Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của VN - Thực trạng & triển vọng - Pdf 11

Lời mở đầu
Bớc sang thế kỷ XX, toàn cầu hoá nền kinh tế trở thành vấn đề thời
đại mang tính sống còn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Đó là một
xu thế mới của quá trình phát triển kinh tế thị trờng, phản ánh trình độ phát
triển cao của lực lợng sản xuất xã hội mà ở đó, phân công lao động quốc tế
và quốc tế hoá sản xuất trở thành phổ biến. Và có thể nói rằng Tổ chức th-
ơng mại thế giới (WTO) ra đời là một hệ quả tất yếu của quá trình này.
WTO là một tổ chức quốc tế biểu hiện gần nh đầy đủ và tiêu biểu nhất cho
xu hớng toàn cầu hoá hiện nay. Thực tế đã chứng minh rằng thơng mại quốc
tế đã mang lại rất nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế thế giới nói chung và
từng quốc gia nói riêng. Do vậy, gia nhập WTO không chỉ đơn thuần là chịu
sức ép của xu thế tất yếu của thời đại mà nó còn mang tính chủ động, là
mục tiêu của nhiều nớc trên thế giới vì lợi ích phát triển kinh tế quốc gia
mình.
Đối với Việt Nam, một nớc mà quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mới
chỉ diễn ra trong vòng 10 năm trở lại đây thì tiến trình đàm phán gia nhập
WTO càng trở nên khó khăn phức tạp. Mặc dù hiện nay Việt Nam đã có
thêm nhiều thuận lợi trong quan hệ quốc tế nh: là thành viên của Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA), là thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình D-
ơng (APEC), và gần đây nhất là đã ký kết đợc Hiệp định thơng mại song
phơng với Hoa Kỳ... Nhng không thể phủ nhận một thực tế là Việt Nam vẫn
còn rất yếu trong quá trình đàm phán cả song phơng, khu vực và đa phơng.
Việt Nam vẫn còn thiếu cả về mặt lý luận và kinh nghiệm thực tiễn đối với
các cuộc đàm phán quốc tế. Trong khi đó tiến trình đàm phán để gia nhập
WTO lại đặt ra rất nhiều vấn đề phức tạp.
Trớc một thực tế bức bách đó, em đã chọn đề tài: "Tiến trình đàm
phán gia nhập WTO của Việt Nam - thực trạng và triển vọng" để có thể
nghiên cứu sâu hơn về tình hình đàm phán gia nhập WTO hiện nay của Việt
1
Nam, cố gắng tìm ra những khó khăn, những mặt yếu kém tồn tại... để từ đó

thuận đa phơng then chốt về mậu dịch toàn cầu. Hiệp định GATT trở thành
văn kiện công pháp quốc tế đầu tiên điều chỉnh quan hệ thơng mại giữa các
quốc gia mang tính chất đa phơng. Nhiệm vụ chính của GATT là tự do hoá
thơng mại, cắt giảm thuế quan, bãi bỏ các hạn chế về nhập khẩu và chấm
dứt mọi phân biệt đối xử về kinh tế và buôn bán giữa các nớc. Bất cứ sự
thay đổi nào trong hiệp định cũng đòi hỏi phải đợc tất cả các thành viên
đồng ý. Nếu có sự tranh chấp, mọi thành viên phải đồng thuận về giải pháp.
Khi GATT ra đời, các quốc gia chỉ xem đây là một giải pháp dung
hoà tạm thời nhng trên thực tế nó tồn tại trong một thời gian dài. GATT đã
trải qua bảy vòng đàm phán, không kể vòng khai sinh ra nó gồm: 1949
(vòng Annecy), 1951 (vòng Torquay), 1956 (vòng Geneva), 1960 - 1961
(vòng Dillon), 1964 - 1967 (vòng Kennedy), 1973 - 1979 (vòng Tokyo) và
1986 - 1994 (vòng Uruguay).
Sau hơn 40 năm tồn tại của mình, GATT đã góp phần đáng kể vào
tăng trởng kinh tế thế giới. Nhng do cơ chế giải quyết tranh chấp không
hiệu quả và ngời đợc lợi chủ yếu là Mỹ nên các quốc gia khác đòi phải có
một tổ chức thay thế GATT có hiệu quả hơn. Trong vòng Uruguay (vòng
đàm phán cuối cùng của GATT) các quốc gia thành viên đã đồng thuận
3
thành lập Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) để kế vị GATT từ ngày 1
tháng 1 năm 1995.
Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) là tổ chức quốc tế, là thiết chế
pháp lý của hệ thống thơng mại thế giới quy định các nghĩa vụ chủ yếu
mang tính cam kết để xác định các chính phủ xây dựng và thực thi luật pháp
và các quy chế thơng mại trong nớc nh thế nào.
Hiện nay WTO là một tổ chức quốc tế có quy mô lớn nhất thế giới
(trừ Liên Hiệp Quốc) với 135 thành viên chính thức, 33 nớc là quan sát
viên. Thêm vào đó, thoả thuận WTO cũng có quy mô khá đồ sộ với 29 văn
bản pháp quy riêng rẽ, bao quát mọi thứ từ nông nghiệp đến vải vóc và may
mặc, từ dịch vụ đến mua sắm của chính phủ, từ nguồn gốc hàng hoá đến sở

