TIỂU LUẬN:Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý ở Công ty Cổ phần Phân lân Hàm Rồng-Thanh Hoá.Lời nói đầuSự chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, sang cơ chế thị trường và cùng với sự đa dạng hoá các t - Pdf 11

TIỂU LUẬN:

Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức
bộ máy quản lý ở Công ty Cổ phần
Phân lân Hàm Rồng-Thanh Hoá
Lời nói đầu

Sự chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
sang cơ chế thị trường và cùng với sự đa dạng hoá các thành phần kinh tế, đã ra đời
các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Để đảm bảo cho các doanh nghiệp kinh doanh
có hiệu quả, hoàn thiện một bộ máy quản lý là một đòi hỏi khách quan của doanh
nghiệp trong cơ chế thị trường. Đây là một vấn đề hết sức phức tạp và có vai trò đặc
biệt quan trọng, bởi lẽ đối tượng của nó là những người lao động làm việc trong lĩnh
vực quản lý, những người làm công việc chuẩn bị và điều hành sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Công ty Cổ phần Phân lân Hàm Rồng trong những năm qua trước những yêu
cầu của tình hình mới, trước sức ép của cạnh tranh trên thị trường, Công ty đã có
những bước tiến đáng kể trong việc hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý. Song đây là
một công việc được coi là rất phức tạp mà Công ty lại mới tiến hành cổ phần hoá, nên Sơ đồ 1: Sơ đồ logic của khái niệm quản lý.
1.1.2 Thực chất của quản lý
Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật của hoạt động quản lý, quản lý chính là sư kết
hợp được mọi sự nỗ lực của con người trong hệ thống và việc sử dụng tốt các của cải
vật chất thuộc phạm vi sở hữu của hệ thống để đạt tới mục đích chung của hệ thống và
của riêng từng cá nhân một cách khôn khéo và có hệu quả nhất. ở đây có sự hiệp tác và
Chủ thể quản lý
Đối tượng bị quản

Mục tiêu
Khách thể
quản lý
phân công lao động, có sự tham gia lao động của mọi người thì qui mô lớn hay nhỏ
cũng đều cần có sự quản lý nhằm có được năng suất lao động chung cao hơn, đạt được
mục tiêu đã đề ra với xã hội phí thấp nhất. Như vậy, thực chất của quản lý là quản lý
con người và tập thể con người hoạt động trong cùng một hệ thống. Trong mọi hệ
thống sản xuất, con người luôn giữ vị trí trung tâm và có ý nghĩa quyết định.
1.1.3 Vai trò của quản lý.
Quản lý nói chung cũng như quản lý kinh tế nói riêng có những vai trò hết sức
quan trọng. Cụ thể:
- Quản lý là một trong những yếu tố cơ bản quyết định hiệu quả hoạt động của một
hệ thống. Việc tổ chức công tác quản lý một cách có khoa học sẽ tạo điều kiện cho
việc giảm chi phí hoạt động và nâng cao năng suất lao động.
- Việc làm tốt công tác quản lý còn tạo điều kiện cho người lao động phát huy được
khả năng sáng tạo của mình.
Trong môi trường làm việc với một cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp, chặt chẽ,

