Báo cáo tốt nghiệp
Cho vay của Chi nhánh Thăng Long đối với các
DNNQD và Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long
Lời nói đầu
Luật doanh nghiệp ra đời (Quốc hội thông qua Ngày 12/6/1999) đã mở đường
cho kinh tế ngoài quốc doanh phát triển . Sau gần 4 năm kể từ khi Luật doanh
nghiệp có hiệu lực, cả nước đã có thêm gần 72.000 doanh nghiệp ngoài quốc
doanh (DNNQD) mới được thành lập. Một con số gần gấp đôi số DNNQD đã có
trước đó . Đó là một dấu hiệu tốt đẹp đối với kinh tế Việt Nam nói chung và đối
với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.
Tuy nhiên, hầu hết các DNNQD đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ
khoảng 95%, số doanh nghiệp có số vốn dưới 500 triệu chiếm đến 95%, số
doanh nghiệp có số vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm có khoảng 1,4%. Để các
DNNQD tồn tại và phát triển mạnh trong kinh tế thị trường thì các doanh
nghiệp này cần một lượng vốn rất. Tuy nhiên, việc tiếp cận các nguồn vốn trong
đó có nguồn vốn rất quan trọng vay từ ngân hàng của các DNNQD hiện nay là
rất khó khăn do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Sau gần 4 năm học tập tại Khoa Ngân hàng – Tài chính, Trường Đại học Kinh
tế quốc dân – Hà Nội và một thời gian ngắn thực tập tại NHNo&PTNT Việt
Nam – Chi nhánh Thăng Long, em viết đề tài này với mục đích làm sáng tỏ một
số những nguyên nhân làm các DNNQD gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn
vốn ngân hàng ở Chi nhánh Thăng Long .
Đề tài này gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
- Vài nét về các DNNQD và Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long.
chung của kinh tế đất nước.
Thứ hai, đa số các DNNQD đều mới được hình thành.
Trước đây trong thời kỳ kế hoạch hoá, tập trung thì Nhà nước độc quyền trong
mọi lĩnh vực kinh tế, các thành phần kinh tế phi Nhà nước đều bị coi là bất hợp
pháp nên không có một DNNQD chính thức được hoạt động. Cùng với sự phát
triển đi lên của kinh tế xã hội thì Đảng và Nhà nước đã khuyến khích mọi thành
phần kinh tế phát triển nhất là thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Khi đó các
DNNQD mới có điều kiện để phát triển mạnh mẽ. Như phần trên đã nói, chỉ
trong vòng 4 năm gần đây con số các DNNQD được thành lập mới là khoảng
72000 doanh nghiệp, gần gấp đôi so với số doanh nghiệp thành lập trước đó.
Như vậy, hầu hết các doanh nghiệp này dưới 4 tuổi, doanh nghiệp lớn tuổi nhất
mới chỉ là 15 năm. Một con số quả nhỏ bé nếu so với các doanh nghiệp ở nước
ngoài có những doanh nghiệp được thành lập từ hàng trăm năm nay.
Thứ ba, các DNNQD tuy đông về số lượng nhưng quy mô vốn và lao động nhỏ.
Mặc dù có số lượng lớn và có tốc độ tăng trưởng cao như đã nêu ở trên
nhưng đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ( Chiếm khoảng 95% ), số doanh
nghiệp có số vốn dưới 500 triệu chiếm đến hơn một nửa (51 %), còn số doanh
nghiệp có vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 1,4%. Do các doanh nghiệp ít
vốn như vậy nên các doanh nghiệp này hoạt động rất khó khăn nhất là khó khăn
trong chống đỡ với các biến động bất lợi trong sản xuất, kinh doanh. Do đó khả
năng phá sản của các này là rất lớn.
Quy mô lao động thì nhỏ bé, trung bình mỗi DNNQD sử dụng khoảng 20 lao
động, số doanh nghiệp sử dụng trên 100 lao động chỉ từ 600 đến 700 doanh
nghiệp mà đa số lao động này chưa có trình độ chuyên môn, kỹ thuật (Chiếm
đến 83%).
Thứ tư, trình độ công nghệ và quản lý lạc hậu.
