TIỂU LUẬN: Đánh giá việc ứng dụng chính sách marketing – mix cho thị trường khách Trung Quốc của Công ty Cổ phần Dịch vụ Du lịch Đường sắt Hà Nội - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Đánh giá việc ứng dụng chính sách
marketing – mix cho thị trường khách
Trung Quốc của Công ty Cổ phần Dịch vụ
Du lịch Đường sắt Hà Nội LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Đời sống của con người ngày càng được nâng cao, do đó giờ đây họ không chỉ
sống và làm việc vì mục tiêu sinh tồn mà ngày càng hướng đến những nhu cầu cao
hơn. Những nhu cầu vui chơi giải trí để giải tỏa căng thẳng và mong muốn thoát khỏi
những lo toan của cuộc sống thường nhật đang ngày càng được nhiều người quan tâm.
Một chuyến đi xa hay đi du lịch đến một vùng đất mới để nghỉ ngơi, khám phá và tìm
hiểu được xem là một giải pháp lý tưởng nhất.
Năm 2008, nước ta đã đón 4,25 triệu lượt khách quốc tế đến thăm quan du lịch

khách.
3. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề được thực hiện với phương pháp diễn giải, phân tích, tổng hợp, so
sánh trên cơ sở sử dụng những số liệu thống kê, bảng, biểu, mô hình và các tài liệu
tham khảo được thu thập từ Công ty, internet, các tạp chí chuyên ngành… về mặt lý
thuyết và thực tiễn, từ đó nhằm đưa ra được những đánh giá và kết luận chính xác về
vấn đề cần nghiên cứu
4. Đối tượng nghiên cứu
Các chính sách marketing – mix mà Công ty đã và đang áp dụng tại thị trường
khách du lịch Trung Quốc.
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài được chia làm 3 chương chính như sau:
Chương I: Ứng dụng chính sách marketing hỗn hợp vào thị trường khách du
lịch của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
Chương II: Đánh giá chính sách marketing hỗn hợp cho thị trường khách
Trung Quốc của Công ty Cổ phần & Dịch vụ Du lịch Đường sắt Hà Nội Chương III: Một số biện pháp nhằm thu hoàn thiện chính sách marketing hỗn
hợp cho thị trường khách Trung Quốc của Công ty Cổ phần Dịch vu Du lịch Đường
sắt Hà Nội