 Kiểm tra: Xem xét lại tất cẩ các công việc về số lượng và chất lượng xem có
đúng, có phù hợp với kế hoạch không.
1.2 Một số vấn đề về lao động.
Lao động là hoạt động có mục đích của con người tác động vào giới tự nhiên,
biến đổi giới tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của mình. Như vậy, lao động là điều
kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Lao động chính là quá trình
sử dụng sức lao động.
Sức lao động là năng lực lao động của con người, gồm toàn bộ thể lực và trí lực
của con người. Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt động nhất và cách mạng nhất
trong quá trình lao động. Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao
động. Về mặt vật chất, quá trình lao động là sự kết hợp tác động giữa ba yếu tố cơ bản
của quá trình sản xuất: lao động, đối tượng lao động và công cụ lao động. Về mặt xã
hội, quá trình lao động được thể hiện ở sự phát sinh các mối quan hệ qua lại giữa
những người lao động với nhau trong lao động, hình thành nên tính chất tập thể, tính
chất xã hội của lao động.
1.3 Lao động quản lý trong bộ máy quản lý của doanh nghiệp.
Ta có thể hiểu lao động quản lý là tất cả những người lao động hoạt động
trong bộ máy quản lý và tham gia vào việc thực hiện các chức năng quản lý. Bộ máy
quản lý hoạt động có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc lao động quản
lý có thực hiện tốt chức năng quản lý hay không. Hoạt động của lao động quản lý
mang tính chất gián tiếp bởi lẽ nó phải thông qua hệ thống tổ chức, thông qua tập thể
mà tác động vào sản xuất. Nhờ có hoạt động lao động quản lý mà các chức năng quản
lý được thực hiện, làm cho nó trở thành một quá trình.
1.3.1 Phân loại lao động quản lý.
a. Theo vai trò của lao động quản lý đối với việc thực hiện các chức năng của quản
lý, lao động quản lý được chia thành:
 Cán bộ lãnh đạo: Là những lao động quản lý trực tiếp thực hiện chức năng lãnh
đạo, bao gồm: Giám đốc, Phó giám đốc, quản đốc, phó quản đốc, trưởng, phó
các phòng ban trong bộ máy quản lý của doanh nghiệp. Nhiệm vụ của cán bộ
lãnh đạo là:

phòng ban kĩ thuật.
 Nhân viên quản lý kinh tế: Là những người làm công tác lãnh đạo, tổ chức,
quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: Giám
đốc hay phó giám đốc phụ trách kinh doanh, kế toán trưởng, các cán bộ nhân
viên ở phòng kế toán, phòng kinh doanh
 Nhân viên quản lý hành chính: Là những người làm công tác tổ chức nhân sự,
thi đua khen thưởng, quản trị hành chính,văn thư đánh máy, bảo vệ, tạp vụ, lái
xe
Sự phân loại lao động quản lý theo các tiêu thức trên có ý nghĩa quan trọng đối
với việc nghiên cứu và đánh giá cơ cấu tỷ lệ về số lượng và chất lượng của đội ngũ lao
động quản lý so với những đặc điểm, qui mô và loại hình sản xuất của doanh nghiệp.
Như vậy với các loại lao động quản lý khác nhau lại có nội dung lao động khác nhau.
1.3.2 Nội dung của lao động quản lý.
Các loại lao động quản lý khác nhau có nhiệm vụ lao động khác nhau do đó có
nội dung lao động rất khác nhau. Sự khác nhau đó là do sự khác nhau về tính chất các
chức năng quản lý qui định. Tuy nhiên, nội dung lao động của tất cả các loại lao động
đều được hợp thành từ các yếu tố thành phần sau đây:
 Yếu tố kĩ thuật: Thể hiện ở sự thực hiện công việc mang tính chất thiết kế và
mang tính chất chuyên môn như: Thiết kế, ứng dụng sản phẩm mới, phân tích
thiết kế và áp dụng các phương án cải tiến công nghệ sản xuất, tổ chức lao động

 Yếu tố tổ chức hành chính: Thể hiện sự thực hiện các công việc nhằm tổ chức
thực hiện các phương án thiết kế, các quyết định như lập kế hoạch, hướng dẫn
công việc, điều chỉnh kiểm tra và đánh giá công việc.
 Yếu tố sáng tạo: Thể hiện ở sự thực hiện những công việc như: Suy nghĩ, tìm
tòi, phát minh ra các kiến thức mới, các quyết định, các phương pháp để hoàn
thành công việc.
 Yếu tố thực hành giản đơn: Thể hiện ở sự thực hiện những công việc đơn giản
được thực hiện theo các qui định, hướng dẫn có sẵn như công việc có liên quan
đến thu nhập và xử lý thông tin, truyền tin và các công việc phục vụ.

