản
luận văn sẽ có những thiếu sót nhất định. Em mong đợc sự chỉ dẫn góp ý
và thông cảm.
2
Chơng I
Cơ sở lý luận chung về việc nâng cao khả năng cạnh tranh
của hàng hoá xuất khẩu trong nền kinh tế thị trờng.
I/ Những lý luận cơ bản về kinh tế thị tr ờng
1. Kinh tế thị tr ờng là gì :
Các nhà kinh tế học hiện đaị dựa trên cơ chế vận hành đã đa khái
niệm nh sau : Kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị tr-
ờng - trong nền kinh tế này sản xuất cái gì ? Sản xuất nh thế nào ? Sản
xuất cho ai ? Do thị trờng quyết định.
Kiểu tổ chức kinh tế này tồn tại ở các nớc t bản từ thế kỷ XV và
ngày nay là hình thức kinh tế chung của hầu hết các nớc trên thế giới.
Nh vậy nói tới nền kinh tế thị trờng về thực chất là nói tới cơ chế thị tr-
ờng. Vậy thế nào là cơ chế thị trờng.
Cơ chế thị trờng là 1 cơ chế mà trong đó tổng thể các nhân tố, các
quan hệ cơ bản vận động dới sự chi phối của các quy luật thị trờng, trong
môi trờng cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận. Nhân tố cơ bản nhất của nó là
cung cầu và giá cả thị trờng.
2. Những nhân tố, quan hệ cơ bản của kinh tế thị tr ờng.
Nhìn vào bất kỳ một nền kinh tế thị trờng nào, dù là kinh tế thị tr-
ờng phát triển nh Mỹ, tây âu, Nhật hay kinh tế thị trờng sơ khai nh ở Việt
minh thì cả nhu cầu tiêu dùng vật chất và nhu cầu tiêu dùng tinh thần đều
tăng song nhu cầu tinh thần có xu hớng tăng nhanh hơn. Những sản phẩm
đáp ứng nhu cầu sản xúât bao gồm các nguồn lực của sản xuất nh : Sức
lao động, đất đai, vốn và dịch vụ sản xuất nh bảo hiểm, tài chính ....
Từ đó có thể khái quát các loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu nh sau:
Dịch v
Tuỳ theo đặc tình giá trị sử dụng, một vật có thể đáp ứng một số
nhu cầu nhất định, nhng khi sử dụng một vật có thể đáp ứng đợc 1 loại
nhu cầu cụ thể. Sự phát triển đa dạng của các laọi hình giá trị sử dụng,
phản ánh sự phát triển của lực lợng sản xuất, phân công lao động xã hội
và phạm vi phong phú của nhu cầu. đồng thời bản thân nhu cầu lại tạo
động lực thúc đẩy sự phát triển cảu kinh tế hàng hoá, tạo ra nhiều loại
hình giá trị sử dụng mới.
Ba là : đã là hàng hoá, thì đối tợng chiếm hữu phải đợc trao đổi theo
nguyên tắc bồi hoàn, tức là mua bán trên thị trờng. điều này có nghĩa là
phải tính đến giá trị của hàng hoá.
Đứng về phía ngời sản xuất, giá trị là lao động xã hội cần thiết kết
tinh trong hàng hoá. Đó là những chi phí mà ngời ta bỏ vào sản xuất và
tiêu thụ hàng hoá trên thị trờng. Về mặt cơ cấu giá trị hàng hoá bao gồm
2 bộ phận lao động vật hoá, tức là những chi phí vật chất bởi vào sản xuất
4
Vật chất
Nhu cầu
tiêu dùng. Nếu nh các nhân tố và quan hệ tiền hàng là khách thể của kinh
tế thị trờng. Thì nhân tố và quan hệ hộ kinh doanh và hộ tiêu dùng là nhân
tố chủ thể của thị trờng.
Đối với hộ kinh doanh là ngời sản xuất và cung ứng hàng
hoá trên thị trờng hàng tiêu dùng. Vì vậy trên thị trờng này họ là ngời bán
hay sức cung. Song để có nguồn lực sản xuất hàng hoá tiêu dùng họ phải
mua chúng trên thị trờng yếu tố. Vì vậy ở thị trờng này họ là sức cầu .
Ngớc lại đối với hộ tiêu dùng họ là ngời đi mua hàng hoá tiêu dùng.
Vì vậy trên thị trờng hàng tiêu dùng họ là sức cầu. Song để có tiền mua
hàng tiêu dùng dịch vụ, họ phải có một hàng hoá nào đó bán trên thị trờng
yếu tố. Vì vậy trên thị trờng yếu tố họ là sức cung. Họ cung sức lao động,
nếu họ là công nhân, cung cấp đất, nếu họ là địa chủ, cung cấp vốn, nếu
họ có vốn. Với vai trò khác nhau nh vậy các chủ thể tham gia, các thị tr-
ờng vốn tách biệt với nhau đợc nối liền với nhau tạo thành vòng vận động
thông suất.