định nghĩa khác của các tổ chức, Hội nghị quốc tế để có thể có cái nhìn tổng quan và
chính xác hơn nữa về vấn đề này.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (Word Tourism Organization) năm 1968 đã
chấp nhận định nghĩa khách du lịch như sau: “Một khách du lịch là một người từ quốc
gia này đi tới một quốc gia khác với một lý do nào đó, có thể kinh doanh, thăm viếng
hoặc làm một việc gì khác” (ngoại trừ hành nghề hay lĩnh lương).
Năm 1963, định nghĩa khách du lịch được hình thành tại Hội nghị Roma do
Liên Hợp Quốc tổ chức về các vấn đề du lịch và đi lại quốc tế. Theo Hội nghị “Khách
du lịch quốc tế là những người thăm và lưu lại một quốc gia ngoài nước cư trú thường
xuyên của mình trong thời gian ít nhất 24 giờ, vì bất cứ lý do nào, ngoài mục đích
hành nghề để nhận thu nhập”.
Theo điều 4 chương I luật Du lịch Việt Nam ban hành tháng 6/2005 lại cho
rằng: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học,
làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
Nhìn chung, các định nghĩa trên đều đã phần nào cho chúng ta hiểu được khách
du lịch là những ai căn cứ vào thời gian lưu trú, mục đích chuyến đi của họ. Cụ thể
hơn, khách du lịch còn được chia thành hai loại: Du khách là khách du lịch, lưu trú tại
một quốc gia trên 24 giờ đồng hồ và ngủ qua đêm ở đó, với lý do kinh doanh, thăm
viếng hay làm một việc gì khác”; Khách tham quan là khách du lịch đến viếng thăm ở
một nơi nào đó dưới 24 giờ đồng hồ và không ở lại qua đêm, với lý do kinh doanh,
thăm viếng hay làm một việc gì khác”. Việc phân chia một cách rõ ràng như trên sẽ
giúp cho các công ty lữ hành du lịch có những quyết định rõ ràng trong chiến lược
kinh doanh, giúp các cơ quan Nhà nước có những chính sách phù hợp trong cách quản
lý. Do du lịch là một ngành có nhiều điểm khác biệt, bao gồm nhiều thành phần tham
gia tạo thành một tổng thể trong suốt quá trình cung ứng dịch vụ, hơn nữa hoạt động
du lịch vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế, nó lại có cả đặc điểm của ngành văn hoá
– xã hội, chính vì thế để có một định nghĩa chuẩn về khách du lịch là rất khó, chúng ta
có thể hiểu một cách đơn giản như sau: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư
trú thường xuyên của mình một thời gian và đi đến nơi khác với nhiều mục đích khác
Với mong muốn tìm hiểu về mục đích đi du lịch của khách để qua đó kích thích
tiêu dùng sản phẩm du lịch, các doanh nghiệp lữ hành đã phân chia khách du lịch
thành các loại như sau:
 Khách du lịch thuần tuý: đây là khách đi du lịch chỉ với mục đích tham quan,
nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu văn hoá, nâng cao hiểu biết và nhận thức về những đất
nước khác mà mình đặt chân đến. Họ thường thích đến những nơi có nhiều cảnh đẹp,
có nền văn hoá phong phú, giàu bản sắc dân tộc, có nhiều điểm mới lạ, hấp dẫn mà ở
đất nước họ không có để trải nghiệm, tìm hiểu và khám phá. Chính vì thế, những
khách du lịch đi với mục đích này họ thường nhạy cảm với giá và quan tâm đến vấn đề
thời vụ du lịch.
 Khách du lịch công vụ: là những khách du lịch đi với mục đích nghề nghiệp
như hội họp, công tác, kinh doanh, tìm kiếm cơ hội đầu tư, khảo sát thị trường… trong
khi giải quyết công việc, họ thường kết hợp đi tham quan du lịch. Đặc điểm của khách
này là họ thường chọn những tour dài ngày trải dài từ Bắc vào Nam, ở những khách
sạn cao cấp hay gần những trung tâm thương mại, những khu kinh tế, khả năng thanh
toán lớn và không quan tâm nhiều đến giá cả, cũng như vấn đề thời vụ.
 Khách đi vì mục đích khác như nghiên cứu, chữa bệnh, chuyển giao hay
những lý do khác, nhưng họ vẫn tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí khi họ có
thời gian rảnh rỗi và họ vẫn sử dụng các dịch vụ du lịch.
Nhìn chung, một người đi du lịch không đơn thuần vì một mục đích duy nhất,
mà thường kết hợp với các mục đích khác, trong đó có một mục đích chính. Yêu cầu
đặt ra đối với các công ty lữ hành du lịch là cần nắm bắt được mục đích chính trong
chuyến đi của du khách để từ đó có thể cung cấp những chương trình trọn gói phù hợp
nhất.
c. Theo giới tính
Đặc điểm tâm lý của nam và nữ rất khác nhau, điều đó ảnh hưởng khá lớn đến
hành vi tiêu dùng sản phẩm du lịch của họ. Nữ giới thường khá nhạy cảm về giá, quan
tâm đến các dịch vụ làm đẹp kèm theo trong tour, thích mua sắm, thích ở những nơi