lao động quản lý.
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp.
2.1 Khái niệm.
Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp là tổng hợp các bộ phận khác nhau có
mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm,
quyền hạn xác định, được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm đảm bảo
thực hiện các chức năng quản lý và phục vụ mục đích chung đã xác định của doanh
nghiệp.
Tổ chức bộ máy quản lý là hình thức phân công nhiệm vụ trong lĩnh vực quản
lý, có tác động trực tiếp đến quá trình hoạt động của hệ thống. Cơ cấu tổ chức quản lý,
một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi người trong hệ thống, mặt khác nó có
tác động tích cực trở lại đến việc phát triển của hệ thống.
2.2 Những yêu cầu đối với cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Việc xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo những yêu
cầu sau:
 Tính tối ưu: giữa các khâu và các cấp quản lý (khâu quản lý phản ánh sự phân
chia chức năng quản lý theo chiều ngang, còn cấp quản lý thể hiện sự phân chia
chức năng quản lý theo chiều dọc) đều thiết lập những mối liên hệ hợp lý với số
lượng cấp quản lý ít nhất trong hệ thống cho nên cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
mang tính năng động cao, luôn luôn đi sát và phục vụ mục đích đề ra của hệ
thống.
 Tính linh hoạt: bộ máy quản lý phải có khả năng thích ứng linh hoạt với bất kỳ
tình huống nào xẩy ra trong hệ thống cũng như ngoài môi trường.
 Tính tin cậy: bộ máy quản lý phải đảm bảo tính chính xác của tất cả các thông
tin được sử dụng trong hệ thống, nhờ đó đảm bảo sự phối hợp với các hoạt
động và nhiệm vụ của tất cả các bộ phận trong hệ thống.
 Tính kinh tế: bộ máy quản lý phải sử dụng chi phí quản lý đạt hiệu quả cao
nhất. Tiêu chuẩn xem xét yêu cầu này là mối tương quan giữa chi phí dự định
bỏ ra và kết quả sẽ thu về.
 Tính bí mật: đòi hỏi giữ gìn được nội dung hoạt động của mỗi phân hệ và của

2.4 Các nguyên tắc tổ chức quản lý.
 Nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý gắn với phương hướng, mục đích của hệ
thống.
Phương hướng và mục đích của một hệ thống sẽ chi phối cơ cấu của hệ thống.
Nếu một hệ thống mục tiêu, phương hướng của nó có quy mô có lớn thì cơ cấu tổ chức
của nó cũng phải có quy mô tương ứng.
 Nguyên tắc chuyên môn hoá và cân đối.
Nguyên tắc này đòi hỏi cơ cấu tổ chức quản lý phải được phân công, phân
nhiệm các phân hệ trong hệ thống theo các nhóm chuyên ngành, với những con người
được đào luyện tương ứng và có đủ quyền hạn. Để thực hiện nguyên tắc này cần phải
tuân thủ các yêu cầu cụ thể sau:
+ Phải công bố rõ ràng nhiệm vụ, mục đích, mục tiêu của cả hệ thống để mọi
thành viên của hệ thống nắm và hiểu phần việc của mình trong guồng máy chung của
hệ thống.
+ Cơ cấu tổ chức được phân phối dựa theo nhiệm vụ được giao chứ không
phải theo phạm vi công việc phải thực hiện.Rõ ràng, chỉ có giao nhiệm vụ một cách
cụ thể với sự cân xứng giữa nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền lực, lợi ích của từng phân
hệ để phân biệt rõ ai làm tốt, ai làm kém thì hệ thống mới có thể tồn tại và phát triển
tốt.
 Nguyên tắc thích nghi và linh hoạt với môi trường.
Nguyên tắc này đòi hỏi việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo
sao cho mỗi phân hệ một mức độ tự do sáng tạo tương xứng để mọi cán bộ quản lý ở
các cấp thấp phát triển được tài năng, chuẩn bị cho việc thay thế vị trí của các cán bộ
quản lý cấp trên khi cần thiết.
 Nguyên tắc hiệu lực và hiệu quả.
Nguyên tắc này đòi hỏi bộ máy quản lý phải thu được kết quả hoạt động cao
nhất so với chi phí mà hệ thống đã bỏ ra, đồng thời đảm bảo hiệu lực hoạt động của
các phân hệ và các điều khiển của người lãnh đạo. Cần tuân thủ các yêu cầu sau:
+ Cơ cấu tổ chức quản lý phải là cơ cấu hợp lý nhất, bảo đảm chi phí cho các
hoạt động nhỏ nhất, mà kết quả chung thu được của hệ thống là lớn nhất trong khả