T
T Cung
Cầu
H H
Cung H H
T Cầu
5
Thị trờng hàng
tiêu dùng
Thị trờng yếu tố
Hộ kinh doanh Hộ tiêu dùng
T
Cần khẳng định rằng hộ kinh doanh và hộ tiêu dùng là những nhân
tố quyết định thị trờng mà các nhà kinh tế học gọi là các thợng đế.
Họ tiêu dùng là ngời quyết định thị trờng, là thợng đế vì họ là ngời
kinh tế và cờng độ nhu cầu của họ khác nhau, nên mỗi chủ thể kinh tế cần
phải biết sắp xếp nhu cầu theo thứ tự u tiên sao cho với quy mô thu nhập
nhất định có thể thoả mãn nhu cầu cao nhất và có hiệu quả nhất.
Nhân tố khác ảnh hởng đến cầu hàng hoá là khả năng mua sắm của
các chủ thể kinh tế. Đến lợt nó khả năng mua sắm lại phụ thuộc không
chỉ vào giá cả, mà còn phụ thuộc vào thu nhập của mỗi ngời. Sự đột biến
của thu nhập và giá cả tác động đến sự thay đổi của cầu, song theo nhiều
hớng khác nhau. Giá cả hàng hoá tăng lên làm cho cầu hàng hoá giảm.
Ngợc lại thu nhập tăng làm tăng cầu.
Một vấn đề quan trọng trong việc nghiên cứu sức cầu là phân tích
sự co giãn của cầu. Về khái niệm, sự co giãn của cầu là sự biễn đổi của
cầu dới ảnh hởng biến đổi của giá.
Nếu ký hiệu sự thay đổi của cầu là d/ d, sự thay đổi cuả giá là
p / p, k là hệ co giãn của cầu thì k = d / d : p /p.
Có 3 trờng hợp về hệ số k
k> 1, trong trờng hợp 1 sự thay đổi nhỏ về giá dẫn đến sự thay đổi
lớn về cầu.
k <1, trong trờng hợp 1 sự thay đổi lớn về giá dẫn đến sự thay đổi
nhỏ về cầu.
k = 1 trong trờng hợp 1 sự thay đổi về giá dẫn đến sự thay đổi tơng
ứng về cầu.
Việc nghiên cứu phân tích hàng hoá thuộc loại k nh thế nào là có ý
nghĩa quan trọng đối vơí doanh nghiệp để họ đa ra giá cả vừa đảm bảo đ-
ợc cầu của thị trờng, tiêu thụ đợc hàng hoá không bị ứ đọng, vừa đảm bảo
thu nhập, lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Về sức cung .
Cung là khối lợng hàng hoá và dịch vụ mà các chủ doanh nghiệp
mang bán trên thị trờng với giá cả nhất định. Giữa cung và sản xuất có
mối liên hệ với nhau. Song không phải là 1. Ví dụ : năm 1998, nông dân
việt Nam sản xuất ra 29 triệu tấn lơng thực, song không mang hết ra thị
Thứ ba : Quy mô doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp nhỏ, sức
cung thờng thay đổi hơn so với doanh nghiệp lớn. Vì khi giá tăng doanh
nghiệp nhỏ vận động nhanh hơn để ứng sử kịp thời và tăng cung.
Thứ t : Kinh nghiệm và tài phán đoán của chủ doanh nghiệp. Ví dụ
trong trờng hợp giá cả hàng hoá đang tăng, chủ doanh nghiệp phán đoán
rằng đó chỉ là sự tăng lên tạm thời còn trong tơng lai sẽ giảm xuống. Do
đó họ lập tức đa hàng hoá ra bán trên thị trờng, làm tăng cung lên. Song
nếu chủ doanh nghiệp cho rằng trong tơng lai, giá cả hàng hoá còn tăng
lên nữa, thì họ sẽ kìm hàng lại, không đa ra tiêu thụ. Do vậy mặc dù giá
cả tăng nhng cung không thay đổi.
Ngoài giá cả, nhân tố thu nhập cũng ảnh hởng đến sự thay đổi cung.
Nếu thu nhập thấp, doanh nghiệp ít vốn, ít tiền dự phòng, các chủ doanh
nghiệp phải bán hàng trong mọi trờng hợp. Trong trờng hợp này, chỉ một
sự thay đổi nhỏ của thu nhập cũng làm cho cung thay đổi lớn. Ngợc lại,
nếu thu nhập cao, doanh nghiệp trờng vốn, sẵn tiền dự phòng thì các
doanh nghiệp chỉ bán hàng trong điều kiện có lợi cho mình. Trong trờng
hợp này dù có sự thay đổi lớn về thu nhập cũng không làm cho cung thay
đổi nhiều hay sức cung cứng rắn.
8
Cân bằng thị trờng đợc thực hiện khi số cầu cân bằng với số
cung.