Theo điều tra ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì chỉ có 17% thiết bị
hiện đại, 52% thiuết bị trung bình còn lại là các thiết bị lạc hậu. Riêng ngành
công nghiệp sản xuất, chế tạo thì có đến 62% máy móc, thiết bị lạc hậu từ những
năm 50, 60. Công nghệ lạc hậu dẫn đến sản phẩm hàng hoá, dịch vụ có giá thành
hội nước ta những năm gần đây, ta có những nhận xét trên 2 góc độ ưu điểm và
nhược điểm sau :
1.1.3.1.Những ưu điểm.
Thứ nhất, các DNNQD có những đóng góp lớn vào phát triển kinh tế đất nước.
Các DNNQD hoạt động trong hầu hết những nghành, những lĩnh vực kinh tế:
Nông nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực thương
mại, dịch vụ. Các DNNQD hoạt động linh hoạt, thích ứng nhanh, đáp ứng nhanh
những nhu cầu của thị trường góp phần làm cho các hoạt động kinh tế trở lên
linh động, làm thay đổi diện mạo nền kinh tế. Theo các nhà kinh tế ước tính thì
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay đóng góp đến 42% vào tổng sản
phẩm quốc nội (GDP ) và đóng góp vào tăng trưởng GDP cao hơn so với thành
phần kinh tế Nhà nước. Đặc biệt từ năm 2001 trở lại đây, chỉ số đóng góp vào
GDP của các DNNQD trung bình hàng năm tăng hơn 10%.
Tốc độ tăng trưởng của các thành phần kinh tế.
(Năm trước bằng 100%) Đơn vị tính : %
Thành phần kinh tế 1995 1999 2000 2001 2002
Tốc độ tăng trưởng chung
Trong đó :
- DNNN
- DN tư nhân
- DN hỗn hợp
109,5
109,4
109,3
112,7
104,8
102,6
103,2
nước cần nắm giữ độc quyền, còn lại hầu hết các ngành các lĩnh vức sản xuất
kinh doanh đều có sự tham gia của các thành phần kinh tế khác. Điều này bắt
buộc khu vực kinh tế Nhà nước phải tổ chức, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công
nghệ, đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh nếu muốn tồn tại và phát
triển. Các DNNQD vừa là đối tác làm ăn, vừa là đối thủ cạnh tranh với các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nên nó là nhân tố quan trọng
thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển.
Thứ ba, các DNNQD góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH – HĐH.
Một cơ cấu kinh tế hiện đại là cơ cấu kinh tế có tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ cao trong GDP. Các DNNQD hoạt động trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
trong thương mại và dịch vụ do đó nó là trung gian, là chiếc cầu nối để chuyển
dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Bởi vì : Khi doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ thì nó sẽ trực tiếp đóng góp
vào lĩnh vực này, ngoài ra nó còn cung cấp cho nông nghiệp máy móc, phân
bón, thuốc trừ sâu làm nâng cao năng suất trong lĩnh vực nông nghiệp . Khi
đó lao động trong nông nghiệp sẽ dư thừa và chuyển sang lĩnh vực công nghệp
và dịch vụ.
Thứ tư, các DNNQD phát huy tốt các nguồn lực của nền kinh tế.
Kinh tế Nhà nước không thể bao quát tất cả, không thể phát huy hết mọi nguồn
lực của nền kinh tế .
- Có thể nói tiềm lực đầu tiên mà các DNNQD huy động đó chính là nguồn
vốn rất lớn trong dân cư. ở nước ta lượng vốn trong dân cư rất lớn mà thành
phần kinh tế Nhà nước không thể huy động hết, trong những năm gần đây
cùng với sự gia tăng mạnh mẽ số DNNQD là số vốn đăng ký thêm rất lớn.
Chỉ trong 4 năm gần số vốn đăng ký thêm của các DNNQD là 144.000 tỷ
đồng, chưa kể số vốn vay của các doanh nghiệp này.
- Tiềm lực thứ 2 mà các doanh nghiệp này khơi dậy đó chính là lực lượng
lao động. Trước đây có đến 80% lực lượng lao động là trong lĩnh vực nông
nghiệp, làm việc chủ yếu là thủ công, năng suất thấp, con số thất nghiệp thực
doanh.
1.2.1.Quan niệm về mở rộng cho vay.
