Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Vốn là một trong những nhân tố quan trọng trong qúa trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Nước ta có nền kinh tế kém phát triển và khoa học kĩ thuật
còn lạc hậu so với thế giới thì vốn lại càng đặc biệt quan trọng. Đảng ta đã
nhận định không chỉ trông chờ vào vốn bên ngoài mà phải ‘phát huy cao độ
nội lực để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá’.Các ngân hàng thương mại với chức năng là nơi cung
ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, cần phải có biện pháp để tập trung mọi
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tầng lớp nhân dân và tổ chức, nhất là
huy động vốn trung và dàI hạn để đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, mua
sắm thiết bị hiện đại đổi mới công nghệ…
Trong thời gian thực tập Ngân hàng đầu tư Hà Thành -là một bộ phận
trong hệ thống Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam- em đã thấy vai trò
quan trọng việc cung ứng vốn cho đầu tư phát triển, góp phần thực hiện
đường lối chủ trương phát triển kinh tế của Đảng và Nhà Nước. Công tác
huy động vốn của Ngân Hàng đầu tư Hà thành đã đạt đựoc sự tăng trưởng
đáng kể về qui mô, tuy nhiên chính sách huy động vốn vẫn chưa đầy đủ
đồng bộ, vẫn chưa khai thác được hết tiềm năng vốn nhàn rỗi trong dân cư
và tổ chức. Mặt khác việc tăng trưởng nguồn vốn huy động sẽ ngày càng
khó khăn hơn do những ảnh hưởng của môI trường kinh tế vĩ mô, việc
tham gia của các tổ chức tàI chính phi ngân hàng trong huy động vốn như
bảo hiểm, bưu đIện…các ngân hàng thương mại không ngừng mở rộng
mạng lưới hoạt động như quầy tiết kiệm, phong giao dịch, chi nhánh cấp
hai…Do đó việc tìm mọi biện pháp để huy động vốn cho chi nhánh là vấn
đề rất cần thiết.
Chính vì vậy mà em lựa chọn đề tàI:” Giải pháp nâng cao hiệu quả
huy động vốn ở Ngân hàng đầu tư - phát triển Hà Thành” cho khoá
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
1
2
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
huy động vốn của Ngân hàng Hà Thành.
Đề tài trên là một lĩnh vực nghiên cứu phức tạp, đan xen nhiều yếu
tố vĩ mô và vi mô, mang tính khách quan và chủ quan. Riêng bản thân em
trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu cả lý luận và thực tiễn còn có những
hạn chế nhất định, vì vậy em cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết.
Em rất mong được sự hỗ trợ, chỉ bảo của cơ quan thực tập, cô giáo Nguyễn
Thị Thu Hà cũng như các thầy cô giáo khác và những người quan tâm đến
đề tài này. Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày tháng năm 2006
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
3
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Lý luận chung về huy động vốn trong hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm về huy động vốn.
Để tiện cho việc đi sâu nghiên cứu hiệu quả huy động vốn của
NGTM, trước hết chúng ta cần nắm được định nghĩa vốn của Ngân hàng
thương mại là gì? Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, NHTM
muốn hoạt động phaỉ có vốn, nhưng vì hàng hoá mà Ngân hàng kinh doanh
là hàng hoá đặc biệt- đó là tiền nên buộc họ phải tìm cách mua vốn trên thị
trường tài chính. Thực chất là các Ngân hàng kinh doanh “quyền sử dụng
vốn” tức người cần vốn thì phải trả lãi cho người có vốn trên thị trường một
khoản phí để có được quyền sử dụng vốn trong thời gian xác định. Thông
qua thị trường, vốn được lưu chuyển rộng rãi, từ đó mới có thể đủ bản chất
kênh Ngân sách Nhà nước, qua thị trường chứng khoán, qua các tổ chức tài
chính trung gian.