Cung và cầu về hàng hoá và giá cả thị trờng của hàng hoá có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau. Gía cả thị trờng là giá cả thoả thuận giữa ngời
mua và ngời bán trên thị trờng. Trong cơ chế thị trờng ngời mua đại diện
cho sức cầu còn ngời bán đại diện cho sức cung. Ngời mua muốn mua giá
cả hàng hoá thấp, còn ngời bán muốn giá cả hàng hoá cao. Vì vậy giá cả
thị trờng là sự thoả thuận giữa ngời mua và ngời bán. Giao điểm giá cả
giữa ngời mua và ngời bán gọi là giá cả cân bằng, ở điểm giá cả cân bằng,
cung và cầu về số lợng hàng hoá cân bằng với nhau, hay số lợng sản
phẩm mà ngời mua muốn mua bằng số lợng sản phẩm mà ngời bán cần
9
Xuất khẩu, đó là việc bán sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nớc ra
nớc ngoài, nhằm thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nớc, đồng
thời phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống cho nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn rất nhiều so với việc mua bán một sản
phẩm nào đó trong thị trờng nội địa, bởi vì hoạt động này diễn ra trong
một thị trờng vô cùng rộng lớn, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh,
hàng hoá đợc vận chuyển ra ngoài quốc gia và đặc biệt là quan hệ buôn
bán với ngời nớc ngoài. Do vậy các quốc gia khi tham gia vào hoạt động
buôn bán, giao dịch quốc tế phải tuân thủ các thông lệ quốc tế hiện hành.
2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu.
Đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, hoạt động xuất khẩu đóng
một vai trò không thể thiếu trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của
đất nớc. Hoạt động xuất khẩu phản ánh một hình thức của quan hệ xã hội
và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những ngời sản xuất hàng hoá riêng
biệt của mỗi quốc gia, do đó chúng ta có thể khẳng định một cách chắc
chắn về vai trò của xuất khẩu đối với tăng trởng và phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia qua những điểm sau :
- Thông qua xuất khẩu các mặt hàng có thế mạnh của chúng ta sẽ
có khả năng phát huy đợc lợi thế so sánh, sử dụng triệt để các nguồn lực,
có điều kiện trao đổi kinh nghiệm cũng nh đợc tiếp cận với thành tựu
khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới.
- Tạo công ăn việc làm, thu nhập cho ngời lao động .
- Tăng thu ngoại tệ, tạo nguồn vốn cho đất nớc phục vụ sự nghiệp
CNH - HĐH. Đồng thời cải thiện cán cân thanh toán, cán cân thơng mại,
tăng dự trữ ngoại tệ cho ngân sách nhà nớc và qua đó tăng khả năng nhập
khẩu nguyên liệu máy móc thiết bị tiên tiến thay thế cho những thiết bị cũ
lạc hậu còn đang sử dụng để phục vụ chọ phát triển kinh tế của đất nớc.
-Xuất khẩu tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh. Nhng có cạnh tranh đã
thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ để có thể cung cấp những
Có 2 loại cạnh tranh kinh tế là cạnh tranh trong sản xuất và cạnh
tranh trong lu thông .
Cạnh tranh trong sản xuất là cạnh tranh diễn ra trong lĩnh vực sản
xuất. Nó bao gồm cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các công ty cùng
sản xuất một loại hàng hoá nhằm thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Nh đã nói
ở trên,yêu cầu của giá trị trong sản xuất, dựa vào chi phí lao động xã hội
cần thiết. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp nào có chi phí lao động cá
biệt nhỏ hơn mức hao phí xã hội cần thiết sẽ có đợc siêu lợi nhuận. Để có
siêu lơị nhuận, các doanh nghiệp ra sức cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản
xuất, tăng năng xuất lao động làm cho chi phí sản suất nhỏ hơn so với
doanh nghiệp khác. Điều đó làm cho lực lợng sản xuất phát triển, năng
xuất lao động xã hội tăng lên, tạo điều kiện giảm trị giá và giá cả hàng
hoá trên thị trờng.
Nh vậy cạnh tranh trong nội bộ ngành chính là động lực cho sự phát
triển, tiến bộ kỹ thuật. Không có cạnh tranh trong nội bộ, không có sáng
kiến, cải tiến thì bản thân ngành đó và do đó toàn bộ nền kinh tế bị chì
trệ. Nói 1 cách khác muấn có sự phát triển phải tạo ra sức cạnh tranh
trong nội bộ ngành.
Khác với cạnh tranh trong nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành
là cạnh tranh giữa các doanh ngiệp sản xuất ở những ngành khác nhau
nhằm tìm kiếm nơi đầu t có lợi ( Có thị xuất lợi nhuận cao).