Cho vay, là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận theo
nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Mở rộng cho vay của ngân hàng đối với các DNNQD chính là phản ánh sự gia
tăng khối lượng cho vay đối vớ các DNNQD cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
- Mở rộng theo chiều rộng tức là sự tăng lên về quy mô của đối tượng, của các
khoản vay như: số dư nợ tăng lên, số khách hàng tăng lên
- Mở rộng theo chiều sâu là sự thay đổi về tính chất, cơ cấu theo hướng hợp lý
của các khoản vay như: Cơ cấu của các khoản vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
hợp lý; Tỷ trọng dư nợ của các DNNQD so với các thành phần kinh tế khác
1.2.2.Nội dung của mở rộng cho vay các DNNQD .
Nội dung của mở rộng được phản ánh thông qua các chỉ tiêu về dư nợ (số dư
nợ, tỷ trọng dư nợ, cơ cấu của dư nợ, tốc độ tăng dư nợ, sự thay đổi cơ cấu, tỷ
trọng dư nợ và chỉ tiêu về nợ quá hạn); về số doanh nghiệp có quan hệ vay vốn
với ngân hàng; về sự đa dạng các hình thức cho vay, sự đa dạng các hình thức
bảo đảm.
1.2.2.1.Các chỉ tiêu về dư nợ.
- Số dư nợ của các DNNQD phản ánh số tiền mà ngân hàng đã và vẫn đang còn
cho vay các DNNQD. Số dư nợ mà càng lớn phản ánh mức độ mở rộng cho vay
các đối tượng là DNNQD càng cao. Tuy nhiên, nghiên cứu mở rộng cho vay ta
phải đặt trong mối quan hệ với các thành phần khác, đặt trong mối quan hệ về
thời gian. Chính vì vậy mà số dư nợ không thể phản ánh hết thực chất của việc
mở rộng cho vay các DNNQD của ngân hàng mà phải xem xét đồng thời các chỉ
tiêu, các khía cạnh khác nhau của mở rộng cho vay.
- Tốc độ tăng dư nợ là tỷ lệ số dư nợ năm sau cao hơn năm trước so với số dư nợ
năm trước. Tốc độ này phản ánh mức độ mở rộng cho vay nhanh hay chậm của
ngân hàng. Nếu tỷ lệ này dương có thể kết luận rằng thời điểm sau đã có sự mở
rộng cho vay so với thời điểm trước, và nếu qua thời gian tỷ lệ này tăng dần thì
cầu vốn nào tăng cũng là dấu hiệu tốt đối với các DNNQD. Miễn là, các doanh
nghiệp sử dụng loại vốn nào có hiệu quả, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và
ngân hàng thì tỷ trọng dư nợ ngắn hạn tăng hay tỷ lệ dư nợ trung và dài hạn tăng
cũng đều hợp lý và là sự mở rộng cho vay các DNNQD. Chẳng hạn, do đầu tư
mở rộng sản xuất nên các doanh nghiệp có hiệu quả cao nên nhu cầu vay vốn
trung và dài hạn của các doanh nghiệp này tăng cao làm tỷ trọng dư nợ trung và
dài hạn tăng cao, mặc dù có thể tổng dư nợ không tăng nhưng có sự chuyển dịch
theo nhu cầu của các DNNQD từ vay ngắn hạn sang vay dài hạn thì đó cũng là
sự mở rộng cho vay.
- Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn. Nợ quá hạn của các DNNQD là toàn bộ số dư
nợ (cả gốc và lãi) của các DNNQD đã đến hạn thanh toán nhưng các doanh
nghiệp này không thanh toán mà chưa được xử lý cho gia hạn nợ, xoá nợ… Tỷ
lệ nợ quá hạn của các DNNQD là tỷ lệ giữa số dư nợ quá hạn trên tổng dư nợ
của các doanh nghiệp này. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn không trực tiếp phản ánh sự
mở rộng cho vay các DNNQD nhưng nó rất quan trọng trong đánh giá sự an
toàn và hiệu quả của mở rộng cho vay. Mục tiêu của hoạt động ngân hàng là an
toàn và hiệu quả do đó việc mở rộng cho vay cũng cần phải đảm bảo hiệu quả
nên người ta thường khống chế mức nợ quá hạn dưới một mức nào đó chứ
không phải là mở rộng bằng mọi giá.
1.2.2.2.Số DNNQD vay vốn ở ngân hàng.
Đó chính là số lượng các DNNQD có quan hệ vay vốn của ngân hàng trong một
thời gian nhất định thường là một năm. Số lượng các doanh nghiệp là con số cụ
thể nhất phản ánh quá trình mở rộng cho vay các doanh nghiệp của ngân hàng.