…nhưng ngoại trừ mục đích kiếm sống tại nơi đến. + Khách du lịch quốc tế đến bao gồm những người đang sống trong một quốc
gia đi du lịch nước ngoài.
+ Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài gồm những người đang sống trong một
quốc gia đi du lịch nước ngoài.
 Khách du lịch trong nước: bao gồm những người là công dân của một quốc
gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của một quốc gia đó đi du lịch
trong nước.
 Khách du lịch nội địa: bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch
quốc tế đến.
 Khách du lịch quốc gia: bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch
quốc tế ra nước ngoài.
Theo Quy chế quản lý lữ hành của Tổng cục Du lịch Việt Nam 1995 thì:
 Khách du lịch quốc tế: là những người nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài đến Việt Nam không quá 24 tháng với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng,
hành hương, thăm thân, bạn bè, tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh…
 Khách du lịch trong nước: là công dân Việt Nam rời khỏi nơi ở của mình
không quá 12 tháng, đi tham quan, nghỉ dưỡng, hành hương, thăm người thân, bạn bè,
kinh doanh…trên lãnh thổ Việt Nam.
Theo điều 34 chương V luật Du lịch Việt Nam ban hành năm 2006, đã chia
khách du lịch ra thành khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
 Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
 Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt
Nam ra nước ngoài du lịch.
Phân loại khách du lịch theo tiêu thức sẽ giúp doanh nghiệp lữ hành cũng như
Nhà nước thống kê được lượng khách du lịch, qua đó thống kê được doanh thu của các

ra. + Văn phòng đại diện du lịch quốc gia là cơ quan chuyên trách hoạt động
marketing về du lịch của chính phủ ở nước ngoài, văn phòng này sẽ tổ chức các dịch
vụ du lịch, hội chợ du lịch với sự cộng tác của các công ty lữ hành, tiến hành các hoạt
động xúc tiến, quảng bá du lịch và cung cấp những thông tin về du lịch trong nước cho
thị trường địa phương nơi văn phòng được thiết lập. Chính vì thế nó có vai trò rất quan
trọng trong kênh phân phối của các doanh nghiệp lữ hành.
g. Theo một số tiêu thức khác
 Theo độ tuổi và chu kỳ gia đình: Sở thích, thói quen, nhu cầu, thời gian đi du
lịch ở mỗi độ tuổi và chu kỳ gia đình là rất khác nhau. Ví dụ, người già thường kỹ tính
hơn thanh niên, các gia đình trẻ thì thích đi tham quan ở những nơi có cảnh đẹp, còn
người già thì thích đi tìm hiểu các nét văn hoá truyền thống…
 Theo nghề nghiệp, học vấn, thu nhập, khả năng thanh toán: Nghề nghiệp học
vấn của mỗi người sẽ ảnh hưởng đến nhận thức, nhu cầu đi du lịch, hơn nữa thu nhập
cũng sẽ ảnh hưởng nhiều đến khả năng thanh toán cho chuyến đi. Khi biết được khả
năng thanh toán của khách, công ty sẽ lựa chọn được các dịch vụ cung cấp để có giá
tour phù hợp với du khách nhất. Đặc biệt, doanh nghiệp cũng cần xem xét rằng nguồn
chi phí khách bỏ ra đi du lịch có được do khách tự bỏ tiền ra hay được tài trợ từ nguồn
khác.
 Phân loại theo đặc điểm tâm lý – xã hội: Giai tầng xã hội có ảnh hưởng rất
lớn đến việc lựa chọn sản phẩm du lịch. Những người ở giai tầng cao thường có khả
năng chi trả lớn cho nên họ hay lựa chọn những tour du lịch đắt tiền và đòi hỏi chất
lượng dịch vụ cao. Ngược lại những người ở giai tầng thấp thường bằng lòng với
những gì được cung ứng và ít có những đòi hỏi. Lối sống và phong cách cũng có ảnh
hưởng khá quan trọng đến chu kỳ sống của một sản phẩm du lịch. Đối với những sản
phẩm du lịch mới được đưa ra thị trường thì nên nhằm đến những người tiên phong,
những người luôn muốn thử nghiệm những cái mới thì sẽ có hiệu quả hơn. Khi sản
phẩm đã ở giai đoạn bão hoà thì lại hướng đến những người có xu hướng thích theo số