Rõ ràng giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều
kiện khác nh nhu cầu, tâm lý, tính chất quan trọng hay không quan trọng
khác nhau nên cùng 1 lợng vốn đầu t vào ngành này có thể mang lại tỷ
11
xuất lợi nhuận cao hơn ngành khác. Điều đó dẫn đến tình trạng những ng-
ời sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ xuất lợi nhuận thấp, có xu
hớng dịch chuyển nguồn lực sang sản xuất kinh doanh tại những ngành có
tỷ xuất lợi nhuận cao hơn. đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh
ngành này sang ngành khác dẫn đến sự cân bằng cung cầu sản phẩm các
ngành và bình quân hoá tỷ xuất lợi nhuận, đảm bảo sự bình đẳng cho việc
đầu t giữa vốn các ngành khác nhau. điều đó tạo nhân tố tích cực cho sự
phát triển.
12
Cùng với việc cạnh tranh trong sản xuất còn có cạnh tranh trong lu
thông. Lu thông là lĩnh vực trao đổi, mua bán hàng hoá. Vì vậy cạnh tranh
trong lu thông gồm có cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua, giữa ngời
bán với ngời bán và giữa ngời mua với ngời mua.
Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời mua chính là sự tác động qua lại
giữa sức cung và sức cầu trên thị trờng. Sự cạnh tranh này dẫn đến hình
thành giá cả cân bằng trên thị trờng.
Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời bán lại có tác động khác. cùng 1
loại hàng hoá có nhiều ngời bán. Nếu với 1 giá cả nhất định, ngời này
không bán thì có thể ngời khác sẽ bán hàng hoá đó với giá đó. Vì vậy
giữa những ngời bán cạnh tranh để bán thờng làm cho giá cả hàng hoá
giảm xuống.
Cạnh tranh giữa ngời mua với ngời mua lại có tác động ngợc lại và
làm cho giá cả hàng hoá tăng lên.
Với các loaị cạnh tranh và tác động của chúng nh vậy thì cạnh tranh
là điều kiện không thể thiếu đợc của nền kinh tế thị trờng. Nó tạo ra môi
trờng hoạt động bình thờng cho sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển.
Tuy vậy cần thấy rằng các tác động của cạnh tranh chỉ diễn ra trong điều
kiện nền kinh tế hoạt động theo trật tự tự nhiên, theo nguyên tắc tự do.
Nguyên tắc này bị vi phạm, bị lấn áp của tình trạng độc quyền thì cạch
tranh sẽ không tạo ra đợc môi trờng cho sự phát triển nữa.
3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của các mặt hàng xuất
khẩu.
Trong hoạt động ngoại thơng, nhất là để đẩy mạnh công tác xuất
khẩu, chúng ta phải có nhiều biện pháp để nâng cao cạnh tranh của các
cấu xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua, nhng từ đó sẽ thấy đợc
những lĩnh vực mà ở đó ta có thể gặp khó khăn do đó chúng ta phải có
giải pháp can thiệp nhất định.
4. Động lực của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá
xuất khẩu.
Các nhà kinh tế học đều thừa nhận rằng, lợi nhuận là động lực của
cạnh tranh và chi phối hoạt động của kinh tế thị trờng. Trong thời kỳ đầu
phát triển của kinh tế thị trờng, các nhà kinh tế học trọng thơng thấy rằng
Kinh tế học là khoa học về của cải thơng mại và nhiệm vụ của nó là bán
nhiều mua ít .
Thời kỳ đầu sản xuất phát triển A. SMITH nhà kinh tế học Anh đã
khẳng định lợi nhuận là động lực của các nhà kinh doanh. Ông nói:
Mỗi kinh tế nhân hoạt động thấy t lợi, chỉ biết t lợi và làm theo t lợi .
Mác cũng đồng ý với các nhà kinh tế học trớc mình, khi trích câu
nói nhà t bản ghét cay ghét đắng tình trạng không có lợi nhuận hoặc lợi
nhuận quá ít, giống nh giới tự nhiên ghét sợ chân không. Lợi nhuận thoả
đáng ngời ta sử dụng t bản ở khắp nơi. Lợi nhuận 50 % t bản hăng máu
lên, lợi nhuận 100 % t bản không biết sợ là gì và lợi nhuận 300 % thì
chẳng 1 tội ác nào mà t bản không giám tới, dù có bị treo cổ cũng không
sợ
Trong cuốn kinh tế học PASAMUENSON viết : Các nhà kinh doanh
chuyển nguồn lực của mình vào những nơi sản xuất hàng hoá mà xã hội
cần thiết hơn đồng thời từ bỏ những nơi sản xuất hàng hoá mà xã hội
không có nhu cầu. Kinh tế thị trờng dùng lợi nhuận, lỗ lãi giải quyết các
vấn đề cơ bản sản xuất cái gì ? Sản xuất nh thế nào ? Sản xuất cho ai ?