Đối với những nước có nền tài chính phát triển, thị trường vốn mở
rộng thì huy động vốn qua các kênh này không gặp nhiều khó khăn, ngược
lại đối với các nước đang phát triển như Việt nam khi mà thị trường tài
chính nhỏ hẹp, thu Ngân sách không đủ tiêu dùng thì nghiệp vụ huy động
vốn của các NHTM là kênh có hiệu quả nhất, thoả mãn tốt nhất nhu cầu về
vốn cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Do vậy, hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại là rất
quan trọng, nó cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều
kiện phát triển cho mọi nghành, mọi lĩnh vực kinh tế.
b. Đối với NHTM
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
5
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
Đối với bất kì doanh nghiệp nào khi kinh doanh cũng cần phải có
vốn, vì vốn là năng lực chủ yếu quyết định khả năng kinh doanh và qui mô
hoạt động của doanh nghiệp đó.Đối với Ngân hàng cũng vậy, là một doanh
nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt đó là tiền,tiền vừa là vốn vừa là hàng
hoá. Do vậy, muốn kinh doanh có hiệu quả thì Ngân hàng cần làm tốt công
tác huy động vốn vì:
b.1. Vốn là cơ sở để Ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Vốn là điểm đầu tiên trong chu kì kinh doanh của Ngân hàng, vì
khác với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng có những đặc trưng riêng. Vốn không chỉ
là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu.
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ
( thị trường vốn ngắn hạn ) và thị trường chứng khoán ( thị trường vốn dài
hạn ). Thị trường tiền tệ mã hoá bằng công thức T-T”, trong đó T là nguồn
vốn bỏ ra ban đầu, T’ là nguồn vốn thu về sau một quá trình đầu tư, tiến
hàng, vốn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng. Điều đó
thể hiện ở chỗ: thứ nhất, nếu nguồn vốn của ngân hàng lớn thì sẽ giúp cho
việc mở rộng hoạt động kinh doanh một cách thuận lợi, đa dạng hoá các
danh mục sản phẩm, đáp ứng nhu cầu cho khách hàng. Thứ hai, giá cả của
một khoản cho vay sẽ là căn cứ để khách hàng có đến với mình không, tức
là một mức laĩ suất thấp hơn so với các ngân hàng khác sẽ quyết định khả
năng cạnh tranh của ngân hàng đó. Ta có công thứ sau:
Icvay = I huy động + chi phí huy động + lợi nhuận dự kiến + hệ số rủi
ro dự kiến.
Nếu ngân hàng có vốn lớn thì chi phí và rủi ro giảm, ta suy ra Icvay sẽ
giảm. Thứ ba, việc ngân hàng luôn có sản phẩm mới, chi phí cho vay lại
thấp, mọt tiềm lực kinh tế mạnh sẽ giảm rủi ro, tăng lợi nhuận lâu dài,
đồng thời tăng uy tín cho bản thân ngân hàng. Vị thế của ngân hàng trên thị
trường ngày càng nâng cao, và với một thương hiệu tốt sẽ là một cách cạnh
tranh tốt hất, giúp đánh bật mọi đối thủ.
1.1.3. Các hình thức huy động vốn.
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
7
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
a. Huy động vốn tiền gửi.
a.1. Tiền gửi không kì hạn:
Tiền gửi không kì hạn là loại tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào,
khách hàng có thể yêu cầu Ngân hàng trích tiền từ tài khoản của mình để
chi trả cho người được hưởng về tiền hnàg hoá, cung ứng lao vụ…Đối với
khoản tiền gửi này mục đích chính của người gửi tiền là nhằm đảm bảo an
toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua Ngân hàng, do vậy
nó thường được gọi là khoản tiền thanh toán. ở nhiều nước phần lớn các
giao dich thanh toán thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán được thực hiện
bằng Séc và do vậy người ta cũng có thể gọi đây là khoản tiền gửi có thể
phát hành Séc (checking account).