một thủ trưởng, người lãnh đạo chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả công việc của
người dưới quyền.
- Nhược điểm: Đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện, tổng hợp,
hạn chế việc sử dụng các chuyên gia với trình độ cao về từng mặt quản lý; khi cần
phối hợp, hợp tác công việc giữa hai đơn vị và cá nhân ngang quyền thuộc các tuyến
khác nhau thì việc báo cáo, thông tin phải đi đường vòng theo kênh đã quy định.
Người lãnh đạo hệ
th
ống

Người lãnh đạo
tuy
ến 1

Người lãnh đạo
tuy
ến 2

Các nhân viên c
ấp

ới

Các nhân viên
c
ấp d
ư
ới

2.5.2 Cơ cấu chức năng.

năng B

Lãnh đạo chức
năng A

Các c
ấp d
ư
ới

người thừa hành trong một lúc có thể phải nhận nhiều mệnh lệnh, thậm chí các mệnh
lệnh lại trái ngược nhau.
2.5.3 Cơ cấu trực tuyến-chức năng.
Để khắc phục nhược điểm của các cơ cấu trực tuyến và chức năng, hiện nay
kiểu cơ cấu liên hiệp (trực tuyến-chức năng) được áp dụng rộng rãi và phổ biến cho
mọi hệ thống.
Sơ đồ 4: Sơ đồ cơ cấu trực tuyến - chức năng.
Đây là một loại hình quản lý kết hợp giữa sự chỉ huy trực tiếp của các cấp
lãnh đạo hành chính trong xí nghiệp và sự chỉ đạo nghiệp vụ của các nhân viên chức
năng các cấp. Theo cơ cấu này, người lãnh đạo doanh nghiệp được sự giúp đỡ của các
phòng ban chức năng trong việc ra quyết định để hướng dẫn, điều khiển và kiểm tra.

Các nhân viên
c
ấp d
ư
ới

Các nhân viên cấp dưới
mâu thuẫn giữa lãnh đạo các tuyến với nhau do không thống nhất quyền hạn và
quan điểm.
Trên đây là ba kiểu tổ chức bộ máy quản lý cơ bản, ngoài ra còn có các kiểu
cơ cấu trực tuyến tham mưu, cơ cấu chính thức, cơ cấu theo khách hàng
Xã hội ngày càng phát triển dẫn đến sự biến đổi mạnh mẽ trong các đơn vị. Sự
phát triển gắn liền với quá trình tập trung và chuyên môn hoá cao, đồi hỏi phải có sự
phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận trong quá trình hoạt động của tổ chức là một tất
yếu. Vì vậy hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý làm cho hiệu quả quản lý lao động cao
hơn.
2.6. Quá trình hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy quản lý.
2.6.1 Hoàn thiện bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng chuyên, tinh, gọn nhẹ
và có hiệu lực.
Để đáp ứng được nhu cầu của sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường
khắc nghiệt như hiện nay cũng như để phát huy được hết vai trò, năng lực lãnh đạo và
quản lý đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì việc hoàn
thiện bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng chuyên, tinh, gọn nhẹ, mà vẫn có hiệu
lực quản lý cao là một đòi hỏi tất yếu.
Ta biết rằng bộ máy quản lý là những khâu, những cấp được tổ chức ra phù
hợp với đặc điểm kinh tế, kĩ thuật của từng doanh nghiệp để giúp thủ trưởng doanh
nghiệp thực hiện các chức năng quản lý bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh
đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Chính bộ máy quản lý là lực lượng duy nhất có thể tiến
hành nhiệm vụ quản lý trong doanh nghiệp. Bộ máy quản lý tạo ra sức mạnh khi nó
phù hợp với nhu cầu thực tiễn, còn khi không phù hợp nó lại trở thành nhân tố kìm