điều đó có nghĩa các nhà kinh doanh chỉ sản xuất ra cái gì mang lại cho
14
họ nhiều lợi nhuận nhất. Chính vì thế mà họ có thể sản xuất lơng thực,
thực phẩm, hàng tiêu dùng, dịch vụ đáp ứng nhu cầu con ngời song cũng
có thể sản xuất ra vũ khí, súng ống đạn dợc, những thứ tiêu huỷ đời sống
Cạnh tranh sẽ loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí cao trong sản
xuất kinh doanh hàng hoá và khuyến khích các doanh nghiệp có chi phí
thấp. Điều này đã tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải giảm các chi
phí, tối u hoá sản xuất đầu vào trong sản xuất kinh doanh. điều này 1 mặt
cũng phù hợp với yêu cầu của xã hội, song bên cạnh đó cũng làm cho 1 số
doanh nghiệp bị phá sản và nạn thất nghiệp sẽ chắc chẵn xảy ra. Có thể
nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp 1 cách hợp lý
giữa lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của ngời tiêu dùng cùng với lợi
ích của xã hội.
15
Cạnh tranh trên thị trờng là cơ chế hai đầu. Một mặt nó đẩy các
doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả đến chỗ phá sản, mặt khác nó tạo
môi trớng tốt cho 1 số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả phát triển -
cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế những doanh
nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ, sự dụng lãng phí những nguồn
lực xã hội bằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng
tốt hơn nhu cầu xã hội, thúc đẩy nền kinh tế của đất nớc phát triển. Nh
vậy cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của mỗi nớc
cũng nh của từng doanh nghiệp. Với cách hiểu nh vậy ta thấy vai trò đặc
biệt của nhà kinh doanh trong việc làm tăng sự giàu có của xã hội. Nhà
kinh doanh có tài, sẽ sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất tạo ra nhiều
lợi nhuận, trớc hết cho bản thân họ và qua đó làm tăng sự giầu có của xã
hội. Vì vậy việc đào tạo, bồi dỡng đội ngũ các nhà kinh doanh giỏi là vấn
đề hàng đầu trong việc chuẩn bị nguồn lực cho nền kinh tế hiện đại.
5. Các công cụ và thủ đoạn nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng
hoá xuất khẩu.
Các doanh nghiệp đang sử dụng các công cụ phổ biến trong quá
trình cạnh tranh sôi động hiện nay là:
Thứ nhất, chất lợng hàng hoá. Trên thơng trờng nếu nhiều hàng
hoá có công dụng nh nhau giá cả bằng nhau thì ngời tiêu dùng sẽ sẵn
của doanh nghiệp. Đầy đủ thông tin và xử lý thông tin đúng, một mặt
giúp các doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong kinh doanh, mặt khác
qua thông tin có thể tìm ra và tạo ra lợi thế so sánh của doanh nghiệp trên
thơng trờng, chuẩn bị và đa ra đúng thời điểm những sản phẩm mới thay
thế để tăng cờng sức cạnh tranh của hàng hoá. Thông tin đủ, đúng hoặc
bng bít thông tin có thể thúc đẩy thị trờng một cách tích cực hoặc tạo ra
những nhu cầu giả tạo, hành vi cạnh tranh sai trái làm biến dạng thị trờng.
Vì thế không ngạc nhiên khi tình trạng quảng cáo sản phẩm hiện nay của
các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều trên các phơng tiện thông tin
đại chúng, chi phí cho hoạt động quảng cáo, giới thiệu, trng bày sản phẩm
chiếm tỉ trọng nhất định trong chi phí chung của doanh nghiệp.
Thứ năm, phơng thức phục vụ và thanh toán trong sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Phơng thức phục vụ và thanh toán là công cụ
cạnh tranh khá quan trọng. Ai nắm bắt đợc công cụ này sẽ thắng trong
cạnh tranh. Bởi vì, công cụ này tạo ra đợc tiện lợi cho khách hàng. Phơng
thức phục vụ và thanh toán trớc hết đợc thể hiện ở 3 giai đoạn của quá
trình bán hàng: Trớc khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau khi
bán hàng. Trớc khi bán hàng, các doanh nghiệp thực hiện các động tác
nh: quảng cáo, giới thiệu, hớng dẫn thị hiếu khách hàng, các hoạt động
triển lãm, trng bày hàng hoá. Những động tác này nhằm hấp dẫn, lôi cuốn
khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp mình. Trong quá trình
bán hàng, khâu quan trọng nhất là nghệ thuật, chào mời khách hàng, lịch
sự, ân cần và chu đáo. Sau khi bán hàng, phải có các dịch vụ nh bao bì và
giao hàng đến tận tay ngời tiêu dùng và các dịch vụ bảo hành sửa chữa
hàng hoá... Những dịch vụ này tạo ra sự tin tởng, uy tín của doanh nghiệp
đối với ngời tiêu dùng. Sau nữa, phơng thức phục vụ trên sẽ phát huy tác
dụng khi đảm bảo đợc các yêu cầu sau: các dịch vụ phải nhanh, chính
xác... phơng thức thanh toán phải linh hoạt, đa dạng bao gồm các loại nh:
thanh toán một lần, thanh toán chậm, bán trả góp, bán có thởng, thanh
toán linh hoạt khi trả bằng ngoại tệ.