tháng, 2 năm…Với mỗi kì hạn khác nhau, Ngân hàng áp dụng các lãi suất
khác nhau, thông thường thời hạn càng dàI thì lãi suất càng cao. Về phía
khách hàng khi gửi tiến có kì hạn càng dài sẽ luôn lo lắng vì sự không ổn
định cuả đồng tiền, chỉ số lạm phát năm của nền kinh tế và khả năng tài
chính của Ngân hàng, do vậy để thu hút đựoc nhiều nguồn dài hạn thì tốc
độ phát triển của nền kinh tế phải ổn định, giá trị của đồng tiền phải đảm
bảo, lạm phát vừa phải và tình hình hoạit động kinh doanh của các Ngân
hàng phải có hiệu quả. Theo đúng nguyên tắc khách hàng chỉ có thể tiền
gửi loại này theo đúng qui định, tuy nhiên để nâng cao uy tín và chất lưọng
phục vụ, lôI kéo khách hàng, Ngân hàng cho phép khách hàng rút trước
thời hạn nhưng không được hưởng lãi cao hơn qui định.
a.3. Tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi của dân cư được gửi vào Ngân
hàng nhằm mục đích hưởng lãi. Hình thức phổ biến nhất và cổ đIển nhất là
loại tiền tiết kiệm có sổ, người gửi tiền Ngân hàng cấp cho một sổ dùng để
ghi số tiền gửi vào và rút ra.
Việt Nam vừa qua các loại tiền gửi tiết kiệm sau:
• Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng
có thể gửi tiền vào nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào. Phần lớn
khách hàng gửi tiền không kì hạn là do chưa xác định được nhu
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
9
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
cầu chi tiêu cụ thể trong tương lai, nhưng lại mong muốn thu đựoc
mức lãi trong khoản tiền nhàn rỗi.
• Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn: là khỏan tiền mà khách hàng chi được
rút ra khi đến hạn thanh toán. Trên thực tế để thu hút khách hàng,
Ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút trước hạn với điều kiện
hưởng lãi suất thấp (thương bằng mức tiền gửi không kì hạn, thậm
chí không được hưởng lãi)
trung ương, đến việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN. NHNN cấp
tín dụng cho các NHTM chủ yếu dưới hai hình thức:
- Tái cấp vốn mà chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu giấy tờ có
giá.
- Cho vay thế chấp ứng trước.
b.2. Vay các tổ chức tín dụng khác:
Thông thường các Ngân hành có quyền vay lẫn nhau khi cần thiết,
dựa trên lãi suất công bố thường xuyên trên thị trường liên Ngân hàng.
Trường hợp vay bằng ngoại tệ thì hai Ngân hàng có thể có những thoả
thuận khác. Các khoản vay này đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời mang tính
thời đIểm, nó mang lại lợi ích cho các đôi bên- Ngân hàng đang có nguồn
vốn dư thừa và Ngân hàng đang thiếu vốn. Các khoản vay này có thời hạn
rất ngắn, thường qua đêm hoặc không quá một tuần.
Ngoài ra có thể vay từ các ngân hàng nước ngoài, các khoản vay
này thường rất lớn, lãi suất ưu đãi nhưng đIều kiện vay lại rất cao, phải
được cơ quan kiểm toán quốc tế kiểm tra sổ sách kế toán, các khoản vay
thường dành cho các dự án khả thi.
c. Huy động thông qua phát hành các công cụ nợ.
Các NHTM phát hành các chưng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân
hàng, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn trong một thời gian nhât định.
Chứng chỉ tiền gửi: Là những giấy xác nhận tiền gửi định kỳ ở
một ngân hàng hay một định chế tài chính khác. Người sở hữu giấy này sẽ
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
11
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
được thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ tiền vốn khi mãn hạn. Chứng
chỉ sau khi phát hành được lưyu thông trên thị trường tiền tệ.