cạnh phân công nhiệm vụ để bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả phải gắn quyền
lợi, lợi ích cũng như trách nhiệm của từng bộ phận, từng con người. Đây cũng là một
trong những chức năng hết sức quan trọng của người lãnh đạo.
Một vấn đề vừa có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn là trong việc phân công
phụ trách, cần qui định giới hạn tối đa số lượng các phòng chức năng, các bộ phận trực
thuộc một chức danh quản lý. Chúng ta cần hiểu rằng các phòng chức năng đóng vai
trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp. Đó là những tổ chức bao
gồm cán bộ, nhân viên kinh tế, kĩ thuật, hành chính được phân công chuyên môn hoá
theo các chức năng quản lý, có nhiệm vụ giúp giám đốc (và các phó giám đốc) chuẩn
bị các quyết định, theo dõi hướng dẫn các phân xưởng, các bộ phận kinh doanh cũng
như cán bộ, nhân viên cấp dưới thực hiện đúng đắn, kịp thời những quyết định quản lý.
Trách nhiệm chung của các phòng chức năng là vừa phải hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao, vừa phải phối hợp chặt chẽ với các phòng khác nhằm đảm bảo cho tất cả
các lĩnh vực công tác của doanh nghiệp dược tiến hành ăn khớp, đồng bộ, nhịp
nhàng.Việc tổ chức các phòng chức năng cần được tiến hành theo các bước sau đây:
+Thứ nhất, phân tích sự phù hợp giữa chức năng và bộ phận quản trị. Trường
hợp tốt nhất là mỗi chức năng quản trị nên do một phòng phụ trách trọn vẹn. Song, do
số lượng các phòng chức năng phụ thuộc vào qui mô, đặc điểm kinh tế, kĩ thuật của
từng doanh nghiệp nên có trường hợp phải ghép vào ba chức năng có liên hệ mật thiết
với nhau, thuộc cùng lĩnh vực hoạt động vào một phòng. Như vậy sẽ thuận lợi cho việc
bố trí cán bộ phụ trách.
+Thứ hai, tiến hành lập sơ đồ tổ chức nhằm mô hình hoá mối quan hệ giữa các
phòng chức năng với giám đốc và các phó giám đốc. Đồng thời, phải ghi rõ những
chức năng mỗi phòng phụ trách nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo hoặc có chức
năng không bộ phận nào chịu trách nhiệm. Căn cứ vào sơ đồ đã lập đó, từng phòng
chức năng xây dựng nội qui công tác của phòng mình nhằm xác định rõ ràng trách
nhiệm, quyền hạn chung của cả phòng cũng như riêng cho từng người trong phòng.
+Thứ ba, tính toán xác định số lượng cán bộ, nhân viên mỗi phòng chức năng
một cách chính xác, có căn cứ khoa học nhằm vừa bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, vừa
giảm bớt tỷ lệ nhân viên quản trị, giảm chi phí quản lý.