Thứ tám, sự mạo hiểm rủi ro. Trong kinh doanh lợi nhuận doanh
nghiệp thờng tỷ lệ thuận với sự mạo hiểm rủi ro trong kinh doanh. Các
chủ thể kinh doanh có khuynh hớng đầu t kinh doanh (kể cả đầu t nghiên
cứu khoa học) vào những mặt hàng mới, lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó th-
ờng cao. Đây là khuynh hớng khách quan vì nó hy vọng thu đợc lợi nhuận
cao trong tơng lai. Mặt khác nó giảm đợc áp lực từ phía các đối thủ cạnh
tranh hiện tại. Sự mạo hiểm chấp nhận rủi ro nhằm thu đợc lợi nhuận lớn
bằng cách đi đầu trong kinh doanh là công cụ cạnh tranh cực kỳ hiệu quả,
nhng cũng cực kỳ nguy hiểm trong quá trình cạnh tranh. Việc sử dụng
hiệu quả công cụ này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài năng và bản lĩnh.
Nh vậy, các công cụ cạnh tranh mà các doanh nghiệp hiện nay sử
dụng có thể khái quát lại nh sau: Lấy chất lợng, rẻ, thông tin, nhanh, mới,
nhiều, linh hoạt , lòng tin, nổi tiếng, thúc đẩy liên doanh, độc đáo, mạo
hiểm và bán chịu để thắng trong cạnh tranh. Vì cạnh tranh là một qui luật
trong nền kinh tế thị trờng mà ở đó các chủ thể kinh tế tìm mọi biện pháp
- cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình. Với nghĩa
đó cạnh tranh bao gồm cả những thủ đoạn trong hoạt động kinh doanh.
18
Thực tiễn cạnh tranh trên thơng trờng cho thấy các doanh nghiệp dùng
các thủ đoạn nh sau:
Một là, dùng tài chính để thao túng. Đây là thủ đoạn khá phổ biến
đợc áp dụng ở các doanh nghiệp có tiềm năng tài chính lớn, mục đích là
dùng sức mạnh tài chính để loại đối phơng ra khỏi cuộc chơi độc chiếm
thị trờng. Động tác phổ biến là bán phá giá. VD: Coca cola ở Việt Nam.
Hai là, sử dụng sự liên kết để thao túng thị trờng. Mục đích của thủ
đoạn này là các doanh nghiệp thực hiện sự liên kết nhằm khống chế thị tr-
ờng, thu lợi nhuận độc quyền cao. Thủ đoạn này bao gồm liên kết về giá
nhằm bóp chẹt ngời tiêu dùng, liên kết về vùng tiêu thụ hay cùng nhau
phân chia thị trờng, liên kết về chất lợng hàng bằng cách cùng nhau giảm
chất lợng hàng hoá do đó giảm chi phí đầu vào mà vẫn giữ đợc nguyên
19
thật không có để làm mất uy tín sản phẩm tiến tới loại trừ đối phơng. Thứ
ba, sử dụng gián điệp kinh tế để ăn cắp một công nghệ, chiến lợc đầu t
phát triển của đối phơng... nhằm tạo ra lợi thế trong cạnh tranh. Thứ t,
dùng bạo lực để loại trừ đối thủ cạnh tranh từ bỏ quyết định kinh doanh
nào đó, ở mức thấp là đe doạ, gây khó khăn trong cạnh tranh, ở mức cao
hơn là phá huỷ tài sản doanh nghiệp đối phơng, thậm chí thủ tiêu đối ph-
ơng.
III . Các nhân tố ảnh h ởng đến khả năng cạnh tranh
của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam .
Không thiếu những lý giải về cạnh tranh cũng nh những yếu tố
quyết định của cạnh tranh dẫn đến thành công hay thất bại của một số
ngành, công ty của một quốc gia. ở đây tôi cố gắng giải thích sự thành
công của các ngành, các công ty trong môi trờng thơng mại quốc tế.
1. Lợi thế so sánh
Những lý giải phổ biến nhất của lý thuyết về lợi thế so sánh là sự
khác nhau giữa các quốc gia trong sự thiên phú tự nhiên về các yếu tố sản
xuất nh lao động, đất đai, khí hậu, tài nguyên, vốn...
Quốc gia nào giành đợc lợi thế so sánh ở những ngành sản xuất
rộng rãi các yếu tố mà quốc gia đó có đợc u thế hơn, quốc gia đó sẽ xuất
khẩu các mặt hàng này và nhập khẩu những hàng hoá không có lợi thế so
sánh. Trên cơ sở này làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá của
quốc gia đó dựa vào chi phí sản xuất thấp.
2.Năng xuất.
Tăng trởng kinh tế của một quốc gia đợc xác định bởi năng xuất
nền kinh tế quốc gia đó, nó đợc đo bằng giá trị hàng hoá và dịch vụ sản
xuất đợc trên một đơn vị lao động, vốn và nguồn lực và nguồn lực vật chất
của nớc đó. Năng xuất qua đó xác định tính cạnh tranh của nớc đó trên tr-
ờng quốc tế.