Một chương trình du lịch là một tổng thể bao gồm rất nhiều các dịch vụ cung
ứng cho du khách trong suốt quá trình tiêu dùng sản phẩm. Hơn nữa, khi đi du lịch,
khách du lịch thường kết hợp nhiều mục đích với nhau, chính vì thế có rất nhiều những
nhu cầu trong quá trình đi du lịch cần được thoả mãn một cách tốt nhất, nếu đáp ứng
được sẽ đem lại cho doanh nghiệp doanh thu và uy tín trên thị trường.
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc bộ môn kinh tế du lịch khoa du lịch và
khách sạn trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội thì có thể chia nhu cầu du lịch của
du khách thành các loại như sau:
- Nhu cầu đi lại
- Nhu cầu lưu trú và ăn uống
- Nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí
- Các nhu cầu khác
Theo tháp nhu cầu của Maslow thì nhu cầu ăn uống, lưu trú và đi lại là nhu cầu
cần được thoả mãn đầu tiên vì đó là nhu cầu thiết yếu của con người, từ đó mới có thể
thoả mãn nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí. Có thể nói nhu cầu cảm thụ cái đẹp và
giải trí là nhu cầu đặc trưng trong khi đi du lịch của bất kỳ du khách nào, còn các nhu
cầu khác sẽ phát sinh tuỳ thuộc vào mục đích đi du lịch của từng người.


Nhu cầu đi lại
Đây là nhu cầu cần được giải quyết đầu tiên do đặc điểm của du lịch là khách
hành cần phải dời khỏi nơi lưu trú thường xuyên và đi đến ít nhất một địa điểm trong
chương trình du lịch. Việc di chuyển từ nơi ở đến địa điểm du lịch, di chuyển từ điểm
du lịch này sang điểm du lịch khác để tiêu dùng sản phẩm du lịch là điều tất yếu, nó
được coi là tiền đề để có thể thực hiện các nhu cầu khác. Nhu cầu đi lại chịu ảnh
hưởng của một số yếu tố như: khoảng cách, mục đích chuyến đi, khả năng thanh toán
(ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương tiện vận chuyển), thói quen tiêu dùng, sự an
toàn, thuận tiện trong di chuyển và tình trạng sức khoẻ của khách…





Các nhu cầu khác
Tuỳ theo mục đích của chuyến đi mà sẽ có thêm những dịch vụ phát sinh khác
kèm theo như dịch vụ làm đẹp, chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ tư vấn làm visa, đặt phòng
khách sạn, mua quà lưu niệm… Đây chỉ là những dịch vụ kèm theo trong chương trình du lịch nhằm thoả mãn tốt hơn nhu cầu của du khách, tuy nhiên nó cũng cần đảm bảo
một số yêu cầu sau: không ảnh hưởng đến lịch trình du lịch, không gây phiền hà cho
khách, giá cả hợp lý…
Khi mà sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt thì việc đa dạng hoá các
loại hình dịch vụ nhằm tạo ra sự khác biệt và đảm bảo một quá trình cung ứng dịch vụ
hoàn hảo ngày càng được các công ty lữ hành quan tâm nhằm thu hút khách và giữ
chân khách, đây có lẽ là điều không thể thiếu trong chiến lược kinh doanh của các
công ty lữ hành trong thời điểm hiện tại và tương lai.
1.2. Các chính sách marketing hỗn hợp trong kinh doanh du lịch
1.2.1. Chính sách sản phẩm
1.2.1.1. Khái niệm sản phẩm du lịch, các quyết định về sản phẩm trong
lĩnh vực du lịch
Theo quan điểm marketing thì “Sản phẩm du lịch là những hàng hoá và dịch vụ
có thể thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào
bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng của khách du
lịch”.
Các quyết định về sản phẩm du lịch rất quan trọng bởi nó có vai trò quyết định
đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và chi phối các chính sách marketing khác của
doanh nghiệp kinh doanh lữ hành. Chính sách sản phẩm sẽ liên quan đến các quyết
định về số lượng sản phẩm, chủng loại sản phẩm, bề rộng của sản phẩm, danh mục sản
phẩm; các quyết định về thiết kế sản phẩm mới; các vấn đề liên quan đến tên hiệu sản
phẩm hay thương hiệu doanh nghiệp; các nghiên cứu về chu kỳ sống của sản phẩm…