Nghiên cứu quá trình mở rộng thông qua số doanh nghiệp cũng cần phải xem
xét quá trình gia tăng của số doanh nghiệp vay vốn, đồng thời cũng phải xem sự
biến động về số tiền mỗi làn vay vốn. Qua đó có thể đánh giá một cách bao quát
việc mở rộng cho vay của ngân hàng.
1.2.2.3.Đa dạng các hình thức cho vay.
Đa dạng các hình thức cho vay chính là việc ngân hàng sử dụng nhiều hình thức
cho vay. Việc đa dạng các hình thức cho vay đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng, cũng
- Xác định hạn mức tín dụng .
Ngân hàng sau khi nhận đủ các tài liệu của doanh nghiệp, nếu đồng ý thì ngân
hàng xác định hạn mức tín dụng:
Nhu cầu vốn Doanh thu hoặc chi phí sản xuất kinh doanh (KH)
lưu động kỳ =
kế hoạch Vòng quay vốn lưu động trong kỳ (KH)
Hạn mức Nhu cầu vốn Vốn tự có vốn khác
tín dụng = lưu động - của khách - (nếu có )
(KH) trong kỳ (KH) hàng tham gia
Tổng doanh thu thuần
Số vòng quay của vốn lưu động =
Vốn huy động bình quân
Vốn tự có tham gia được xác định là toàn bộ vốn chủ sở hữu bên nguồn vốn của
bảng cân đối kế toán hoặc vốn hoạt động thuần (Tài sản lưu động trừ đi nợ ngắn
hạn)
- Phát tiền vay: Trong phạm vi hạn mức tín dụng, thời gian hiệu lực của hợp
đồng tín dụng, mỗi lần vay vốn doanh nghiệp và ngân hàng lập giấy nhận nợ
kèm theo các chứng từ phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín
dụng. Việc theo dõi phát tiền vay trên giấy nhận nợ phải cùng đồng thời theo dõi
trên phụ lục hợp đồng tín dụng .
- Lãi suất cho vay: Căn cứ vào quy định lãi suất của Tổng giám đốc
NHNo&PTNT Việt Nam, Chi nhánh Thăng Long và khách hàng thoả thuận để
ghi vào hợp đồng tín dụng hoặc giấy nhận nợ kèm theo hợp đồng tín dụng
- Quản lý hạn mức tín dụng :
- Chi nhánh Thăng Long phải quản lý chặt chẽ hạn mức tín dụng, bảo
đảm mức cho vay không vượt quá hạn mức đã ký kết .
- Trong quá trình vay vốn, trả nợ, nếu việc sản xuất, kinh doanh có thấy
Phương thức này hiện chưa được NHNo&PTNT Việt Nam quy định chi tiết nên
Chi nhánh Thăng Long có nhu cầu thì phải lập đề án trình tổng giám đốc thì mới
được thực hiện .
Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay theo hạn mức
thấu chi, có thu nhập ổn định và có tín nhiệm với ngân hàng .
- Tài khoản thấu chi: Muốn vay theo hình thức này khách hàng phải mở tài
khoản thấu chi tại ngân hàng .
- Số dư trên tài khoản thấu chi có thể dư nợ hoặc dư có. Dư có có nghĩa
là khách hàng đang gửi tiền vào ngân hàng và được hưởng lãi theo lãi suất
tiền gửi không kỳ hạn, dư nợ tài khoản thấu chi có nghĩa là khách hàng
đang vay tiền ngân hàng và phải chịu lãi tiền vay theo thoả thuận.
- Khách hàng phải có cam kết chuyển thu nhập của mình vào tài khoản
thấu chi.
- Khách hàng hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung vầ tính hợp pháp
của các khoản chi của khách hàng trên tài khoản thấu chi .
- Hạn mức thấu chi.
Chi nhánh Thăng Long sau khi nhận đủ hồ sơ của khách hàng nếu đồng ý sẽ
xác định hạn mức thấu chi.
Để bảo đảm an toàn vốn, ngân hàng quy định hạn mức thấu chi với từng
khách hàng, đối tượng vay vốn.
- Thủ tục vay vốn.
- Khách hàng có nhu cầu chi vượt số tiền có trên tài khoản thấu chi của
mình thì lập giấy đề nghị vay tiền, giấy đề nghị vay tiền được lập một lần
cho cả hạn mức thấu chi.