Các ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi chủ yếu cho mục
đích thanh khoản. Các chứng chỉ này thường không thuộc loại trái phiếu
triết khấu, lãi suất của chúng thường cao hơn lãi suất của tín phiếu kho bạc
phần kinh tế tham gia kinh doanh đều phải hướng tới vì hiệu quả chính
nhân tố cấu thành lợi nhuận cuối cùng. Hiệu quả kinh doanh càng cao thì
hoạt động lợi nhuận tạo ra càng lớn,là một doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh vì mục tiêu lợi nhuận, do đó tính hiệu quả trong mọi hoạt động luôn
được Ngân hàng quan tâm đến, một trong những hoạt động đòi hỏi Ngân
hàng phải thực hiện có hiệu quả đó là hoạt động huy động vốn.
Hiệu quả huy động vốn là phạm trù phản ánh trình độ và khả năng
đảm bảo thực hiện công tác huy động vốn có kết quả cao và chi phí nhỏ
nhất.
Có nghĩa là đối với mặt lượng, hiệu quả huy động vốn biểu hiện
giữa kết quả thu được (số lượng, thời hạn) và chi phí bỏ ra, còn đối với mặt
chất, nó phản ánh năng lực và trình độ quả lý của Ngân hàng.
Đối với một NHTM thì hiệu quả huy động vốn quan hệ biện chứng
với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng vàđây lại là cơ sơ thuận lợi để
huy động vốn có hiệu quả. Hai mối quan hệ này hỗ trợ cho nhau cùng phát
triển.
Khi nghiên cứu hiệu quả huy động vốn chúng ta đề cập đến cả mặt
chất và mặt lưọng của hiệu quả huy động vốn. Đó là kết quả thu được (số
lượng, thời gian), chi phí bỏ ra và năng lực, trình độ quản lý của Ngân
hàng, từ đó chúng ta biết được:
• Quy mô nguồn vốn huy động có đủ lớn để tàI trợ cho danh mục đa
dạng và không ngừng tăng trưởng không?
• Cơ cấu nguồn vốn có phù hợp với qui mô sủ dụng không?
• Nguồn vốn tăng trưỏng có ổn định không?
• Nguồn vốn có chi phí hợp lí không?
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
13
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
Những chỉ tiêu nêu trên đánh giá năng lực và trình độ quản lí của
Ngân hàng. Qua phân tích, đánh giá chúng rút ra được những điểm mạnh
Trong chỉ tiêu này bao gồm các nội dung cơ bản sau:
• Khối lượng và cơ cấu vốn:
Điều cần nói trước hết về đánh giá hiệu quả huy động vốn là huy động
vốn phải đáp ứng nhu cầu khối lượng phục vụ cho kinh doanh tín dụng.
Trong đó khối lượng vốn cần đạt tới mức qui định theo kế hoạch huy động
vốn. Cơ cấu vốn phảI hợp lý giữa tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn và vốn huy
động dàI hạn cũng như hợp lý giữa nội tệ và ngoại tệ. Cụ thể: theo quyết
định 457/2005/QĐ- NHNN
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: Hc= vốn tự có/ TSC qui đổi rủi ro >=
8%
- Dư nợ cho vay1 khách hàng/ vốn tự có =< 15%
- Tổng dư nợ cho vay một nhóm khách hàng/ vốn tự có =< 50%
- Nguồn vốn ngắn hạn NHTM được sử dụng cho vay trung dàI hạn
tối đa 40%.
- Tổng mức đầu tư trong tất cả các khoản đầu tư thương mại của
NHTM cũng như các tổ chức tín dụng khác không được vượt quá
40% vốn đIều lệ và quĩ dự trữ.
Xu hướng biến đổi cơ cấu vốn huy động cần phảI đáp ứng nhu cầu sử
dụng vốn dự kiến về thời hạn cho vay cũng như các loại ngoại tệ, nội tệ cho
vay.
• Sự tăng trưỏng của nguồn vốn huy động.
Để đáp ứng được các nhu cầu về khối lượng vốn phục vụ cho hoạt
động cho vay, hoạt động thanh toán và các hoạt động sử dụng vốn khác của
NHTM, vốn huy động phải có sự tăng trưởng hợp lý về số lượng cũng như
ổn định về mặt thời gian. Điều này giúp Ngân hàng xem xét trong việc cho
vay, thời hạn cho vay đối với các đối tượng khách hàng vay vốn cũng như
trong thanh toán. Qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư vì quan trọng là nâng
cao hiệu quả huy động vốn.