3. Các cơ sở kinh tế vĩ mô.
xuất khẩu và cán cân thơng mại cân bằng duy trì một mức tỷ giá hối đoái
thực tế và có sức cạnh tranh.
Tổng kết các tác động của môi trờng kinh tế vĩ mô đối với cạnh
tranh điều quan trọng cần nhấn mạnh là vai trò của việc thay đổi các
chính sách vĩ mô, tạo ra đợc môi trờng cạnh tranh trong các ngành và
doanh nghiệp. Ví dụ các chính sách kinh tế vĩ mô khuyến khích tỷ lệ đầu
t cao là có lợi, nhng không chỉ đó thôi sẽ không tạo ra việc nâng cao khả
năng cạnh tranh và hiệu xuất nếu đầu t không thích thích hợp, nếu không
có khả năng và các thể chế làm cho đầu t có hiệu quả và không nên có các
biện pháp khuyến khích và ép buộc đủ mạnh để tạo ra một trật tự thị tr-
ờng.
Những sự bóp méo về trị giá hối đoái và giá cả đợc khắc phục gạt
bỏ trở ngại đối với năng xuất và cạnh tranh cao. Nhng một môi trờng cạnh
tranh hiệu quả, các thể chế quản lý có chất lợng cao phải đợc đặt đúng
chỗ để thực sự nâng cao năng xuất và cạnh tranh. Sự thận trọng đối với
một mức nợ nớc ngoài phụ thuộc vào nguồn vốn đợc đầu t vào đâu. Xem
xét trên khía cạnh điều chỉnh mức nợ tổng thể còn ít quan trọng hơn so
với việc cải thiện môi trờng kinh doanh, chiến lợc và sự vận hành của các
doanh nghiệp.
Vì thế các chính sách hỗ trợ ở tầm vĩ mô là các điều kiện tiên quyết
và cần thiết đối với tăng trởng kinh tế và cạnh tranh. Tuy nhiên đòi hỏi
phải có một hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô để có thể mang lại hoạt
động kinh doanh có hiệu qủa. Khi đó cải thiện cạnh tranh sẽ phụ thuộc
vào sự thay đổi song song và độc lập có trong chính sách vĩ mô và chính
sách riêng đối với các doanh nghiệp.
4. Họat động và chiến l ợc của công ty.
21
Mặc dù các chính sách kinh tế vĩ mô thích hợp tạo tiềm năng cho
cải thiện cạnh tranh, năng xuất chỉ đợc nâng cao với các doanh nghiệp cải
thiện đợc năng lực của mình ở cấp các công ty và các ngành tơng ứng.
trị nhiều hơn cho khách hàng bằng cách tập chung thoả mãn khách hàng
phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lợng dịch vụ phục vụ khách hàng
và phân phối sản phẩm. Song các nhà quản lý Việt Nam ít khi nhận thấy
tầm quan trọng vào việc tập trung vào khách hàng và tiếp thị sản phẩm
cuả mình. Nhiều công ty hầu nh thụ động trong việc tiếp cận với thị trờng
và định hớng khách hàng, nhiều công ty còn rất hiếm chủ động tìm kiếm
khách hàng mới, nắm bắt và tham gia vào các hoạt động tiếp thị năng
động trong nớc hay quốc tế hoặc thử nghiệm mẫu sản phẩm mới, công ty
thờng dựa vào khách hàng mới để tiếp cận và tìm kiếm hoạt động mới.
22
Điều đó có nghã là Công ty liên tục sản xuất các sản phẩm với giá trị gia
tăng giảm . Những sản phẩm đến lợt nó phải chịu ảnh hởng cuả những ng-
ời bán hàng quốc tế hùng mạnh, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay theo sự
phá giá tiền tệ của một số nớc đối thủ cạnh tranh. Nếu kiểu cách tiếp cận
thụ động này còn tiếp diễn, các công ty Việt Nam rất có thể bị bế tắc
trong việc sử dụng các sản phẩm giá trị thấp và phạm vi cải tiến bó hẹp.
Về vấn đề chất lợng sản phẩm cuả các công ty Việt Nam nói chung là
thấp, phần lớn các nhà doanh nghiệp giải thích do công nghệ máy móc và
thể chế .Song kinh nghiệm quốc tế còn cho thấy rằng nó phụ thuộc lớn
vào nhà quản lý ( Tìm nguồn đầu vào ra, quy trình quản lý chất lợng , tổ
chức .....) Bên cạnh đó các công ty Việt Nam còn yếu kém cả về tiếp thị
sản phẩm quốc tế.