- Trong phạm vi hạn mức thấu chi, mỗi lần rút vốn khách hàng chỉ cần
mang đến ngân hàng các chứng từ : Phiếu chuyển khoản, giấy lĩnh tiền mặt.
Căn cứ vào hạn mức thấu chi, kế toán lập thủ tục cho khách hàng rút vốn
theo quy định.
- Quản lý hạn mức thấu chi.
- Ngân hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện của dự án .
- Mỗi lần rút vốn vay, doanh nghiệp lập giấy nhận nợ tiền vay trong phạm vi
mức cho vay đã thoả thuận, kèm theo các chứng từ xin vay phù hợp với mục
đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng.
- Lãi suất cho vay: Căn cứ thao quy định của Tổng giám đốc NHNo&PTNT
Việt Nam, Chi nhánh Thăng Long và khách hàng thoả thuận ghi vào hợp đồng
tín dụng hoặc giấy nhận nợ kèm theo hợp đồng tín dụng.
- Việc cho vay theo dự án đầu tư, ngân hàng cần phải kết hợp với các hình thức
cấp tín dụng khác như: Thực hiện bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp
đồng, có như vậy ngân hàng mới thu được doanh thu cao nhất.
- Cho vay theo phương thức này thường là các dự án lớn cần có nguồn vốn lớn,
ngân hàng cần có thời gian huy động và trả lãi huy động do vậy ngân hàng và
khách hàng thoả thuận mức phí trả trong trường hợp khách hàng trả trước hạn,
phí cam kết trả một phần chi phí huy động của ngân hàng, trong trường hợp
khách hàng đã ký hợp đồng tín dụng nhưng thực tế không vay.
Cho vay hợp vốn.
Cho vay hợp vốn là việc nhiều tổ chức tín dụng cùng cho vay một dự án của
khách hàng. Cho vay hợp vốn thường xảy ra trong các trường hợp sau:
- Nhu cầu xin vay của khách hàng vượt quá giới hạn cho vay của tổ chức tín
dụng.
- Khả năng tài chính và nguồn vốn của tổ chức tín dụng không đáp ứng đủ nhu
cầu vay của một dự án.
- Nhu cầu phân tán rủi ro của tổ chức tín dụng.
- Bên nhận tài trợ có nhu cầu huy động vốn từ nhiều tổ chức tín dụng khác
nhau.
Chi nhánh Thăng Long cùng với các thành viên đồng tài trợ thống nhất với
nhau về phương thức thẩm định là một trong các phương thức sau:
- Thành lập tổ thẩm định chung.
- Các tổ chức tín dụng tham gia hội đồng tài trợ thẩm định độc lập.
- Thống nhất giao cho tổ chức tín dụng đầu mối thực hiện thẩm định.
thanh khoản cao.
Khi thực hiện cho vay theo hình thức bảo đảm cầm cố ngân hàng kiểm tra tính
tính hợp pháp, hợp lệ, tính an toàn của vật cầm cố như quyền sở hữu của khách
hàng, khả năng chi trả của người cam kết (công ty phát hành chứng khoán, công
ty bảo hiểm ). Ngân hàng và khách hàng thoả thuận định giá vật cầm cố, thoả
thuận và ký hợp đồng cầm cố. Trong đó quy định rõ quyền và nghĩa vụ đối với
các bảo đảm cầm cố như chuyển giao vật cầm cố, nghĩa vụ quản lý vật cầm cố,
quyền phát mại vật cầm cố khi khách hàng vi phạm các cam kết trong hợp đồng
tài trợ
Thế chấp : Là hình thức theo đó doanh nghiệp vay vốn phải chuyển các giấy tờ
chứng nhận quyền về tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời
gian cam kết.
Các tài sản bảo đảm theo hình thức này thường là tài sản tham gia vào quá trính
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (máy móc, thiết bị, hàng hoá ). Những
tài sản này thường cồng kềnh, phân tán, bán hoặc chuyển nhượng khó khăn.
Bảo đảm bằng phương pháp này doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản cho hoạt
động sản xuất, kinh doanh nên quá trình sử dụng có thể làm biến dạng tài sản,
hơn nữa khả năng kiểm soát của ngân hàng gặp nhiều hạn chế nên ngân hàng có
thể gặp nhiều rủi ro hơn so với phương pháp cầm cố. Do đó khi tài trợ ngân
hàng phải xem xét thật kỹ vật thể chấp, trong hợp đồng thế chấp phải có phàn
mô tả vật thế chấp và ngân hàng chỉ cho vay theo tỷ lệ nào đó giá trị vật thế
chấp.