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
15
16
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
c. Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn.
Hình thúc huy đọng vốn là cách thức Ngân hàng sử dụng để thu hút
nguồn vốn. Hình thức huy động càng da dạng thì vốn chảy vào Ngân hành
càng nhiều. Sự đa dạng ở các hình thức huy động thể hiện ở:
• Số lượng các công cụ huy động:
Số lượng các công cụ huy động càng đa dạng thì Ngân hàng càng có
nhiều đIều kiện thu hút được nguồn vốn, tuy nhiên., sự đa dạng của các
công cụ phải phù hợp với khả năng, trình độ quản lý và đIều kiện tài chính
của Ngân hàng mới có thể dem lại hiệ quả cao.
Căn cứ vào đặc điểm kinh doanh mà NHTM có thể áp dụng các công
cụ khác nhau trong quá trình huy động vốn như: Phát hành kỳ phiếu, trái
phiếu, chứng chỉ tiền gửi vô danh và ký danh, các hình thức tiết kiệm nhiều
kỳ hạn tuỳ theo nhu cầu sử dụng vốn có thể trả lãi trước hoặc trả lãi sau
nhằm khuyến khích thu hút nguồn vốn huy động.
Ngoài ra, có thể áp dụng các hình thức tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm
trả góp thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, nhằm vào tâm lý dân
chúng là những người có mục đích đầu tư vào quá trình huy động vốn của
Ngân hàng để hưởng lợi nhuận.
• Đa dạng về kỳ hạn và các loại tiền sử dụng
Tuy nhiên, sẽ là không đủ nếu các Ngân hàng chỉ đa dạng về số lượng
mà không đa dạng về kỳ hạn huy động, loại tiền huy động. Căn cứ vào nhu
cầu phát triển kinh tế trên địa bàn và các nguồn vốn sẵn có giàu tiềm năng
của địa phương, cũng như nhu cầu vốn ngoại tệ phục vụ kinh doanh xuất
nhập khẩu hàng hoá có thể đưa ra những kỳ hạn khác nhau về vốn huy
động nội tệ và các ngoại tệ một cách hợp lý với các mức lãi suất huy động
mà người gửi tiền có thể chấp nhận được và Ngân hàng sử dụng cho vay
đầu tư đối với các đối tượng khách hàng vẫn đảm bảo lợi nhuận. Thông qua
đó mà NHTM đạt được kỳ hạn vốn huy động đối với các loại ngoại tệ cần
hàng. Ngược lai, chi nhánh nào có khó khăn trong huy động vốn,
lãi suất huy động vốn cao thì sẽ đáp ứng bằng nguồn vốn điều hoà
tới mức cần thiết.
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
18
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
• Chỉ tiêu nhận vốn từ quỹ điều hoà: quỹ điều hoà của Ngân hàng
được hình thành từ nguồn vốn đi vay, tài trợ, các quỹ bằng tiền mặt
dùng vào kinh doanh, các nguồn vốn chưa sử dụng của Ngân hàng
và các chi nhánh chuyển về, các nguồn vốn sau này sau khi đã trừ
di quỹ đảm bảo thanh toán, dữ trữ bắt buộc…số còn lại được sử
dụng vào mục đích trực tiếp kinh doanh tại hội sở chính và bổ sung
cho các chi nhánh theo nguyên tắc ổn định, có kỳ hạn.
Trên đây là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn,
thực hiện đầy đủ các chỉ tiêu trên giúp cho NHTM thu được kết quả trong
hoạt động vốn, đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh trong nền kinh tế.
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn.
a. Nhân tố khách quan.
Nền kinh tế là một hệ thông bao gồm nhiều loại hoạt động kinh tế có
liên quan biện chứng tác động lẫn nhau. Sự biến động vủa một hoạt động
kinh tế đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực còn lại.