đa phơng đầu tiên về thơng mại trong dịch vụ đã giải thích rõ nghĩa vụ của
các thành viên nh phạm vi thi hành, đối xử quốc gia, tiếp cận thị trờng và đa
ra một khuôn khổ cho tiến trình tự do hoá trong thơng mại dịch vụ. Rõ ràng
tất cả các điều trên đều nhằm phục vụ cho mục tiêu tự do hoá thơng mại.
Có thể thấy rõ nhất mục tiêu này là ở chỗ WTO đã cấm phân biệt đối
xử giữa các thành viên, giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nớc.
Chẳng hạn, theo Điều I về đãi ngộ tối huệ quốc - MFN, các thành viên phải
đối xử với sản phẩm của các thành viên khác không kém hơn sự đối xử bất
cứ quốc gia nào khác. Một hình thức thứ hai về không phân biệt đối xử gọi
là "đối xử quốc gia", yêu cầu một khi hàng ngoại đã vào một thị trờng phải
đợc đối xử không kém thuận lợi so với hàng nội.
Biểu hiện rõ ràng hơn cả trong mục tiêu này chính là vấn đề cắt giảm
thuế quan. Từ năm 1948, sau khi GATT thành lập, trải qua các vòng thơng
lợng đã tiến hành giảm thuế từng bớc, đến vòng cuối cùng, vòng Uruguay
thuế đã đợc giảm mạnh hơn, đồng thời tăng đáng kể số lợng các mặt hàng
cần đợc giảm thuế. Tính ra, theo WTO, trong vòng 5 năm đã cắt giảm đợc
40% thuế quan đánh vào các mặt hàng công nghiệp nhập vào các nớc phát
triển, từ mức thuế bình quân 6,3% giảm xuống còn 3,8%, đa giá trị hàng
công nghiệp nhập khẩu đợc miễn thuế ở các nớc phát triển từ 20% lên 44%.
5
Ngoài ra, trong lời mở đầu văn bản khai sinh WTO còn bao gồm một
số mục tiêu phi thơng mại nh: mức sống cao hơn và toàn dụng lao động,
còn các thoả thuận của nó ảnh hởng tới nhiều chính sách quốc gia về kinh
tế và xã hội, chẳng hạn nh đầu t, an ninh lơng thực và cả y tế. Trong thực tế
các cuộc thơng thuyết này đều bị chi phối bởi các lợi ích thơng mại của các
nớc thành viên nên quá trình đàm phán thờng rất khó khăn và quyết liệt.
2.2. Chức năng chủ yếu của WTO.
Trớc hết, với bản chất pháp lý của mình, WTO có chức năng điều
hành và thực thi các hiệp định thơng mại đa phơng và hiệp định giữa một số
bên cấu thành WTO. Đây là một trong những chức năng quan trọng nhất