thường xuyên điều tra, phân tích, tính toán, cân nhắc, soạn thảo và lựa chọn phương án
kinh doanh tối ưu sao cho với chi phí thấp nhất mà đem lại hiệu quả cao nhất.
Công tác quản lý là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của một
hệ thống. Để thực hiện công tác quản lý thì phải xuất phát từ một bộ máy quản lý ổn
định và thích hợp. Do đó, hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý là nhân tố quan trọng
đảm bảo thực hiện có hiệu quả sản xuất kinh doanh, không ngừng nâng cao năng suất
lao động ở doanh nghiệp.
Việc hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý ở Công ty Cổ phần Phân lân Hàm
Rồng là hết sức cần thiết bởi nó giúp cho doanh nghiệp đứng vững và phát triển. Đó là
nhằm hoàn thiện quá trình sản xuất kinh doanh với chất lương cao, tiết kiệm tối đa thời
gian lao động, sử dụng có hiệu quả mọi yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất kinh
doanh, đồng thời làm cho bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hoạt động nhịp nhàng
đạt hiệu quả cao. Phần II
Phân tích thực trạng bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần
Phân lân Hàm Rồng.

1.Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
Tiền thân của Công ty là Xí nghiệp Phân lân Thanh Hoá, chính thức đi vào
hoạt động từ ngày 19-5-1962. Với thiết bị thủ công gồm 2 máy nghiền có công suất
1,2 tấn/h và 2 lò cao. Đội ngũ cán bộ công nhân viên lúc đầu là 120 người, hàng năm
sản xuất được gần 1200 tấn sản phẩm.
Từ sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Công ty
được đầu tư xây dựng, bổ sung thêm máy móc thiết bị, nâng dần công suất lên 1 vạn

Khi còn là học sinh phổ thông, ai mà chẳng được học câu ca dao: “Nhất nước,
nhì phân, tam cần, tứ giống”. Từ xa xưa, ông cha ta đã chú ý tới tầm quan trọng của
phân bón đối với trồng trọt. Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, qui trình
công nghệ sản xuất phân bón ngày càng phát triển. Các loại phân bón đều có chung
một mục đích: Giúp cây trồng đề kháng tốt hơn đối với các loại sâu bệnh đồng thời
làm cho năng suất cây cao hơn.
Trong những năm qua, sản lượng lương thực của nước ta không ngừng tăng
lên. Từ chỗ Nhà nước phải nhập khẩu lương thực để chống đói thì đến nay, Việt Nam
là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (chỉ sau Mỹ). Gạo đã trở thành mặt
hàng xuất khẩu quan trọng nhất và nhiều nhất của nước ta. Đảng và Nhà nước ta luôn
xác định Việt Nam sẽ tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá trên cơ sở nền nông
nghiệp vững mạnh.
Căn cứ vào chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông
nghiệp với mục tiêu chiến lược “An toàn lương thực” của tỉnh Thanh Hoá, đồng thời
để đáp ứng nhu cầu phân bón cho cây công nghiêp và vùng nguyên liệu mía đường
trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá và các tỉnh phía Nam, Công ty tiếp tục đầu tư đẩy mạnh
sản xuất, mở rộng thị trường. Xuất phát từ thực tiễn như vậy, lãnh đạo Công ty luôn
xác định: Phải xây dựng một bộ máy quản lý chuyên, tinh, gọn nhẹ để điều hành Công
ty nhằm đạt được hiệu quả lớn nhất. 1.2.2 Đặc điểm kĩ thuật công nghệ.
Qui trình công nghệ của Công ty trong quá trình sản xuất tuy không đòi
hỏi kỹ thuật phải thật hiện đại nhưng có nhiều công đoạn khá phức tạp đòi hỏi
sự chính xác cao và yêu cầu về an toàn lao động. Chính vì vậy mà bộ phận KCS
có trách nhiệm rất lớn trong quá trình sản xuất. Qui trình công nghệ sản xuất
sản phẩm chính:
Sơ đồ 5: Qui trình công nghệ sản xuất phân tổng hợp (vê viên).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status