Hoạt động của các NHTM được coi là chiêc cầu nối giữa các lĩnh vực kinh
tế khác nhau trong nền kinh tế. Do vậy, sự ổn định hay bất ổn hay bất ổn,
sự tăng trưởng nhanh hay chậm của nền kinh tế đều tác động mạnh mẽ tới
Ngân hàng.
Môi trường chính trị
Đó là tình hình chính trị do nhà cầm quyền quy định, và từ đó sẽ có
những chính sách, những điều luật khác nhau với những bộ máy cầm
quyền khác nhau. Không một quốc gia nào có thể phát triển nếu môI
trường chính trị không ổn định. Sự ổn định của chính trị tác động mạnh mẽ
xuất phát triển nó sẽ tạo đIều kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường
tốt để Ngân hàng có thể huy động từ các nguồn nhàn rỗi trong nền kinh tế
bằng cách thu hút tiền gửi hoặc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu. Các nguồn
này thường ổn định có thể huy động với chi phí không cao.Ngược lại nền
kinh tế trong giai đoạn suy thoái thì khả năng thu hút vốn và hoạt động sử
dụng vốn sẽ gặp nhiều khó khăn, sản xuất bị kìm hãm, lạm phát gia tăng sẽ
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
20
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
gây ảnh hưởng xấu đến quá trình tạo vốn, ảnh hưởng đến cơ cấu và chất
lượng nguồn vốn. Cụ thể là: tỷ lệ lạm phát cao làm đồng tiền mất giá, khi
đó người dân sẽ không gửi tiền vào Ngân hàng mà họ sẽ mua hàng hoá dự
trữ. ĐIều đó làm giảm khoản mục tiền gửi của NHTM. Hơn nữa ngân hàng
phải bỏ chi phí cao hơn, nguồn huy động lại không ổn định, do đó nguồn
vốn mà Ngân hàng huy động được là kém chất lượng.
Môi trường văn hoá:
Môi trường văn hoá bao gồm phong tục, tập quá, thói quen của một
quốc gia được cấu thành từ quá khứ, kéo dài sang hiện tại. Tất cả cũng sẽ
ảnh hưởng đến việc huy động vốn, cơ cấu nguồn vốn của các NHTM. Đặc
biệt tập quán tiêu dung ảnh hưởng đến một cách rõ rệt. Nếu ở những vùng
dân cư người ta quen sủ dụng tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ là chính
thì việc huy động tiền gửi của Ngân hnàg gặp nhiều khó khăn. Ngược lại, ở
những vùng mà người dân có nhu cầu hưởng lãi hoặc bảo quản tài sản thì
họ gửi tiền vào Ngân hàng nhiều hơn, do đó tiền gửi Ngân hàng sẽ tăng lên.
Các nước phát triển thì người dân có thói quen gửi tiền vào Ngân hàng để
hưởng những tiện ích, dịch vụ của Ngân hàng và trong tiềm thức của họ
việc đó không thể thiếu được trong cuộc sống, nhưng ở những nược đang
phát triển như Việt nam thì thói quen sử dụng tiền mặt vẫn còn rất phổ
biến, do dó việc thu hút nguồn vốn của Ngân hàng thưong mại còn hạn chế
nguồn từ dân cư. Như vậy môI trường văn hoá, tâm lý thói quen, tiêu dùng
hình ảnh của Ngân hàng. Thái độ phục vụ thân thiện, chu đáo của nhân
viên giao dịch, hệ thống thanh toán được bố trí một cách khoa học là những
đIều cần thiết để giữ vững khác hàng và có thêm những khách hàng mới.
Năng lực và trình độ cán bộ Ngân hàng.
Nếu Ngân hàng có đội ngũ cán bộ có trình độ năng lực, quản lý tốt về
mặt nhân sự thì trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, Ngân hàng
dự đoán được rủi ro xảy ra, dự doán được môt trường đầu tư của mình có
hiệu quả hay không, nắm bắt được những biến đổi của thị trường một cách
nhanh chóng để có thể tư vấn cho khách hàng của mình nên đầu tư vào đâu
có hiệu quả nhất. Mặt khác, do quản lý tốt nên trong quá trình hoạt động
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
22
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
Ngân hàng đảm bảo được an toàn vốn, tăng uy tín, từ đó có điều kiện thu
hút khách hàng gửi tiền cũng như vay tiền.