thâm nhập vào một thị trờng thì nó phải đợc đối xử không kém u đãi so với
hàng hoá tơng tự sản xuất trong nớc. Ngoài ra, WTO còn đa ra các điều
khoản không có sự phân biệt đối xử khác bao gồm các hiệp định, các quy
tắc về xuất xứ, kiểm nghiệm hàng hoá trớc khi giao hàng, về biện pháp đầu
t liên quan đến thơng mại và về áp dụng các tiêu chuẩn vệ sinh và kiểm
dịch.
3.2. Sự thâm nhập thị trờng ngày càng tăng và có thể dự đoán trớc.
Hệ thống thơng mại đa phơng là một sự cố gắng của các quốc gia
nhằm cung cấp cho các nhà đầu t, ngời chủ, ngời lao động và ngời tiêu dùng
một môi trờng kinh doanh thuận lợi để có thể khuyến khích thơng mại, đầu
t và tạo công ăn việc làm, cũng nh các cơ hội và giá cả thấp trên thị trờng.
Môi trờng đó cần đợc ổn định và có khả năng dự đoán trớc, đặc biệt là với
những công việc liên quan đến đầu t và phát triển.
Vấn đề mấu chốt của những điều kiện thơng mại có thể dự báo trớc là
sự rõ ràng của luật pháp trong nớc, các quy định và thực tiễn. Nhiều hiệp
định của WTO chứa đựng những điều khoản rõ ràng đòi hỏi phải công bố
trong toàn quốc, ví dụ thông qua các báo chí, các phơng tiện thông tin đại
chúng hay thông báo chính thức với WTO. Phần lớn công việc của các quan
chức WTO có liên quan là xem xét lại những thông báo này. Việc giám sát
7
này sẽ cung cấp thêm các biện pháp nhằm khuyến khích sự rõ ràng của các
điều luật và các quy định ở cả phạm vi trong nớc và quốc tế.
3.3. Tăng cờng cạnh tranh lành mạnh.
WTO là một tổ chức hớng tới tự do hoá thơng mại trên toàn cầu nhng
hiện tại nó vẫn chấp nhận một số dạng bảo hộ (thuế...) mà WTO cho phép
các nớc thành viên sử dụng để chống trả lại mọi biện pháp có thể gây méo
mó về giá cả trong nớc hoặc gây tổn hại cho chính nớc bạn hàng nh việc
bán phá giá, trợ cấp đầu vào, áp dụng các biện pháp phụ thu đối với hàng
nhập khẩu để bảo hộ nội địa, sử dụng các hàng rào thuế để hạn chế hoặc
hạn chế buôn bán... Theo nguyên tắc này buộc các thành viên phải đa ra

nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng có thể trở thành không thể cạnh tranh đ-
ợc trong một vài sản phẩm hay dịch vụ khi nền kinh tế của họ phát triển.
Tuy nhiên, với những u thế của nền kinh tế mở, chúng có khả năng cạnh
tranh ở một nơi khác. Đây là một quá trình dần dần. Mặt khác bảo hộ quá
mức sẽ làm nền kinh tế trì trệ, không hiệu quả. Chính vì những lợi ích trên
mà một trong những mục tiêu mang tính nguyên tắc của WTO là ngăn cản
xu thế bảo hộ và tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa bảo hộ.
3.6. Giải quyết các bất đồng thơng mại.
Việc giải quyết tranh chấp trong WTO đợc coi là một yếu tố trung
tâm bảo đảm cho việc vận hành thơng mại một cách an toàn và nằm trong
dự kiến. Các thành viên phải dựa vào cam kết không hành động đơn phơng
chống lại những điều mà họ coi là vi phạm luật lệ thơng mại, mà phải dựa
vào hệ thống giải quyết tranh chấp đa phơng và phải tuân thủ các quy định
và phán quyết của hệ thống này.
Trong vòng 30 ngày sau khi nhận đợc khiếu kiện hoặc kháng án, cơ
quan xử lý tranh chấp (DSB) phải họp để phán quyết. Bên bị kiện phải tuyên
bố rõ ý định chấp hành khuyến nghị. Nếu có khó khăn trong việc tuân thủ
ngay lập tức thì có thể đợc DSB cho kéo dài "một thời gian hợp lý" để chấp
hành. Trong trờng hợp vẫn không chấp hành đợc thì thành viên bị kiện phải
thơng lợng với bên nguyên để xác định những điều kiện bồi thờng có thể
9
chấp nhận đợc cho cả hai phía - chẳng hạn, giảm thuế suất về một số lĩnh
vực nào đó có lợi cho bên nguyên.
Nếu sau 21 ngày mà yêu cầu bồi thờng vẫn cha đợc thoả mãn thì bên
nguyên có thể đề nghị DSB cho phép mình thực hiện việc đình chỉ thoả nh-
ợng hoặc nghĩa vụ với phía bên kia. DSB sẽ đồng ý với đề nghị này sau khi
mãn hạn 30 ngày nói trên. Vụ việc sẽ nằm trong nghị trình của DSB cho đến
khi đã đợc hoàn toàn giải quyết. Nh vậy, DSB có thẩm quyền duy nhất
thành lập các hội đồng xét xử, thụ lý các báo cáo của hội đồng xét xử và
kháng cáo, duy trì giám sát việc thực thi các phán quyết và khuyến nghị,