- Sản phẩm du lịch có tính tổng hợp cao: Do du khách khi đi du lịch luôn muốn
thoả mãn cũng lúc rất nhiều nhu cầu, chính vì thế sản phẩm du lịch thường bao hàm
nhiều sản phẩm khác nhau như sản phẩm cơ bản, sản phẩm đặc trưng, sản phẩm bổ
sung. Tất cả những sản phẩm này đều nhằm mục đích thoả mãn tốt nhất nhu cầu tổng
hợp của khách hàng. Tuy nhiên, để có thể cung cấp tất cả các sản phẩm này, đòi hỏi
doanh nghiệp kinh doanh lữ hành du lịch phải thiết lập và duy trì được mối quan hệ
bền vững với các đối tác trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch. - Sản phẩm du lịch không thể di chuyển: Do doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
vừa là nơi sản xuất, vừa là nơi cung ứng dịch vụ nên sản phẩm du lịch thuộc loại
không thể di chuyển được, khách hàng muốn tiêu dùng sản phẩm du lịch thì phải tìm
đến doanh nghiệp. Chính vì thế, doanh nghiệpdu lịch cũng như các điểm du lịch cần
phải đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, quảng bá để có thể thu hút du khách đến với
mình.
- Sản phẩm du lịch có tính thời vụ: Đây có thể nói là đặc trưng mang tính điển
hình trong kinh doanh du lịch. Ví dụ các khách sạn ở biển thường vắng khách vào mùa
đông những lại đông khách vào mùa hè, Chùa Hương thường nhộn nhịp du khách đến
tham quan từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch,… Có thể nói tính thời vụ ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có
những chính sách marketing thích hợp trong từng thời điểm để có thể làm giảm tối đa
sự bất lợi do cung cầu mất cân đối mà tính thời vụ đem lại.
1.2.1.3. Quy trình tạo ra sản phẩm mới
Theo quan điểm marketing, sản phẩm mới có thể là sản phẩm mới hoàn toàn.
Ví dụ như một chương trình du lịch hoàn toàn mới được xây dựng của công ty.
Sản phẩm mới cũng có thể là sản phẩm được cải tiến từ các sản phẩm cũ hiện
có. Ví dụ như thêm các dịch vụ kèm theo như dịch vụ làm đẹp, chăm sóc sức
khoẻ…hoặc thay đổi lịch trình trong các tour có sẵn tại công ty cho phù hợp với nhu
cầu của du khách.
Sản phẩm mới cũng có thể hiểu trên góc độ khi nó xâm nhập vào một phân

Hình thành ý tưởng
Lựa chọn ý tưởng
Soạn thảo và thẩm định dự án sản
phẩm mới
Soạn thảo chiến lược Marketing
cho sản phẩm mới
Thiết kế sản phẩm mới
Thử nghiệm trong điều kiện thị
trường
Triển khai sản xuất hàng loạt và
quyết định đưa sản phẩm mới ra thị
trường Hình 1.1. Các bước cơ bản trong quá trình triển khai sản phẩm mới

- Hình thành ý tưởng: Ý tưởng về sản phẩm mới được hình thành thông qua
việc nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng , từ các nhân viên trong công
ty, các chuyên gia…nó phải tạo ra được ưu thế đặc biệt nào đó so với sản phẩm của
đối thủ cạnh tranh hoặc tạo ra sự thoả mãn hay hài lòng nào đó cho khách hàng.
- Lựa chọn ý tưởng: Đây là bước nhằm phát hiện, sàng lọc và thải loại những ý