Nh vậy trở ngại của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng
xuất khẩu Việt Nam do: Thứ nhất : Môi trờng kinh doanh manh mún,
kém phát triển, một cơ cấu kích thích bóp méo, sự hỗ trợ của chính phủ
đối với nhiều công ty và sức ép cạnh tranh hạn chế. Thứ 2 : Do bên
trong, từ đó cần thiết phải có một quy trình liên tục xem xét và xây dựng
các hoạt động của công ty để mang lại giá trị cho khách hàng và cả vận
hành, hậu cần, tiếp thị, phân phối, dịch vụ cũng nh các hoạt động hỗ trợ
nh hệ thống chất lợng, trang bị, đào tạo và nâng cao công nghệ để có thể
sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, không nghiên cứu vào nghiên cứu triển
khai, tiếp thị hay đào tạo mà công ty coi chính phủ nh là một tác nhân
quan trọng đến kết quả kinh doanh của họ và nỗ lực tìm kiếm càng nhiều
u tiên càng tốt ( Giấy phép hạn nghạch, bảo hộ ). Sản phẩm xuất khẩu đều
là những sản phẩm nhiều lao động dựa vào tài nguyên thiên nhiên và chủ
yêú đợc xuất tới thị trờng phát triển, công ty cha tạo ra đợc vị thế cạnh
tranh khác biệt và mang tính chất dài hạn, thờng có ít hoặc không có nhãn
hiệu quốc tế, thờng dựa vào các khách hàng và đối tác để đầu t và thiết
kế, quy trình công nghệ, tiếp thị, phân phối. Thách thức của các công ty
Việt Nam là làm sao tạo ra đợc biểu tợng, nhãn hiệu của riêng mình, giao
dịch trực tiếp với khách hàng và kiểm tra các kênh phân phối quốc tế. Các
công ty Việt Nam sẽ không thể cải tiến sản phẩm, thu nhiều lợi nhuận
hoặc cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững nếu nó không kiểm soát đợc
phân phối và tiếp cận trực tiếp với khách hàng nớc ngoài. Nếu không các
công ty sẽ chậm trễ trong việc nắm bắt các xu hớng thị trờng và những
trung gian buôn bán sẽ là kẻ chiếm phần lớn lợi nhuận. Các chiến lợc
khác nhau đòi hỏi đầu t lâu dài không chỉ ở thiết bị mà cả ở tài sản khác:
Con ngời, phát triển nghiên cứu, t vấn quản lý, phát triển thị trờng.
5/. Môi tr ờng kinh doanh
Ngay cả khi các công ty Việt nam ngày càng có khả năng hoàn
thiện chiến lợc thực tiễn điều hành thì điều đó vẫn không đủ khả năng
cạnh tranh của họ . Điều quan trọng là các chính sách , thể chế và cơ sở
hạ tầng tạo nên môi trờng kinh doanh và trong đó các công ty đang cạnh
tranh . Các công ty khó có thể đạt đợc mức tăng trởng bền vững về năng
suất và năng lực cạnh tranh , do đó Việt Nam khó có thể từ một nớc có
nền kinh tế thấp nên trung bình và tiên tiến nếu nh các khó khăn và hạn
chế về môi trờng kinh doanh mà các doanh nghiệp đang gặp phải không
giảm đi đợc đáng kể trong thời gian có thể chấp nhận đợc .
5.1: Vấn đề thơng mại :
Trong khi khủng hoảng tài chính khu vực Châu á để lại nhiều nghi
khích xuất khẩu :
Trong những năm tới và cho tới khi quá trình tự do hoá thơng mại ở
Việt Nam có đợc những kết quả đáng kể , hàng rào thơng mại vẫn tồn tại
hỗ trợ việc thay thế nhập khẩu , vì thế cần phải vô hiệu hoá tác động tiêu
cực đối với các nhà xuất khẩu và tăng cờng xuất khẩu . Cần tăng cờng hội
nhập thông qua việc gia nhập các tổ chức thơng mại thế giới điều đó sẽ
ngày càng củng cố chiến lợc hớng về xuất khẩu , vì khi đó việc thực hiện
các chính sách bảo hộ sẽ dần dần giảm đi .
Cần có chính sách đảm bảo cho các nhà xuất khẩu có thể có đợc
đầu vào và đầu ra theo giá thị trờng quốc tế . Các nhà xuất khẩu trực tiếp
và gián tiếp cần đợc tiếp cận nguồn tài chính hỗ trợ xuất khẩu , đặc biệt
nguồn vốn lu động với mức lãi xuất có tính cạnh tranh .
Đợc tiếp cận các đầu vào phi thơng mại với mức giá không bị bóp
méo bao gồm việc cố gắng giữ câú trúc tiền lơng và thị trờng lao động
không bị bóp méo , đảm bảo về vận tải, điện và bu chính viễn thông .
Cải thiện các điều kiện hạ tầng , thể chế phục vụ xuất khẩu bao
gồm cả điều kiện hải quan , hiệu quả hơn và thiết bị bốc dỡ tại cảng tốt
hơn , hỗ trợ thu thập các thông tin về thị trờng xuất khẩu , đào tạo và phát
25