Thoả thuận WTO quy định bốn trờng hợp bỏ phiếu:
- Một đa số phiếu ba phần t có thể thông qua một diễn dịch của bất
kỳ hiệp định thơng mại đa phơng nào.
- Cũng bằng đa số đó, Hội nghị bộ trởng có thể quyết định cho một
thành viên nào đó lùi thời gian thi hành một hiệp định đa phơng nào đó.
- Những quyết định bổ sung một số điều khoản của các hiệp định th-
ơng mại có thể đợc thông qua nếu đợc tất cả các thành viên hoặc đợc một số
hai phần ba chấp thuận, tuỳ theo tính chất của vấn đề. Tuy nhiên, các điều
khoản bổ sung đó chỉ có hiệu lực đối với các thành viên đã chấp nhận
chúng.
- Việc kết nạp thành viên mới phải đợc đa số hai phần ba của Hội
nghị cấp bộ trởng tán thành.
5. Các điều kiện gia nhập WTO.
Để trở thành thành viên của WTO, một quốc gia phải đáp ứng đầy đủ
một số điều kiện cụ thể.
1. Phải là quốc gia có nền kinh tế thị trờng.
2. Phải sẵn sàng và có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ là thành viên
WTO.
11
3. Phải đợc sự tán thành của hai phần ba số thành viên trở lên tại Hội
nghị bộ trởng WTO.
Trên thực tế, khi xem xét cho một nớc gia nhập WTO thì việc đánh
giá xem các nớc đó đã hội đủ các điều kiện gia nhập cha thì các quan chức
WTO cũng nh các nớc thành viên căn cứ vào 5 điều kiện mang tính nguyên
tắc sau:
- Không phân biệt đối xử: Không một nớc nào có thể phân biệt đối xử
với các nớc bạn hàng của mình cùng có chân trong WTO hoặc với các sản
phẩm, dịch vụ cùng các công dân các nớc này.
- Tự do hơn: Các rào cản sẽ lần lợt đợc dỡ bỏ thông qua thơng thuyết.
- Có thể tiên liệu đợc: Các công ty, các nhà đầu t, các chính phủ các

WTO.
d. Quốc gia xin gia nhập trả lời các câu hỏi trên.
e. Sau khi Ban th ký WTO nhận đợc số lợng các câu hỏi xác định từ
quốc gia xin gia nhập WTO, thì phiên đầu tiên sẽ diễn ra (thời gian 8 - 10
tuần sau khi Ban th ký nhận đợc các câu hỏi).
f. Những phiên đàm phán thuộc giai đoạn đầu (thờng từ 2 - 5 phiên)
tập trung để minh bạch chính sách thơng mại cuả quốc gia xin gia nhập
WTO. Hình thức đàm phán là đàm phán đa biên.
- Giai đoạn 2: Là giai đoạn bao gồm những phiên đàm phán song biên
giữa quốc gia xin gia nhập với từng đối tác cụ thể. Đan xen là những phiên
đàm phán đa biên để đa chính sách thơng mại của nớc đàn xin gia nhập tiếp
cận với các nguyên tắc và định chế chung của WTO.
Khi các điều kiện đã chín muồi tức là quốc gia đang gia nhập thoả
mãn những điều kiện của các nớc tham gia đàm phán chấp thuận thì Chủ
tịch Ban công tác tham vấn với Ban th ký WTO và đại diện các nớc đang
13
tham gia đàm phán thông qua các văn bản chấp nhận là thành viên chính
thức đối với quốc gia đang gia nhập WTO.
6. Triển vọng của WTO.
Hiện nay có rất nhiều ý kiến tỏ ra nghi ngờ về triển vọng tơng lai của
WTO vì Hội nghị Bộ trởng thơng mại WTO diễn ra tại Siatơn, Mỹ ngày 30
tháng 10 năm 1999 vừa qua đã không đạt đợc kết quả nh mong muốn ban
đầu của nớc chủ nhà. Dờng nh WTO đã rơi vào tay những tập đoàn t bản
lớn, những quốc gia t bản lớn. Chính vì vậy mà tơng lai của WTO phụ thuộc
rất nhiều ở các nớc đang phát triển, những nớc đang bị xem là thua thiệt
trong quá trình toàn cầu hoá. Thất bại của Hội nghị Siatơn đã cho thấy rằng
WTO đang cần một sự cải tổ lớn. Tuy nhiên muốn làm đợc điều đó thì các
nớc thế giới thứ ba phải đoàn kết với nhau, đoàn kết với các lực lợng không
ngừng lớn mạnh của các tổ chức nhân dân, của những ngời có lơng tri và có
hiểu biết thì chắc chắn các tập đoàn t bản không dễ dàng thao túng bộ máy