Thứ hai, Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba: Bên bảo lãnh phải có các điều
kiện sau: Có năng lực pháp luật dân sự; có khả năng về vốn; có tài sản để thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Việc bên bảo lãnh cầm cố, thế chấp tài sản hoặc không
cầm cố thế chấp tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là do ngân hàng
và bên bảo lãnh thoả thuận.
Bên thứ ba ở đây thường là các công ty mẹ bảo lãnh vay vốn cho các công ty
thành viên. Bên thứ ba ở đây có thể là các tổ chức tài chính, tiền tệ có uy tín, có
khả năng tài chính thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn.
tăng quy mô vốn của doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
.
Như đã nói ở trên các DNNQD hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần rất
nhiều vốn cả vốn ngắn hạn lẫn vốn trung và dài hạn để duy trì sản xuất, kinh
doanh ; để đầu tư mở rộng sản xuất; đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng sản
phẩm Trước hết ta xem các nguồn mà các DNNQD có thể huy động hiện nay
là:
- Nguồn vốn chủ sở hữu.
Vốn tự có ban đầu: Đây là số vốn mà chủ sở hữu hoặc các thành viên chủ sở
hữu góp lại với nhau khi thành lập doanh nghiệp hình thành nên vốn điều lệ
ban đầu. Như đã nói, trên một nửa các DNNQD có số vốn này dưới 500 triệu.
Vốn từ lợi nhuận để lại: Đây là nguồn vốn chủ sở hữu được bổ sung từ lợi
nhuận doanh nghiệp. Nguồn vốn này không đáng kể bởi vì: Thứ nhất, muốn có
nguồn vốn này thì doanh nghiệp phải có lãi, trong khi đó các doanh nghiệp
thường bị lỗ hoặc lãi rất ít trong những năm đầu hoạt động mà các DNNQD ở
ta hầu hết mới được thành lập trong vòng 4 năm qua. Thứ hai, đây là vấn đề
nhạy cảm, lợi nhuận để lại đồng nghĩa với số lợi nhuận được chia ít hơn cho
các thành viên. Điều này mâu thuẫn với lợi ích trước mắt của các thành viên và
dễ làm tính hấp dẫn của cổ phiếu giảm (đối với các công ty cổ phần) làm ảnh
hưởng xấu đến doanh nghiệp .
Vốn từ phát hành cổ phiếu: Có thể nói đây là ngồn vốn quan trọng và chiếm tỷ
lệ cao ở nhiều nước. Tuy nhiên ở Việt Nam, nguồn vốn này các doanh nghiệp
nhất là các DNNQD rất khó tiếp cận vì: Không phải DNNQD nào cũng được
phát hành cổ phiếu, theo Luật Doanh nghiệp quy định chỉ có công ty cổ phần thì
mới được phát hành cổ phiếu, công ty TNHH thì chỉ được phát hành trái phiếu,
còn doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh thì không được phát hành bất kỳ
loại chứng khoán nào. Hầu hết các DNNQD đều không đủ các tiêu chuẩn, điều
kiện niêm yết trên TTKH chính thức còn thị trường phi chính thức (Thị trường
OTC) chưa được thành lập. Do đó các chứng khoán của các DNNQD khó lưu
thông trên thị trường (tính thanh khoản không cao) cộng với tính rủi ro cao của
DNNQD thì ngân hàng có thể hỗ trợ vốn giúp các doanh nghiệp từng bước nâng
cao khả năng công nghệ thông qua vốn vay trung và dài hạn.
Thứ hai, Mở rộng cho vay khuyến khích các DNNQD sử dụng vốn hiệu quả
hơn.
Hầu như doanh nghiệp cũng sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng vì nó không
những giúp doanh nghiệp đủ vốn để sản xuất, kinh doanh mà còn làm giảm chi
phí vốn. Lãi tiền vay được tính là chi phí hợp lý nên khi tính thuế thu nhập do đó
doanh nghiệp sẽ được hưởng một phần lợi từ thuế. Mặt khác, vay ngân hàng thì
doanh nghiệp không những phải trả gốc mà còn phải trả lãi tiền vay trong thời
gian nhất định. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải tính toán phương án sản
xuất, kinh doanh đạt hiệu quả để có thể sau khi trả lãi ngân hàng thì vẫn còn lợi
nhuận cho mình.