Lãi suất huy động vốn
Đối với người gửi tiền là các doanh nghiệp, họ gửi tiền vào Ngân hàng
với mục đích thanh toán thì lãi suất không phải là vấn đề họ quan tâm lớn
nhất đó là việc sử dụng các dịch vụ từ Ngân hàng và loại tiền gửi này gọi
là tiền gửi không kỳ hạn. Bên cạnh tiền gủi không kỳ hạn thì vốn huy động
của Ngân hàng bao gồm cả tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp và tiền
gửi tiết kiệm của dân cư. Bộ phận này gửi tiền vào Ngân hàng với mục đích
hưởng lãi suất là vấn đề họ rất quan tâm và bộ phận này rất nhạy cảm với
lãi suất.
Để tạo được nhiều vốn đáp ứng được nhu cầu sử dụng của mình, các
NHTM phải có chính sách lãi suất hợp lý sao cho lãi suất huy động vừa
đảm bảo kích thích người gửi tiền vừa phù hợp với lãI suất cho vay. Hiện
nay, một số Ngân hàng để thu hút khách hàng gửi tiền cũng như vay tiền đã
sử dụng chính sách lãi suất rất linh hoạt, chia nhỏ lãi suất theo thời hạn
khác nhau. Tuy nhiên, sự tăng giảm này chỉ giới hạn trong một biên độ
Trình độ công nghệ của Ngân hàng bao gồm cơ sở vật chất phục vụ
Ngân hàng, các loại hình dịch vụ Ngân hàng cung ứng, trình độ nghiệp của
cán bộ, nhân viên Ngân hàng. Cơ sở vật chất của Ngân hàng khang trang
hiện đại, công nghệ tiên tiến mang lại lợi ích thiết thực cho kinh doanh, tạo
điều kiện thuận lợi phục vụ khách hàng. Thực tế khách hàng sẽ yên tâm
hơn khi gửi vào Ngân hàng có trình độ công nghệ hiện đại, và khi khách
hàng đã thực sự yên tâm gửi tiền thì Ngân hàng dễ dàng trong việc huy
động vốn.
Chương 2
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HÀ THÀNH.
2.1. Khái quát về Ngân hàng đầu tư Hà thành.
2.1.1. Sự ra đời và quá trình phát triển của chi nhánh Hà thành.
SV: Trịnh Thanh Kim Huệ Lớp: 50151
24
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Tài Chính
Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng ĐT-PT Hà
Thành một phần gắn liền với sự ra đời và phát triển của Ngân hàng đầu tư
và phát triển Việt nam. Do vậy, trước hết chúng ta sơ qua quá trình hình
thành và phát triển của Ngân hàng ĐT-PT Việt nam như sau:
Giai đoạn 1957-1994: Đây là giai đoạn hình thành và phát triển của
Ngân hàng đầu tư phát triển Việt nam.
Ngày 26/4/1957, Thủ tướng chính phủ ký nghị định 177-TTG thành
lập ‘Ngân hàng kiến thiết Việt nam’ tại Bộ tài chính thay thế cho ‘Vụ cấp
vốn kiến thiết cơ bản’. Ngân hàng có nhiệm vụ chủ yếu là thanh toán và
quản lý vốn do Nhà nước cấp cho kiến thiết cơ bản, nhằm thực hiện các kế
hoạch phát triển và hỗ trợ công cuộc chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc.
Năm 1957-1981, Ngân hàng là một cơ quan của Bộ tàI chính. Bờy
giờ, hoạt động của Ngân hàng nặng nề về kiểm soát và thanh toán các công
trình xây dựng cơ bản hơn là cho vay, nặng nề đánh giá và quản lý trước và