thuật hiện đại, nâng cao chất lợng sản phẩm.
Đối với ngành dịch vụ: Các lĩnh vực bu chính, ngân hàng, bảo hiểm
và tài chính tiền tệ của Trung Quốc cơ bản nằm dới sự khống chế độc quyền
của nhà nớc. Nhng sau khi gia nhập WTO, những ngành này tất phải mở
cửa, chính phủ sẽ từng bớc giảm can thiệp hành chính, lãi suất và hối suất
từng bớc đợc thị trờng hoá, vì thế mà thị trờng tài chính tiền tệ sẽ chịu
nhiều rủi ro hơn. Ngân hàng nớc ngoài có chất lợng cao hơn sẽ thu hút hết
khách hàng của ngân hàng trong nớc. Vì vậy Trung Quốc đã không ngừng
cải cách hệ thống ngân hàng của mình, bồi dỡng thêm cho cán bộ ngân
hàng trong nớc, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng...
Trên đây là vài kinh nghiệm trong quá trình chuyển đổi về thể chế và
cơ cấu kinh tế của Trung Quốc nhằm mục đích nhanh chóng gia nhập WTO.
Đây là bài học quý giá cho những nớc có cơ cấu và thể chế kinh tế tơng
đồng với Trung Quốc đang trong quá trình gia nhập WTO.
15
Chơng II
Thực trạng tiến trình đàm phán gia
nhập WTO của Việt Nam
I. Sự cần thiết gia nhập WTO của Việt Nam.
1. Quá trình quốc tế hoá phát triển.
Toàn cầu hoá đang trở thành xu thế tất yếu của thời đại. Trớc xu thế
nh vũ bão của toàn cầu hoá, một quốc gia muốn phát triển đợc phải tham
gia vào quá trình đó. Bởi vì toàn cầu hoá mang lại nhiều lợi ích to lớn cho
các quốc gia. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho thơng mại quốc tế, đầu t quốc
tế, hợp tác các lĩnh vực khác giữa các quốc gia. Đại diện tiêu biểu nhất và
đầy đủ nhất cho xu thế toàn cầu hoá hiện nay chính là Tổ chức thơng mại
thế giới. Việt Nam cũng là một quốc gia đang đứng trớc thử thách toàn cầu
hoá và một điều tất yếu là Việt Nam sẽ tham gia vào Tổ chức thơng mại thế
giới để tận dụng những thuận lợi cho phát triển kinh tế đất nớc. Thực tế đã
chứng minh rằng kể từ khi hoà nhập vào quá trình toàn cầu hoá, Việt Nam

tháng 4 năm 2001 đã đa ra các quyết định tiếp tục đổi mới nền kinh tế và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
17
Một sự kiện có ý nghĩa lớn trong việc tham gia WTO của Việt Nam là
ngày 28 - 7 - 1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và đã ký hiệp định để gia
nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Theo Hiệp định này, Việt
Nam sẽ cắt giảm thuế quan đối với các nớc thành viên ASEAN xuống còn 0
- 5% trong vòng 10 năm, bắt đầu từ này 1 - 1 - 1996. Việc gia nhập ASEAN
của Việt Nam đã củng cố thêm vị trí của Việt Nam trong việc tham gia
WTO.
Hơn nữa vừa qua Việt Nam đã ký đợc Hiệp định thơng mại với Mỹ là
một bớc đệm quan trọng nhất cho quá trình đàm phán gia nhập WTO sau
này. Bởi vì mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ trong quá khứ là rất căng
thẳng. Trong khi đó Mỹ lại là lãnh đạo WTO cho nên việc bình thờng hoá
quan hệ với Mỹ đặc biệt là ký đợc một hiệp định thơng mại song phơng với
Mỹ là một cơ hội lịch sử cho Việt Nam trong quá trình tham gia WTO và
hội nhập kinh tế quốc tế.
Cuối cùng, việc gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam phát triển thơng mại
một cách toàn diện hơn. So với trớc đây những vấn đề thơng mại quan trọng
của GATT đã đợc tự do hoá rất nhiều bởi các hiệp định của WTO (chẳng
hạn nh ngành dệt và nông nghiệp), mà đối với những vấn đề đó Việt Nam
có nhiều tiềm năng và có các thị trờng xuất khẩu lớn.
3. Những lợi ích khi gia nhập WTO của Việt Nam.
Một khi trở thành thành viên WTO, các Hiệp định của vòng Uruguay
có thể đem lại cho Việt Nam các lợi ích sau:
- Hiện tại thơng mại giữa các nớc thành viên WTO chiếm 90% khối l-
ợng thơng mại thế giới, việc Việt Nam trở thành thành viên WTO sẽ đẩy
mạnh thơng mại và các quan hệ của Việt Nam với các thành viên khác trong
WTO và đảm bảo nâng dần vai trò quan trọng của Việt Nam trong hệ thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status