1.2.2.1. Mục tiêu của chính sách giá
Chính sách giá thường đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ra quyết định
mua sản phẩm của khách hàng, và tất cả các tổ chức hoạt động kinh doanh đều đứng
trước nhiệm vụ xác định giá cho sản phẩm của mình. Trong kinh doanh lữ hành du
lịch, chính sách giá của doanh nghiệp có hai mục tiêu chính sau:
- Lợi nhuận tối đa: đây là mục tiêu của bất cứ doanh nghiệp nào khi tham gia
kinh doanh đều muốn đạt được. Khi doanh nghiệp đưa những sản phẩm mới ra chào
bán, hoặc khi bước vào mùa du lịch, việc doanh nghiệp tăng giá bán tour sẽ đem lại
cho doanh nghiệp doanh thu và lợi nhuận tối đa.
- Khối lượng bán hay khối lượng khách tối đa
Trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện này, việc tối đa khối
lượng bán tour của các doanh nghiệp lữ hành ngày càng gặp khó khăn, nhất là khi vào
những mùa thấp điểm. Chính vì thế, việc hạ giá tour trong lúc này sẽ giúp doanh
nghiệp tăng khối lượng bán, tuy nhiên cũng không nên hạ nhiều mà cần có sự so sánh
với giá của đối thủ cạnh tranh, tránh trường hợp làm cho khách hàng nghĩ rằng giá
thấp nghĩa là chất lượng dịch vụ kém. 1.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá
Chính sách giá chịu ảnh hưởng từ rất nhiều các yếu tố bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp như:
 Các yếu tố bên trong
- Mục tiêu của doanh nghiệp: Mỗi một mục tiêu của doanh nghiệp sẽ xác định
vai trò và nhiệm vụ của mức giá mà doanh nghiệp đưa ra. Ví dụ khi vào mùa lễ hội,
công ty nhận thấy nhu cầu đi du lịch tăng lên có thể thực hiện được mục tiêu về lợi
nhuận thì có thể xác định giá theo xu hướng giá cao.
- Giá cả và các chính sách marketing – mix: Giá cả là một trong những công cụ
trong marketing – mix giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh, vì thế nó phải
được phối hợp nhịp nhàng với các chữ P khác. Ví dụ khi doanh nghiệp muốn thực hiện
các chương trình khuyến mãi để tăng khối lượng bán tour, cần áp dụng các hình thức

gắn liền với sự tiêu dùng riêng biệt của từng khách du lịch
Giá thành cho một hành khách
z = VC + FC/Q
Tổng chi phí cho cả đoàn khách
Z
CD
= VC x Q + FC
Hoặc = z.Q
Trong đó:
z: giá thành cho một khách
Z: Tổng chi phí cho cả đoàn khách
Q: Số thành viên trong đoàn
FC: Tổng chi phí cố định tính cho cả đoàn
VC: Tổng chi phí biến đổi tính cho một khách
Xác định giá thành theo khoản mục chi phí: Phương pháp này tính giá thành
bằng cách nhóm toàn bộ các chi phí phát sinh vào một số khoản mục chủ yếu như
bảng sau:
STT

Nội dung chi phí Phí biến
đổi
Phí cố
định 1 Vận chuyển (ô tô) *
2 Khách sạn (ngủ) *
3 Ăn uống *
4 Phương tiện tham quan (tàu thuỷ, ô tô…) *
5 Vé tham quan *

G = Z + Cb + Ck + P + T
Trong đó:
Z: Giá thành tính cho một khách
P: Khoản lợi nhuận dành cho doanh nghiệp lữ hành
Cb: Chi phí bán bao gồm hoa hồng cho các đại lý, chi phí khuyếch
trương
Ck: Các chi phí khác: chi phí quản lý, chi phí thiết kế chương trình, chi
phí khấu hao, dự phòng, marketing, thuê văn phòng
T: Các khoản thuế (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng)
Đây chỉ là công thức tổng quát để tính giá bán, trong những trường hợp cụ thể,
doanh nghiệp có thể có một số thay đổi và điều chỉnh sao cho phù hợp với hoàn cảnh
và nhu cầu của khách hàng, đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường và quan trọng
nhất là thu được lợi nhuận.
1.2.3. Chính sách phân phối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status